ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
============***============
NGUYỄN PHƯƠNG HẢI
Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm
2006
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ QUANG HIỂN
HÀ NỘI - 2007
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Vũ Quang Hiển.
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm
bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày
tháng
đoạn, từng thời kỳ.
Hiện nay, cách mạng Việt Nam đang đứng trƣớc một thời kỳ mới, thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện
đại. Đứng trƣớc tình hình quốc tế và trong nƣớc có nhiều diễn biến phức tạp
chứa đựng cả thuận lợi và thách thức, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi chúng
ta cần giải quyết, đỏi hỏi chúng ta cần triển khai chiến lƣợc cán bộ đạt hiệu
2
quả cao, đáp ứng đƣợc yêu cầu cấp bách trƣớc mắt và mục tiêu lâu dài của sự
nghiệp cách mạng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đánh dấu bƣớc ngoặt có ý
nghĩa chiến lƣợc trong quá trình cách mạng ở nƣớc ta. Tại đại hội, Đảng ta đã
nghiêm túc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm khẳng định những thành
tựu và đề ra các quan điểm, phƣơng hƣớng, chủ trƣơng đổi mới toàn diện
trong đó "Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà
Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách
mạng"[33;262]. Đại hội chỉ rõ: nhất thiết phải đổi mới công tác cán bộ và đổi
mới đội ngũ những ngƣời làm công tác cán bộ.
Qua thực tiễn đến Đại hội VII Đảng ta lại khẳng định "Tiếp tục đổi
mới công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và kế tục sự
nghiệp của công cuộc cách mạng"[29;304]. Điều này đã đƣợc báo cáo của
BCH Trung ƣơng Đảng tại đại hội X tiếp tục nhấn mạnh "Bƣớc tiến của công
cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc một phần rất quan trọng
vào ý chí và năng lực tổ chức thực hiện trong đó nhân tố con ngƣời - cán bộ,
công chức nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống công quyền và của
doanh nghiệp có vị trí quyết định".
Vĩnh Bảo là một huyện ngoại thành của thành phố Hải Phòng, là
và những thông tin có giá trị, một cách nhìn tổng quát cho việc nghiên cứu
đề tài "Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2006". Tuy nhiên cho đến nay vẫn
chƣa có công trình nào trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo trong xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở một
cách toàn diện, cả những thành công và tồn tại, cũng nhƣ kinh nghiệm của
Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo trong qúa trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
cấp cơ sở thời kỳ này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
5
+ Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo(Hải Phòng) đối với công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của huyện trong 10 năm từ năm 1996-2006.
+ Thực tiễn công tác chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở của Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo từ năm 1996 đến năm 2006.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung và không gian nghiên cứu:
Quá trình Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo thực hiện đƣờng lối đổi mới của
Đảng rất phong phú và toàn diện, luận văn này không đi sâu nghiên cứu tất
cả các mặt, các lĩnh vực mà chỉ nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ
huyện trong xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
"Cán bộ cấp cơ sở" là khái niệm có nội hàm rộng, luận văn chỉ đi sâu
nghiên cứu: đội ngũ cán bộ cấp xã, thị trấn, cán bộ trong một số cơ quan điển
hình trực thuộc quản lý của Đảng bộ huyện (đội ngũ cán bộ công an, trƣờng
học, trung tâm y tế huyện) và cán bộ trong các phòng ban của huyện.
+ Về mặt thời gian:
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu trong 10 năm từ năm 1996 đến năm
lịch sử, phƣơng pháp lô gíc, phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng
pháp thống kê, phƣơng pháp điều tra xã hội học và sự kết hợp của các
phƣơng pháp trên. Trong đó phƣơng pháp quan trọng là phƣơng pháp lịch
sử và phƣơng pháp lôgíc.
- Nguồn tư liệu:
Nguồn tƣ liệu là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho tính khả thi của
một luận văn. Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở các nguồn tƣ liệu
chủ yếu sau:
7
+ Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
đặc biệt là các nghị quyết về công tác cán bộ (NQ Trung ƣơng 3 khoá VII,
NQ Trung ƣơng 3 và NQ Trung ƣơng 7 khoá VIII).
+ Những Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng bộ thành phố Hải
Phòng về công tác tổ chức và cán bộ.
+ Nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu là các
Quyết định, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo trong quá trình
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
+ Ngoài ra là báo cáo của các chi bộ cơ sở, các cơ quan, ban ngành
trong qúa trình thực hiện sự lãnh đạo và các bài viết về cán bộ và công tác
cán bộ đăng trên các tạp chí (Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản, Tạp
chí Lịch sử Đảng).
6. Đóng góp của luận văn
- Cung cấp một cách có hệ thống những tƣ liệu cơ bản về quá trình
lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ của huyện Vĩnh Bảo giai đoạn 1996-2006.
- Trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo đối với việc lãnh
đạo công tác cán bộ thời kỳ 1996 - 2006 qua đó nêu lên những thành tựu đạt
đƣợc và hạn chế cần khắc phục, rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây
1.1.1. Vài nét về huyện Vĩnh Bảo
* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vĩnh Bảo là huyện nằm ở phía tây nam thành phố Hải Phòng, với diện
tích tự nhiên là 180.5 km2, dân số 19 vạn ngƣời trong đó 6% là đồng bào
theo đạo thiên chúa, bao gồm 29 xã và 1 thị trấn. Vĩnh Bảo là một huyện xa
trung tâm thành phố, bao quanh là các con sông nhƣ: Sông Hoá, sông Luộc
và sông Thái Bình đó là ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Bảo với các huyện
Ninh Giang,Tứ Kỳ (Hải Dƣơng); Quỳnh Phụ (Thái Bình); và Tiên Lãng (Hải
Phòng). Vĩnh Bảo có một mạng lƣới giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi: ở vị trí
tiếp giáp với ba tỉnh, thành phố; Vĩnh Bảo là điểm nối Hải Phòng- Thái Bình
- Hải Dƣơng, một vùng rất quan trọng trong tam giác châu thổ Bắc Bộ; quốc
lộ 10 từ Ninh Bình đi Nam Hà, Hải Phòng, Quảng Ninh qua Vĩnh Bảo - con
đƣờng chiến lƣợc nối liền các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ; quốc lộ 17 A dài 25
km chạy dọc huyện cắt đƣờng 10 tại thị trấn Vĩnh Bảo.
Vĩnh Bảo có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển các
loại cây trồng. Đất đai ở Vĩnh Bảo do phù sa bồi đắp nên rất màu mỡ thuận
lợi cho việc phát triển sản xuất nông ngiệp. Nguồn nƣớc rất dồi dào đƣợc
cung cấp bởi hệ thống sông bao bọc xung quanh huyện.Với khí hậu của miền
nhiệt đới gió mùa. Nguồn tài nguyên thiên nhiên đó đã tạo nên thế mạnh kinh
tế cơ bản của huyện là trồng lúa nƣớc lâu đời và một số loại cây cônng
10
nghiệp ngắn ngày nổi tiếng nhất là cây thuốc lào, cây cói. Trong nhân gian
còn lƣu truyền câu “Cói làng Bào, thuốc lào Cổ Cát”
Có thể nói, Vĩnh Bảo là huyện thuần nông, kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu nên cộng đồng dân cƣ chủ yếu là nông dân. Họ chính là những ngƣời đã
khai thiên lập địa tạo nên mảnh đất trù phú này, họ là những ngƣời chiến đấu
giỏi, lao động tốt, thâm canh giỏi.
lập huyện Vĩnh Bảo. Qua nhiều thời kỳ Vĩnh Bảo đƣợc mở rộng đến 11 tổng.
Năm 1952, Vĩnh Bảo đƣợc sát nhập vào tỉnh Kiến An. Tháng 11 - 1963, Hải
Phòng và Kiến An hợp nhất, Vĩnh Bảo thuộc thành phố Hải Phòng.
Vĩnh Bảo là vùng đất có truyền thống đấu tranh bảo vệ quê hƣơng đất
nƣớc đã đƣợc lịch sử ghi nhận. Suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc, ngƣời Vĩnh Bảo đã thƣờng xuyên cầm vũ khí tham gia chống ngoại
xâm và bảo vệ đất nƣớc. Thời nào ở Vĩnh Bảo cũng xuất hiện những nhân
vật tiêu biểu, những anh hùng của miền quê giàu truyền thống viết lên những
trang sử vẻ vang của dân tộc. Từ thời Hùng Vƣơng nhân dân trong vùng đã
đứng lên dƣới cở khởi nghĩa của Tƣớng Cao Sơn (Thắng Thuỷ) chiến đấu
giữ đất giữ làng. Vào đầu công nguyên (40-42), tham gia vào cuộc khởi
nghĩa của 2 Bà Trƣng chống đô hộ của nhà Hán có Tri Quốc Đạo
Duyên,Thanh Tịnh Long (Lý Học), Phạm Đàm (Tam Đa). Ở thế kỷ VI, có
Trƣơng Cao Lang (Vinh Quang) đã cùng nhiều trai cháng trong vùng tham
gia khởi nghĩa của Lí Bí đánh đuổi giặc Lƣơng.Vào thế kỷ XI, nhân dân
Vĩnh Bảo đã tập hợp dƣới trƣớng của Vi Thủ An, Lý Cƣơng và Lý Bảo tham
gia chống quân Tống xâm lƣợc. Đặc biệt là trong cuộc chiến đấu chống quân
xâm lƣợc Nguyên- Mông ở thế kỷ XIII, ngƣời dân Vĩnh bảo đã đóng góp rất
nhiều sức ngƣời, sức của tiêu biểu là đô đốc Hoa Duy Thanh (Đồng Minh),
Vũ Đăng Dung (Vĩnh Tiến), Lƣơng Toàn (Giang Biên), Nguyễn Chính (Việt
Tiến).
12
Cùng nhân dân cả nƣớc, trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, nhân
dân Vĩnh Bảo đã làm lên truyền thồng quí báu, một sức mạnh vô địch. Sức
mạnh ấy, truyền thống ấy đƣợc rèn luyện thử thách qua hàng ngàn năm lịch
sử. Đó là truyền thống lao động cần cù, thông minh, năng động, sáng tạo,
không chịu làm nô lệ, đoàn kết tƣơng thân, tƣơng ái, tình làng nghĩa xóm,
cơ sở, đảng viên quốc dân Đảng đều nổi dậy nhƣng nhanh chóng bị dập tắt.
Ngày 15-12-1930, cuộc nổi dậy của Việt Nam Quốc dân Đảng đã diễn ra ở
Vĩnh Bảo do ông Trần Quang Quanh trực tiếp chỉ huy. Hàng ngàn nông dân
trong huyện với vũ khí thô sơ theo các cánh quân khởi nghĩa từ nhiều ngả
đƣờng đánh chiếm huyện đƣờng. Binh lính ở huyện đƣờng hoảng hốt bỏ
chạy, huyện lỵ lọt vào tay quân khởi nghĩa.
Dƣới ảnh hƣởng của phong trào yêu nƣớc và đấu tranh ở nhiều nơi
trong nƣớc và sự tuyên truyền giác ngộ của các hội viên cách mạng thanh
niên, các tầng lớp nhân dân huyện Vĩnh Bảo ngày càng thấy rõ bộ mặt áp bức
bóc lột của địa chủ và thực dân đã tự nguyện đoàn kết đấu tranh chống sƣu
cao thuế nặng, chống chiếm đoạt ruộng đất: đó là các cuộc đấu tranh đòi
giảm thuế, giảm nợ lãi của nhân dân các làng Cổ Am, Liên Am, Từ Lâm, Lý
Nhân vào cuối năm 1928. Nhân dân vùng Dƣơng Am, Ngải Am, Bào Am
năm 1929 đấu tranh thắng lợi chống bọn quan lại, địa chủ. Tiếp đó là cuộc
đấu tranh đòi vay thóc chống đói của nhân dân Cổ Am, đòi chủ ruộng tăng
công ngày mùa, chống giãn thợ ngày thƣờng của nông dân Ngải Am vào năm
1933. Những cuộc đấu tranh của nông dân về kinh tế tuy còn ít, thắng lợi
không lớn nhƣng nó đã thể hiện sức mạnh của nhân dân.
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đáp ứng đòi hỏi của
lịch sử lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Ở các tỉnh,
thành phố các tổ chức cơ sở Đảng lần lƣợt ra đời.
Ở Vĩnh Bảo, từ cuối năm 1936, với sự thắng lợi của mặt trận nhân dân
Pháp nhiều tù chính trị đƣợc trả tự do đã tiếp tục chắp nối với Đảng và trở về
14
quê vận động, xây dựng phong trào cách mạng. Tiêu biểu là các đồng chí:
Nguyễn Văn Ngọ (Cộng Hiền) là tỉnh uỷ viên Thài Bình đã bị bắt sau khởi
nghĩa ở Tiền Hải (Thái Bình) năm 1930 và các ông: Nguyễn Văn ƣớc (Tiên
phong trào mà Đảng ta khởi xƣớng và lãnh đạo.
Tháng 8 năm 1938, phong trào đấu tranh của nhân dân huyện Vĩnh
Bảo đòi tự do, dân chủ, cơm áo hoà bình đã phát triển mạnh mẽ ở vùng lục
tổng có ảnh hƣởng lớn trong huyện và trong khu vực. Những đảng viên cộng
sản tuy chƣa có tổ chức đảng ở huyện nhƣng đã bám sát chủ trƣơng của Đảng
giáo dục, tập hợp quần chúng trong mặt trân đấu tranh chống đế quốc, phong
kiến. Trƣớc đòi hỏi cần phải có một tổ chức cơ sở đảng ở Vĩnh bảo, đƣợc sự
chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc Kỳ, ngày 8-8-1938, Chi bộ Cộng sản Việt Nam huyện
Vĩnh Bảo đƣợc thành lập. Chi bộ Đảng cộng sản ra đời đã đáp ứng yêu cầu
của phong trào quần chúng đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng trong quá trình
đấu tranh cách mạng của nhân dân Vĩnh Bảo.
Dƣới sự lãnh đạo của Đảng Bộ huyện Vĩnh Bảo, trong hơn 60 năm qua
nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã cùng nhân dân cả nƣớc đánh thắng 2 cuộc xâm
lƣợc của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và đang phấn đấu cùng cả nƣớc ra sức
xây dựng CNXH.
1.1.2. Tình hình cán bộ của huyện trƣớc năm 1996
Tháng 7 năm 1954, với Hiệp định Giơnevơ đƣợc ký kết, cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc và can thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã
giành đƣợc thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi
cả nƣớc vẫn chƣa hoàn thành. Miền Bắc đƣợc hoàn toàn giải phóng, song
miền Nam vẫn còn dƣới ách thống trị của thực dân tay sai. Ngay sau khi giải
phóng miền Bắc khẩn trƣơng bắt tay vào khôi phục kinh tế, hàn gắn vết
thƣơng chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cách mạng
dân tộc, dân chủ nhằm tạo tiền đề đƣa miền Bắc từng bƣớc quá độ lên CNXH.
Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị (9-1954) và các Nghị quyết của
Trung ƣơng Đảng, Tỉnh uỷ Kiến An đã đề ra nhiệm vụ: phải ra sức phục hồi
16
17
chủ chốt cấp huyện uỷ, đảng uỷ khu phố và thị xã đã đề ra nhiệm vụ “Củng
cố và hoàn thiện một bƣớc quan hệ sản xuất XHCN, tăng cƣờng cải tiến quản
lý kinh tế, quản lý xã hội. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp….”[30;15]
Thực hiện Nghị quyết trên của thành phố, trong các ngày từ 15 đến 17
tháng 8 năm 1975, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV đƣợc triệu
tập. Đại hội đã khẳng định những thành tích đáng tự hào của Đảng bộ và
nhân dân huyện trong những năm chống Mỹ cứu nƣớc và đề ra những nhiệm
vụ cơ bản trong những năm trƣớc mắt “Động viên toàn đảng, toàn dân phát
huy tinh thần cách mạng tiến công, thi đua hăng say lao động, đẩy mạnh các
mặt sản xuất, phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá giáo
dục, từng bƣớc cải thiện đời sống nhân dân…. Làm tốt công tác xây dựng
đảng, phát huy năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, tăng cƣờng hiệu lực
quản lý và điều hành của chính quyền…”.
Thực hiện chủ trƣơng của Đảng bộ huyện các cán bộ, đảng viên đã
cùng nhân dân trong huyện bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ và quyết tâm
hoàn thành. Mặc dù những năm này thiên tai liên tục xảy ra nhƣng nhờ sự cố
gắng cao của nhân dân nên sản xuất nông nghiệp của huyện đều vƣợt kế
hoạch, năng suất và sản lƣợng đều tăng. Các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn
thể, các ban ngành tập trung chỉ đạo và tiến hành ổn định trật tự trị an, bảo vệ
Đại hội đảng các cấp và tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất.
Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố về xây dựng đảng, xây
dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phổ biến Nghị quyết 211- NQ/TW của Bộ
Chính trị về cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới tới cán bộ của huyện; sơ
kết phong trào tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết 23 (5-9-1975) của
Trung ƣơng Đảng, Đảng bộ huyện Vĩnh Bảo đã mở đợt tự phê bình và phê
bình mới, xây dựng điển hình tiên tiến đợt 1. Tiêu biểu là tổng kết quá trình
19
thị trấn tiến hành đánh giá phân tích sâu sắc về thực trạng tổ chức cơ sở đảng
và đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều yếu kém, chƣa hoàn thành tốt nhiệm
vụ là hạt nhân lãnh đạo trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, lãnh đạo sản
xuất, tổ chức tốt đời sống nhân dân và công tác xây dựng Đảng nên tiêu cực
xã hội phát sinh, tài sản xã hội chủ nghĩa bị mất mát lớn, số chi bộ yếu kém
mất đoàn kết tăng lên.
Phần lớn cán bộ, đảng viên không tiến kịp yêu cầu, kiến thức quản lý
kinh tế, khoa học kỹ thuật còn hạn chế, ý chiến đấu và phẩm chất đạo đức
cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị giảm sút có ngƣời không
còn xứng đáng với danh hiệu đảng viên. Một số cán bộ, đảng viên có chức,
có quyền dựa vào uy tín của đảng và chính quyền để xâm phạm lợi ích của
nhân dân, coi thƣờng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc, độc đoán,
quan liêu xa rời quần chúng, gây mất đoàn kết nội bộ và tổn hại đến lợi ích
chung.
Bên cạnh việc tổng kết những thành tựu và yếu kém, Đảng bộ huyện
đã đƣa ra những biện pháp khắc phục những yếu kém và nâng cao chất lƣợng
tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tập trung nâng cao chất
lƣợng sinh hoạt chi bộ, quản lý rèn luyện cán bộ, đảng viên coi trọng 3 nội
dung: bàn nhiệm vụ chính trị, học tập chính sách, đấu tranh tự phê bình và
phê bình chuẩn bị mọi điều kiện để tiến hành nhiệm vụ giữa nhiệm kỳ.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác này, Đảng bộ huyện tổ chức
đợt học tập trong toàn đảng bộ. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên đƣợc dự các lớp
bồi dƣỡng kiến thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp, về tình hình và nhiệm
vụ trong giai đoạn mới. Sau đợt học tập này, các chi bộ đã tiến hành phân
loại cán bộ, đảng viên biểu dƣơng khen thƣởng những cán bộ, đảng viên tiền
phong, gƣơng mẫu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từng bƣớc đội ngũ cán bộ,
cán bộ giáo viên vẫn kiên trì rèn luyện phấn đấu giữ vững phẩm chất đạo đức
cách mạng, yêu nghề của ngƣời thầy giáo. Các đơn vị tiên tiến của các ngành
21
đều có mặt mạnh tiêu biểu về chất lƣợng giáo dục toàn diện”. Tuy nhiên vẫn
còn bộc lộ nhiều thiếu sót nhƣợc điểm. Huyện uỷ đã chủ trƣơng:
- Tiếp tục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên về vai trò và vị
trí của công tác giáo dục.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ trong ban giáo dục.
- Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ giáo viên.
- Tổ chức tốt đời sống cán bộ giáo viên
Trong hệ thống bệnh viện của huyện đội ngũ cán bộ cũng đƣợc bồi
dƣỡng và tăng cƣờng nhằm nâng cao chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh và nhu
cầu khám bệnh của nhân dân trong toàn huyện. Đời sống vật chất của các cán
bộ, bác sỹ, y tá cũng đƣợc đặc biệt quan tâm hơn. Nhiều cán bộ bác sỹ, y tá
trẻ có thành tích phấn đấu tốt đã đƣợc kết nạp đảng.
Có thể nói sau 10 năm đất nƣớc đƣợc giải phóng, nhân dân Vĩnh Bảo
dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện thực hiện chủ trƣơng của Đảng và Nhà
nƣớc đã đạt đƣợc nhiều thành tích quan trọng: đời sống nhân dân ngày càng
đƣợc cải thiện. Bộ mặt nông thôn thay đổi khá hơn. Các công tác xây dựng
đảng, chính quyền và vận động chính quyền và vận động quần chúng có
nhiều tiến bộ đáp ứng đƣợc yêu cầu mới.
Bên cạnh những thành tích trong kinh tế thì công tác cán bộ của huyện
cũng đạt đƣợc một số thành tựu có thể nói rằng đây là một trong những
nguyên nhân mang lại thắng lợi của huyện trong quá trình lãnh đạo phát triển
kinh tế, văn hoá- xã hội. Đội ngũ cán bộ cơ sở của huyện đã ý thức đƣợc
nhiệm vụ của mình trong giai đoạn mới chuyển từ lãnh đạo toàn dân kháng
chiến sang xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Họ thƣờng xuyên trau dồi kiến thức
Nguyên nhân của tình trạng này một phần do quá trình chuyển từ trạng
thái có chiến tranh sang trạng thái hoà bình nên tính chất công việc và nhiệm
vụ lãnh đạo đã thay đổi trong khi đội ngũ cán bộ, đảng viên hầu hết là đội
ngũ lãnh đạo trong kháng chiến nên quá trình thích ứng với nhiệm vụ mới
23
còn chƣa kịp thời. Thứ hai, là do trình độ văn hoá của đội ngũ cán bộ lúc đó
còn thấp nên những ứng dụng mới trong quản lý, sản xuất gặp nhiều khó
khăn. Những hạn chế này dần đƣợc khắc phục trong quá trình thực hiện
đƣờng lối đổi mới toàn diện của Đảng.
Vận dụng Nghị quyết của Đại hội Đảng VI, và Đại hội Đảng bộ thành
phố. Năm 1987, huyện uỷ Vĩnh Bảo ra Nghị quyết về nhiệm vụ công tác
năm, nêu rõ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng
đảng. Nhờ đó những năm 1986-1991, tình hình nông nghiệp, nông thôn đã có
những chuyển biến mới: gia đình xã viên từng bƣớc trở thành hộ sản xuất
kinh doanh. Vai trò của hợp tác xã cũng có sự thay đổi, Đảng bộ huyện triển
khai trên diện rộng việc thành lập các chi bộ cơ sở. Sau đó rút kinh nghiệm
tiếp tục củng cố kiện toàn chi bộ cho phù hợp với tình hình và cơ chế sản
xuất mới ở nông thôn.
Từ năm 1987, thực hiện Nghị quyết 34/NQ-TW khoá V của Bộ Chính
trị về “Tập trung sắp xếp, kiện toàn lại bộ máy Đảng, bộ máy quản lý Nhà
nƣớc làm rõ nhiệm vụ, chức năng, giảm đầu mối, tình giảm biên chế gián
tiếp, tăng cƣờng cán bộ cho cấp cơ sở”.
Huyện uỷ Vĩnh Bảo chỉ đạo sâu sát quyết tâm làm giảm gọn các đầu
mối trƣớc hết là ở các phòng ban từ 18 phòng ban xuống còn 14 phòng ban;
chuyển hàng trăm cán bộ, nhân viên hành chính sang sản xuất, kinh doanh.
Bộ máy gián tiếp của hợp tác xã nông nghiệp đƣợc tinh giảm 30%, công tác
cán bộ có sự đổi mới và đƣợc tiêu chuẩn hoá sắp xếp lại tiếp tục đƣợc đẩy