Báo chí với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
TRẦN THỊ THU THỦY
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở CƠ SỞ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN TUẤN PHONG HÀ NỘI – 2008
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Trag
1. Lý do chọn Đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

ĐẢNG, TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC TUYấN TRUYỀN VỀ VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG ĐNCB LĐ-QL Ở CƠ SỞ
32
2.1.Chức năng, nhiệm vụ của tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ
chức Nhà nước
32
2.1.1. Về tạp chí Cộng sản
34
2.1.2. Về tạp chí Xây dựng Đảng
35
2.2.3. Về tạp chí Tổ chức Nhà nước
35
2.2. Tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước tuyên
truyền về vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
34
2.2.1. Về số lượng
34
2.2.2. Về nội dung
38
2.2.3. Về hình thức
50
2.2.4. Đội ngũ tham gia tuyên truyền
74
2.3. Một số nhận xét đánh giá về chất lượng và hiệu quả tuyên truyền
về xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở
75
2.3.1. Ưu điểm

chí
107
3.2.5. Làm tốt công tác bạn đọc và công tác tuyên truyền cho tạp chí
110
3.2.6. Phương pháp tổ chức, thực hiện khoa học.
114
KẾT LUẬN
118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122
PHỤ LỤC
129
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
(theo thứ tự ABC) 1. CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2. CS : Cộng sản
3. ĐNCB : Đội ngũ cán bộ
4. HĐND : Hội đồng nhân dân
5. LĐ-QL : Lãnh đạo, quản lý
6. UBND : Uỷ ban nhân dân
7. TCNN : Tổ chức Nhà nước
8. XDĐ : Xây dựng Đảng

nhấn mạnh đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của ĐNCB, đảng
viên ở cơ sở.
Trong quá trình xây dựng ĐNCB và ĐNCB LĐ-QL từ trung ương đến cơ sở
có thể nói báo chí có vai trò quan trọng. Ở chỗ, báo chí có thể thông tin kịp thời với
nhiều nội dung phong phú để đưa nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà 2

nước vào cuộc sống, đến với ĐNCB và ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Qua báo chí, các cơ
sở, ĐNCB và ĐNCB LĐ-QL có thể được tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp kinh
nghiệm nhiều mặt mà bất kỳ một trường học nào hay thực tiễn dù là phong phú đến
đâu ở từng nơi không thể bao quát được.
Tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước là cơ quan ngôn luận
của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ có
chức năng tuyên truyền lý luận, chính trị và hướng dẫn nghiệp vụ công tác tổ chức
cán bộ của Đảng, Nhà nước… Từ năm 1997, khi có Nghị quyết Trung ương 3 (khóa
VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, cỏc tạp chí trờn đã tích
cực góp phần đưa nghị quyết chuyên về công tác cán bộ vào cuộc sống. Mỗi tạp chí,
theo cách của mình, đều cố gắng phản ánh toàn diện công tác xây dựng đảng, công
tác cán bộ, công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Nhìn chung, các tác phẩm
báo chí trên ba tạp chí đã phản ánh chân thực thực tiễn; thông tin về các vùng miền
của tổ quốc; chú ý đổi mới cách thể hiện tác phẩm báo chí… Tuy nhiên, so với yêu
cầu của thực tiễn, thông tin xung quanh vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở
trên cả ba tạp chí, ở các mức độ khác nhau đều chưa đáp ứng yêu cầu (chưa bám
chắc, phản ánh sâu sắc các góc độ của công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở;
chưa có nhiều bài viết mang tính tổng kết kinh nghiệm; rất ít bài viết đấu tranh, phê
phán cái xấu, hình thức thể hiện chưa sinh động, hấp dẫn…). Vì vậy, nghiên cứu đề
tài Báo chí với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, qua
đánh giá đúng thực trạng chất lượng nội dung và hình thức các tác phẩm báo chí

thực tiễn, trên cả lĩnh vực báo chí và công tác xây dựng đảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác tuyên truyền về xây dựng
ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở trên ba tạp chí, chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm của hoạt
động này. Từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về
xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở trên ba tạp chí này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, những quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở; chủ trương,
chính sách, sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cơ quan LĐ-QL báo chí, cơ quan 4

chủ quản báo chí, các tòa soạn về định hướng tuyên truyền xây dựng ĐNCB LĐ-QL
ở cơ sở.
- Phân tích vai trò, ý nghĩa, tác động của việc truyên truyền xây dựng ĐNCB
LĐ-QL ở cơ sở trên tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng và Tổ chức Nhà nước.
- Đánh giá thực trạng chất lượng tuyên truyền về xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở
cơ sở trên ba tạp chí đã nêu và hiệu quả, tác động của nó đối với việc xây dựng
ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Qua đó rút ra kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng tuyên truyền về xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm báo chí trên Tạp chí Cộng sản, Xây
dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước (in) tuyên truyền về vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL
ở cơ sở (xã, phường, thị trấn).
- Đối tượng khảo sát: Khảo sát nội dung, hình thức của những tác phẩm báo
chí đã in trên tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước tuyên truyền về
vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy

đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu Luận văn.
Ngoài các phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
Luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Báo chí với vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
Chương 2: Thực trạng tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước
tuyên truyền về vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền về xây dựng
ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở trên tạp chí Cộng sản, Xây dựng Đảng, Tổ chức Nhà nước. 6

CHƯƠNG 1
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐNCB LĐ-QL Ở CƠ SỞ
1.1. CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở CƠ SỞ
1.1.1 Khái niệm về cán bộ; cán bộ LĐ-QL.
Khái niệm về cán bộ:

các nguồn khác. Cán bộ được hình thành từ dân cử, bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, bổ
nhiệm.
Khái niệm về cán bộ LĐ-QL:
Khái niệm về lãnh đạo: Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức,
động viên thực hiện. Hoạt động lãnh đạo chủ yếu là định hướng khách thể thông
qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách [42, tr.524].
Khái niệm về quản lý: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định [42, tr.772].
Hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết
chế có tính pháp lệnh được quy định từ trước.
Cán bộ LĐ-QL là ai? Theo tư tưởng của C.Mác và Ăng-ghen: Người cán bộ
lãnh đạo hay còn gọi là lãnh tụ cách mạng phải là những người nổi bật với các tiêu
chuẩn sau: Người mang lý tưởng cách mạng sâu sắc, có tri thức toàn diện và uyên
thâm ở trình độ của thời đại mình, thống nhất trong mình cả tư cách nhà khoa học
và tư cách người chiến sĩ cách mạng nhiệt thành. Là “công bộc” của nhân dân, có
nghĩa vụ cao cả trước nhân dân; được nhân dân tín nhiệm.
Theo Lênin cán bộ LĐ-QL có những tiêu chí sau: Là một nhóm ít người, có
tính chất ổn định trong Đảng Cộng sản; là những người có uy tín nhất, có ảnh
hưởng nhất, có kinh nghiệm nhất; được bầu ra từ tổ chức chính trị-xã hội; giữ
những trách nhiệm trọng yếu.
Theo Hồ Chí Minh: Cán bộ lãnh đạo phải làm gương mẫu, phải cải tiến
phương pháp công tác, phải ra sức phát huy trí tuệ và tinh thần sáng tạo của quần
chúng công nhân. Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Cán bộ lãnh đạo phải thật
sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. 8

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: ĐNCB LĐ-QL giữ một vị trí quan
trọng,ngoài những tiêu chuẩn chung về phẩm chất, năng lực, phải nhạy bén về chính

9

Cán bộ LĐ-QL ở cơ sở là ai?: Có quan niệm cho rằng cán bộ LĐ-QL ở cơ sở
gồm các chức danh bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó
chủ tịch UBND cùng các chức danh chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và trưởng các đoàn
thể nhân dân.
Có quan niệm lại cho rằng, cán bộ LĐ-QL là cán bộ chủ chốt gồm các chức
danh bí thư đảng ủy, chủ tịch HĐND và chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn.
Như vậy, quan niệm về cán bộ LĐ-QL ở cơ sở hoặc cán bộ chủ chốt chưa rõ
ràng. Cũng qua tìm hiểu, chưa thấy có văn bản nào mang tính pháp quy, quy định rõ
cán bộ LĐ-QL ở cơ sở gồm các chức danh nào. Song, từ khái niệm về cán bộ LĐ-
QL nói chung, có thể hiểu cán bộ LĐ-QL ở cơ sở là những người giữ vị trí quyết
định trong cơ quan đảng, chính quyền. Trong khuôn khổ, phạm vi đã định, đề tài
xác định đề cập, nghiên cứu đến nhóm cán bộ LĐ-QL ở cơ sở với sáu chức danh
chủ chốt của hệ thống đảng, chính quyền là: bí thư, phó bí thư đảng ủy; chủ
tịch, phó chủ tịch HĐND; chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn.
Đây là nhóm cán bộ LĐ-QL giữ cương vị chỉ huy trong điều hành công việc; là
những người được quyền ra các quyết định quản lý, tổ chức, điều hành những người
dưới quyền thực hiện công việc tại cấp xã, phường, thị trấn.
Bí thư đảng ủy: Là người chịu trách nhiệm chính về toàn bộ hoạt động của
đảng bộ.
Phó bí thư đảng ủy: Là người chịu trách nhiệm chính về công tác xây dựng
đảng, một số nơi phó bí thư trực tiếp làm trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm uỷ ban
kiểm tra của đảng ủy và phụ trách khối đoàn thể; theo dõi công tác quản lý và phân
công công tác cho đảng viên ở các chi bộ; chỉ đạo công tác văn phòng của đảng ủy,
công tác tài chính của đảng bộ.
Chủ tịch HĐND: Có trách nhiệm nghiên cứu, nắm vững các chỉ thị, nghị
quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng vào thực tiễn địa
phương; chủ động đề xuất với ban thường vụ và đảng ủy những chủ trương, biện
pháp thực hiện các nhiệm vụ chính trị, củng cố tổ chức và nâng cao năng lực lãnh đạo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là nơi gần gũi nhân dân nhất,
là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”
[29, tr.371]. Xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở trực tiếp thi hành đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và địa phương, có chức năng quản lý hành
chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, an
ninh, quốc phòng. 11

Cơ sở là nơi gần dân nhất, là cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân,
là cấp tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp trên xuống tận
nhân dân. Hoạt động của xã, phường, thị trấn gắn trực tiếp với nhân dân, chăm lo
đời sống nhân dân về mọi mặt; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền
làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc
sống của cộng đồng dân cư.
Xã, phường, thị trấn được xem như những tế bào quan trọng của hệ thống tổ
chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước. Xét về mặt tổ chức đảng, đảng bộ (chi bộ)
đóng vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, đảm bảo các hoạt động đi đúng đường lối,
quan điểm của Đảng, Nhà nước. Thông qua các hoạt động của đảng bộ (chi bộ) xã,
phường, thị trấn mà Đảng được dân tin, dân yêu.
Cơ sở hoạt động có hiệu quả, hiệu lực là đảm bảo quan trọng cho hoạt động
của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước, là điều kiện tiên quyết, bảo đảm phát huy
quyền tự do dân chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ ở cơ sở. Xã, phường, thị trấn
có mạnh thì quận, huyện; tỉnh, thành và cả nước mới mạnh.
Vai trò, vị trí của ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở:
Lênin khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được
quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh
tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong
trào” [57, tr.473].

điều khiển các hoạt động của đảng bộ, chính quyền, có tác động trực tiếp và quyết
định đến sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, an ninh,
quốc phòng Chủ trì toàn bộ các công việc của cấp ủy, HĐND, UBND. Cán bộ
LĐ-QL là trung tâm đoàn kết trong đảng bộ mà trực tiếp là đảng ủy, HĐND,
UBND, đồng thời là nguồn cán bộ bổ sung cho cấp trên trực tiếp.
Cán bộ LĐ-QL được giao những thẩm quyền, trách nhiệm nhất định. Thẩm
quyền càng cao thì trách nhiệm càng nặng nề. Do đó, có thể nói, cán bộ LĐ-QL là
những người đứng mũi chịu sào, những người chèo lái công việc tại cơ sở mình phụ
trách. Thực tế cho thấy, cơ sở nào có ĐNCB LĐ-QL tốt, đủ năng lực điều hành thì
hoạt động mọi mặt của địa phương đạt hiệu quả cao.
1.1.3. Vai trò, vị trí của công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
Vai trò, vị trí:
Trong quá trình hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lý luận các nhà kinh điển
chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến các khía cạnh của công tác xây dựng ĐNCB. 13

Các-Mác, Ăng-ghen, Lênin đã khẳng định, muốn có cán bộ tốt phải đào tạo, bồi
dưỡng, giáo dục, rèn luyện, tạo ra những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có phong cách làm việc khoa học, có
năng lực công tác tốt để đảm nhiệm trọng trách. Trong điều kiện Đảng cầm quyền,
có nhiều thuận lợi để xây dựng ĐNCB có đức, có tài. Lênin cho rằng, khi đã có
đường lối, nghị quyết đúng, cần đặc biệt chú ý đến việc trọng dụng nhân tài để lựa
chọn, tuyển dụng được nhiều cán bộ tốt. Người cho rằng: "Nghiên cứu con người,
tìm những cán bộ có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mọi
mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [57, tr.449]. Để có được những cán
bộ như thế, phải rất công phu, thận trọng và nhẫn nại tìm tòi, thử thách, rèn luyện
cán bộ, sau đó mới đề bạt họ vào cương vị lãnh đạo. Lênin nhấn mạnh: Chúng ta
cần phải lựa chọn cán bộ phụ trách và ở đây không thể là vấn đề không tín nhiệm

Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VIII, chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước được xây dựng, trong đó khẳng định: Cán bộ là nhân tố
quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất
nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Với nhận thức
sâu sắc về vai trò của ĐNCB và công tác xây dựng ĐNCB cơ sở, Chiến lược cán bộ
của Đảng đã xác định mục tiêu: Xây dựng ĐNCB các cấp từ Trung ương đến cơ sở,
đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững
vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã
hội. Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm xây dựng ĐNCB cách
mạng thời kỳ CNH, HĐH đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Đại hội IX tiếp tục nhấn mạnh: Sau khi có đường lối đúng đắn, phẩm chất và
năng lực của cán bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định, không những quyết định việc
tổ chức thực hiện thành công mà còn quyết định cả mối quan hệ gắn bó giữa Đảng
với nhân dân. Đồng thời đề ra nhiệm vụ; xây dựng ĐNCB, trước hết là cán bộ LĐ-
QL ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối
sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân.
Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội VIII và Đại hội IX của Đảng, nhiều nghị quyết
chuyên đề, các quy định, quy chế về công tác cán bộ và về hệ thống chính trị cơ sở
đã được xây dựng và liên tục bổ sung, hoàn chỉnh nhằm nâng cao tính hiệu quả,
đồng bộ của công tác cán bộ, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xây dựng ĐNCB của 15

Đảng. Đặc biệt, công tác cán bộ trên các mặt quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đánh
giá, tuyển dụng… đã có nhiều bước tiến mới, thể hiện tính chuyên nghiệp và hệ
thống.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đề ra hệ thống các giải pháp nhằm tiếp tục

sở, từ đó làm căn cứ cho những nội dung của công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL cơ
sở.
Thứ tư, căn cứ vào thực trạng của ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở và thực trạng của
công tác xây dựng đội ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở hiện nay - yếu tố giúp đánh giá được
những điểm mạnh, điểm yếu, những lợi thế và những tồn tại của ĐNCB LĐ-QL ở
cơ sở và công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở, từ đó tiếp tục xác định được
phương hướng điều chỉnh và xây dựng những nội dung, quy trình đối với công tác
cán bộ cơ sở.
Từ căn cứ trên, công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở là toàn bộ hoạt
động của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các cơ quan tham mưu và các cơ quan có
liên quan đến các khâu tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân
chuyển, đề bạt, sử dụng, quản lý, chế độ chính sách đối với cán bộ. Những mặt đó
được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, cụ thể hóa những tiêu chuẩn chung cho cán bộ cấp cơ sở, đặc biệt
là cán cán bộ LĐ-QL được quy định trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII),
Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tiêu chuẩn chung
đối với cán bộ, công chức cấp xã, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ
ngày 16/01/2004 về ban hành những tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ công chức xã,
phường, thị trấn
Xác định được tiêu chuẩn cán bộ một cách đúng đắn mới có thể xây dựng
được một ĐNCB tốt vì tiêu chuẩn cán bộ chính là những quy định chuẩn, là căn cứ
để tiến hành công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL cơ sở ở các khâu: đào tạo, bồi
dưỡng, đánh giá, tuyển chọn, bố trí, đề bạt, luân chuyển v.v.
Thứ hai, tiến hành đánh giá và lựa chọn cán bộ: Đánh giá cán bộ là khâu mở
đầu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Đối với cán bộ LĐ-QL thì đánh
giá là cơ sở để lựa chọn, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm đúng người, đúng việc.
Đánh giá cán bộ đúng mới có thể phát huy được năng lực của từng cán bộ và cả
ĐNCB. Ngược lại đánh giá không đúng sẽ dẫn đến lựa chọn nhầm những cán bộ
không đủ phẩm chất, năng lực để giao việc, dẫn đến hỏng việc, hỏng người, gây tổn
thất cho tổ chức, địa phương, đơn vị, thậm chí ảnh hưởng đến phạm vi cả nước.

vụ đã đào tạo, kinh nghiệm thực tiễn đã tích lũy. Đề bạt cán bộ vào vị trí LĐ-QL ở
cơ sở phải đảm bảo đúng người, đúng việc, đảm bảo cương vị công tác tương ứng
với phẩm chất đạo đức và tài năng của cán bộ. 18

Thứ sáu, thực hiện tốt các chính sách và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ LĐ-
QL cấp cơ sở: Chính sách phải đồng bộ trên tất cả các mặt của công tác cán bộ từ
đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, tuyển chọn và chính sách bảo đảm về lợi ích
vật chất, tinh thần. Chính sách phù hợp sẽ tạo ra tính tích cực, hăng hái của ĐNCB
LĐ-QL đương chức trong phấn đấu nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc.
Đồng thời thu hút nguồn lực cán bộ trẻ, có trình độ là nguồn cán bộ LĐ-QL kế cận. Như vậy, Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản
Việt Nam thống nhất quan điểm ở những vấn đề chung nhất về cán bộ, cán bộ LĐ-
QL, cán bộ cơ sở và công tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở, như: Khái niệm về
cán bộ, cán bộ LĐ-QL; vai trò, vị trí của cán bộ LĐ-QL ở cơ sở; ý nghĩa của công
tác xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở.
Có thể thấy, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Đảng ta luôn coi trọng
công tác cán bộ, rất chú ý đến ĐNCB LĐ-QL, nhất là ở cơ sở. Và trong từng thời
điểm khác nhau, có những chủ trương, chính sách phù hợp để xây dựng ĐNCB LĐ-
QL ở cơ sở vững mạnh: Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII), yêu cầu các toàn Đảng,
toàn dân phải xây dựng được chiến lược về cán bộ đáp ứng thời kỳ đẩy mạnh CNH-
HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh đến ĐNCB cơ sở. Và trong các nghị quyết tiếp
theo của các kỳ Đại hội Đảng đều coi trọng đến công tác xây dựng ĐNCN LĐ-QL ở
cơ sở như Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X)
đã quán triệt cụ thể, rõ ràng những yêu cầu đối với công tác xây dựng ĐNCB ở cơ
sở trong toàn Đảng, toàn dân.

nhu cầu của công nhân, về việc sắp xếp công tác tuyên truyền cổ động, về quan hệ
trong xã hội… về những sự hiểu lầm, về nhu cầu, những kháng nghị của họ… Lần
khác, Lênin lại nhấn mạnh: Vai trò của tờ báo không chỉ đóng khung ở chỗ phổ biến
tư tưởng, giáo dục chính trị tư tưởng và thu hút bạn đồng minh chính trị, tờ báo
không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể mà còn là người tổ chức
tập thể, nhờ có tờ báo và gắn liền với tờ báo sẽ hình thành, nó không những chỉ làm
công tác địa phương mà còn làm những nhân viên của nó quen việc theo dõi chăm
chú những biến cố chính trị, đánh giá ý nghĩa của những biến cố ấy và ảnh hưởng
của những biến cố ấy đến các tầng lớp khác nhau trong nhân dân, vạch cho Đảng
cách mạng những phương pháp hợp lý để tác động đến những biến cố ấy. Rõ ràng,

Trích đoạn Vai trò của báo chí trong tuyên truyền về vấn đề xây dựng ĐNCB LĐ-QL ở cơ sở. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Bộ Biên tập, Ban Biên tập Hiện nay, tạp chí Cộng sản có mô hình Bộ Biên tập, tạp chí Xây dựng Nâng cao chất lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên Đội ngũ phóng viên, biên tập viên là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước toà soạn về việc Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, mạnh dạn giao nhiệm vụ và tin tưởng Có kế hoạch và phương pháp thực hiện khoa học Trên cơ sở kế hoạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status