LUẬN VĂN:
Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh
Bắc Kạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo,
trong những năm qua nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đưa đất nước từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới
thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
giữ vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị cơ sở; là cầu nối có hiệu quả nhất giữa Đảng,
Nhà nước và nhân dân; là người trực tiếp chỉ đạo giải quyết những vấn đề cụ thể nẩy sinh
trong hoạt động thực tiễn ở cơ sở. Để thực hiện được đúng vị trí, vai trò là cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở, đòi hỏi họ phải thực hiện tốt những nguyên tắc cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Trong đó, có nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi, như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ đảng viên: "Thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận
suông" [43, tr.496].
Nhận thức được tầm quan trọng này, kể từ khi thành lập tỉnh đến nay, Đảng bộ tỉnh
Bắc Kạn đã lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện tốt các mục tiêu
kinh tế - xã hội đề ra, đạt được nhiều thành tích trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương. Những thành quả này đều có sự góp sức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được còn bộc lộ những hạn chế nhất định.
Đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt bất cập trước yêu cầu đổi mới; thiếu và yếu cả về phẩm chất
chính trị, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, trình độ lý luận, trình độ trí tuệ và cả năng
lực chuyên môn. Đội ngũ này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trưởng thành
chủ yếu thông qua thực tiễn, chưa được đào tạo một cách có hệ thống, thiếu trình độ lý
luận. Những hạn chế này, đã trực tiếp gây tác hại lớn trong quá trình thực hiện công cuộc
đổi mới hiện nay, làm cho chất lượng, hiệu quả hoạt động thực tiễn không cao, chưa đáp
ứng được đòi hỏi yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Một trong những nguyên nhân gây ra hạn chế này là do đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn còn mắc bệnh kinh nghiệm trong nhận thức và chỉ
đạo thực tiễn.
Để đáp ứng với yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đội ngũ này phải không ngừng
học tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó cần phải nâng cao trình độ lý luận; thực hiện
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Để trên cơ sở đó họ có thể tổ chức thực
tiễn phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả trên địa bàn tỉnh.
Tác giả Võ Thị Bích trong luận văn thạc sĩ "Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở Long An" (năm 2001), đã tìm hiểu tương đối có hệ thống về bệnh kinh
nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Long An. Tuy nhiên, luận văn này tập trung
vào đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Long An - một tỉnh của đồng bằng sông Cửu
Long - với những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khá đặc biệt so với Bắc Kạn. Do vậy,
việc tìm hiểu bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở ở
Bắc Kạn - một tỉnh miền núi Đông Bắc của Tổ quốc - vẫn là mảng trống cần tiếp tục
nghiên cứu làm sáng tỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ bản chất, biểu hiện cơ bản, nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn, đề xuất một số giải
pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Phân tích làm rõ bản chất của bệnh kinh nghiệm nói chung.
- Phân tích làm rõ biểu hiện đặc thù cũng như nguyên nhân chủ yếu của bệnh kinh
nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả bệnh
kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn hiện nay (xã, phường, thị trấn). Có 18 chức danh, nhưng luận văn chỉ
tập trung vào các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư; Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND; Chủ
tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ
sở tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
- Thời gian từ 2005 đến nay.
người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Nhận thức không phải là một hành động tức thời,
giản đơn, máy móc, thụ động mà là một quá trỡnh biện chứng. Quỏ trỡnh nhận thức diễn
ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn. Đó cũng là quá trỡnh nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém
sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn. V.I.Lênin trong Bỳt ký triết học đó chỉ ra biện chứng của
quỏ trỡnh nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chõn lý, của sự nhận
thức thực tại khách quan” [29, tr.179]. Như vậy, trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là
hai giai đoạn nhận thức có đặc tính khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau trong quỏ trỡnh nhận
thức. Kết quả quỏ trỡnh đó đem lại cho con người những tri thức ở những trỡnh độ khác nhau.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai trỡnh độ khác nhau của nhận
thức nhưng thống nhất với nhau và bổ sung cho nhau, thâm nhập lẫn nhau. Nhận thức kinh
nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý
tớnh, tuy chỳng cú quan hệ với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, bởi trong nhận
thức kinh nghiệm đó bao hàm yếu tố lý tớnh. Do đó, có thể coi kinh nghiệm và lý luận là
những bậc thang của lý tớnh, nhưng khác nhau về trỡnh độ, tính chất phản ánh hiện thực.
Nhận thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ quan sát và thực nghiệm, trên cơ sở đó
tạo thành tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm nẩy sinh một cách trực tiếp từ thực
tiễn – từ lao động sản xuất, từ hoạt động cải tạo chính trị - xó hội, hoặc từ thực nghiệm
khoa học. Tri thức kinh nghiệm đóng vai trũ quan trọng đối với nhận thức và hoạt động
thực tiễn của con người. Nếu không có tri thức kinh nghiệm thỡ sẽ khụng cú tri thức lý
luận. Tri thức kinh nghiệm cũn là cơ sở để con người khái quát nhằm bổ sung, phỏt triển lý
luận. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm cũn hạn chế, bởi nó mới đem lại sự hiểu biết về các
mặt riêng rẽ, các mối liên hệ bên ngoài của sự vật. Như Ph.Ăngghen đó khẳng định: “Sự
quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất
yếu” [40, tr.718]. Ở trỡnh độ tri thức thức kinh nghiệm, con người chưa thể nắm được cái
tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng. Nếu chỉ đơn thuần
sử dụng tri thức kinh nghiệm để xử lý cụng việc thỡ nhất định sẽ kém hiệu quả. Tri thức
kinh nghiệm chỉ có thể giải quyết được những công việc cụ thể trong những trường hợp cụ
vật, hiện tượng. Kinh nghiệm có ưu thế ở chỗ, nó phản ánh sinh động, trực tiếp sự vật, hiện
tượng. Tuy nhiên, với tính chất phản ánh đó tác dụng của kinh nghiệm là có hạn, giá trị
của khái quát kinh nghiệm chưa sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Kinh nghiệm
là tốt, là quí báu song kinh nghiệm có hạn chế của nó, chẳng qua chỉ là từng bộ phận, chỉ
thiên lệch về một phía mà thôi. Nếu đó cú kinh nghiệm mà lại biết thờm lý luận thỡ cụng
việc tốt hơn nhiều. Dựa vào kinh nghiệm, con người có thể nhận thức được cái riêng từ
những đối tượng trực tiếp cảm tính. Trong cái riêng, kinh nghiệm phản ánh một cách sinh
động, phong phú hơn. Tuy vậy, kinh nghiệm không thể phản ánh được toàn bộ cái riêng
trong sự tồn tại tất yếu của nó. Kinh nghiệm luôn mang tính riêng lẻ của một cá thể, một
nhóm, một giai cấp, một dân tộc, một khu vực, một hoàn cảnh, một thời gian nhất định.
Trong hoạt động thực tiễn đũi hỏi việc tiếp thu, vận dụng kinh nghiệm phải biết chọn lọc,
kế thừa, sỏng tạo và phải cú quan điểm lịch sử - cụ thể. Kinh nghiệm không thể nhận thức
được cái chung trong bản thân một sự vật riêng lẻ nào đó. Trong quá trỡnh phản ỏnh cỏi
chung kinh nghiệm tỏ rừ kộm sõu sắc. Cỏi chung chỉ được biểu hiện trong kinh nghiệm
với tính cách là sự phản ánh lặp đi, lặp lại trên những lớp đối tượng sự vật, hiện tượng
không đồng nhất.
- Kinh nghiệm là điểm xuất phát, là cơ sở ban đầu quan trọng của quá trỡnh nhận
thức.
Kinh nghiệm càng phong phú bao nhiờu thỡ càng tạo ra nhiều dữ liệu, tài liệu cho
khỏi quỏt lý luận bấy nhiêu. Không có kinh nghiệm thỡ khoa học cũng khó mà phát triển
được. Thực tế lịch sử đó chứng minh điều này. Tiến bộ khoa học ngày nay cũng không thể
có được nếu thiếu các ngành khoa học có tính chất thực nghiệm. Bởi kinh nghiệm không
chỉ dừng lại ở kinh nghiệm thông thường, tức là kinh nghiệm thu nhận được từ những quan
sát hàng ngày trong cuộc sống và trong lao động sản xuất mà cũn những kinh nghiệm khoa
học thu nhận được từ những thực nghiệm khoa học. Những kinh nghiệm này là công cụ
sắc bén thúc đẩy nhận thức lên một trỡnh độ cao hơn trong quỏ trỡnh tiếp cận chõn lý. Ph.
Ăng ghen viết: “Trong kinh nghiệm, cái quan trọng chính là trí tuệ mà người ta dùng để
tiếp xúc với hiện thực. Một trí tuệ vĩ đại thực hiện được những kinh nghiệm vĩ đại, và thấy
được cái gỡ là quan trọng trong sự vận động muôn vẻ của các hiện tượng” [40, tr.687].
cơ (1632– 1704)…khi mà khoa học thực nghiệm phát triển và đóng góp tích cực vào cuộc
khám phá những bí mật của các đối tượng vật chất. Đặc điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm ở
Tây Âu thời kỳ này biểu hiện ở chỗ, công nhận tính đúng đắn của các tri thức khoa học
thực nghiệm đó đem lại và tuyệt đối hoá vai trũ của kinh nghiệm, đồng thời phủ nhận tính
phổ biến của tri thức lý luận. Với tư cách là là một trào lưu nhận thức luận tuyệt đối hoá tri
thức kinh nghiệm, đối lập với chủ nghĩa duy lý, thỡ ở nước ta không có chủ nghĩa kinh
nghiệm. Tuy nhiên, bệnh kinh nghiệm ở nước ta cũng mang bản chất của chủ nghĩa kinh
nghiệm - là cường điệu, tuyệt đối hoá tri thức kinh nghiệm, coi thường tri thức lý luận.
Đặc điểm của bệnh kinh nghiệm ở cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở ở
nước ta cơ bản là gắn bó chặt chẽ với bệnh giáo điều, chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng
gia trưởng, phong kiến, phong tục tập quán lạc hậu, cường điệu kinh nghiệm chiến tranh.
Biểu hiện cơ bản của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp
cơ sở ở nước ta là không đánh giá đúng vai trũ của tri thức lý luận, coi thường hạ thấp lý
luận; lối suy nghĩ giản đơn, áng chứng, đại khái, thiếu lôgíc, thiếu hệ thống, hướng vào quá
khứ là chủ yếu; cỏch làm việc mũ mẫm, tuỳ tiện. Nhận thức và vận dụng tri thức vào thực
tiễn đều chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân.
Do vậy, xét về bản chất, hai khái niệm “bệnh kinh nghiệm” và “chủ nghĩa kinh
nghiệm” ở nước ta thường vẫn được sử dụng như nhau, song giữa chúng có sự khác biệt.
Khi dùng khái niệm: “chủ nghĩa kinh nghiệm” là muốn đề cập đến một khuynh hướng
trong lý luận nhận thức cho rằng, kinh nghiệm là nguồn gốc của tri thức, coi nội dung của
tri thức chỉ là sự mô tả của kinh nghiệm đó. Khi dùng khái niệm: “bệnh kinh nghiệm” là đề
cập đến những sai lầm trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, đó là do con
người đó tuyệt đối hoá vai trũ của kinh nghiệm, hạ thấp vai trũ của lý luận. Khỏi niệm
“bệnh” ở đây cần được hiểu như một trạng thái tư tưởng không lành mạnh, biểu hiện bằng
những thái độ không đúng đắn như tuyệt đối hóa kinh nghiệm; coi thường, hạ thấp lý luận,
không đánh giá đúng vai trũ đội ngũ trí thức, ngại học tập; phong cách làm việc luộm
thuộm, tùy tiện, sự vụ,v.v
1.1.2. Đặc trưng hoạt động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp
cơ sở tỉnh Bắc Kạn
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và tổ chức thực
hiện nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xó hội ở địa phương đó đề ra, đồng thời là
những người: “đứng mũi chịu sào”, chịu trách nhiệm chính trước Đảng, trước nhân dân.
Cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chổt cấp cơ sở là những người đứng đầu quan trọng
nhất trong bộ máy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức
đoàn thể, chính trị – xó hội ở cấp cơ sở; có tác dụng chính, chi phối việc chấp hành chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thông qua việc lónh đạo
và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xó hội trờn địa bàn mỡnh quản lý. Đội ngũ cán
bộ này cũn tạo nờn những thành tựu, cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị, góp
phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước. Thực tế hiện nay một số xó, nhất là
cỏc xó vựng sõu, vựng xa diễn ra tỡnh trạng cỏc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước thực hiện không đến nơi, đến chốn, thậm chí gây hậu quả xấu, ảnh hưởng không tốt
đến phát triển kinh tế, giữ gỡn an ninh, trật tự an toàn xó hội trờn địa bàn.
Đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở vững mạnh sẽ là một trong
những nguồn cán bộ quan trọng cung cấp cho Đảng và Nhà nước. Đề cập đến vấn đề này,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khẳng định: cấp cơ sở không những là cái khâu liên hệ mà là cái
kho dồi dào cho Đảng lấy thêm lực lượng mới. Cấp cơ sở lại là môi trường quan trọng tạo
điều kiện cho cán bộ rèn luyện và trưởng thành. Hiện nay, một số địa phương trong đó có
tỉnh Bắc Kạn chưa thấy được hết vị trí chiến lược của cấp cơ sở, nên không ít người đó coi
cấp cơ sở là thấp kém, là không có tiền đồ trong tương lai. Vỡ thế, họ khụng tõm huyết,
phấn khởi nhiệt tỡnh khi được thuyên chuyển, luân chuyển đi công tác tác ở cấp cơ sở,
thậm chí họ cũn nộ trỏnh, thoỏi thỏc khi được tổ chức phân công đến công tác tại cơ sở xó,
phường, thị trấn.
Cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở được xác định và bao gồm các chức
danh sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ
tịch UBND.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và nhân dân giao phó, đội ngũ cán bộ
lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là bộ phận quan trọng trong
Đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ đổi mới, trước những hoàn cảnh và
tỡnh thế mới đũi hỏi đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở phải có trỡnh độ
và hiểu biết toàn diện trên mọi lĩnh vực, khụng chỉ cú trỡnh độ chuyên môn nghiệp vụ,
trỡnh độ lý luận chính trị mà cũn phải cú kiến thức quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa, xó hội, vi tớnh…Có khả năng tiếp nhận và xử lý thụng tin nhạy bộn
phục vụ cho cụng tỏc lónh đạo, quản lý ở cơ sở; đồng thời qui tụ được quần chúng tin
tưởng vào sự lónh đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Có như vậy mới
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay.
1.1.2.2. Đặc trưng hoạt động cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở
Cấp cơ sở là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổ chức mọi hoạt
động kinh tế, văn hoá, xó hội ở địa phương, bảo đảm an ninh quốc phũng, trật tự an toàn
xó hội; là nơi kiểm nghiệm, phản ánh cung cấp một cách khách quan những căn cứ cho
việc bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trớ, vai trũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở, luôn tăng cường xây dựng, củng cố, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này. Về lý luận
cũng như về mặt thực tiễn đều khẳng định, cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở có
vững mạnh thỡ địa phương, quốc gia mới vững mạnh được.
Cỏn bộ lónh đạo, chủ chốt cấp cơ sở là những cán bộ gần dân nhất, đặc biệt họ
trực tiếp tiếp xúc với bà con nông dân. Đa số họ là những người sinh ra, lớn lên và trưởng
thành từ cơ sở, từ chính quê hương mỡnh. Do vậy, họ là những người hiểu quần chúng
nhân dân, hiểu tâm tư, nguyện vọng, thuận lợi, khó khăn của quần chúng nhân dân; hiểu
phong tục, tập quán, địa bàn mà họ phụ trách. Họ gắn bó với cơ sở. Đặc thù của cán bộ
lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là khi giải quyết những công việc lớn, nhỏ họ vừa là
cỏn bộ lónh đạo, quản lý, lại vừa là một công dân với những mối quan hệ nhiều chiều
trong tổ, thôn, khu phố, tổ dân phố nên cách làm việc của họ phải bảo đảm thấu tỡnh, đạt
lý. Đồng thời, họ lại là những người đại diện cho Đảng và Nhà nước để lónh đạo bà con
nông dân phát triển kinh tế - xó hội, xây dựng Đảng, bảo đảm an ninh, chính trị - xó hội,
xây dựng nông thôn mới ở cơ sở. Chính đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ
sở là những người làm cho ý Đảng, lũng dõn được thống nhất; làm cho Đảng và Nhà nước
địa phương. Tất cả mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nuớc từ Trung
ương đến địa phương có trở thành hiện thực sống động hay không đều phụ thuộc vào tài
năng, đức độ của đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở. Nếu cỏn bộ lónh
đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở có tài, có đức thỡ sẽ thỳc đẩy phong trào đi lên. Ngược lại
thỡ họ sẽ bị mất uy tín trước nhân dân và cũng đồng nghĩa với việc Đảng bị mất uy tín với
nhân dân và dân sẽ mất lũng tin vào Đảng và Nhà nước.
Đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở cùng Đảng bộ cấp cơ sở xây
dựng những chủ trương, chính sách cụ thể phù hợp với địa phương mỡnh phụ trỏch. Họ là
những người vừa trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách lại vừa
kiểm tra, uốn nắn những khuynh hướng lệch lạc trong quá trỡnh tổ chức thực hiện. Để
hoàn thành được nhiệm vụ chính trị được giao, đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở phải không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện các mặt đức, tài; tiếp thu, cập
nhật những thông tin, những tri thức mới; gạt bỏ những tư tưởng, tâm lý lạc hậu, lối suy
nghĩ giản đơn một chiều, bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều…
1.1.3. Biểu hiện đặc thù của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là một tỉnh nội địa vùng Đông – Bắc, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên,
Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Diện tích tự nhiên 4.857,2 km
2
, trong đó diện tích đất
nông - lâm nghiệp 420.990,5 ha, chiếm 86%, đất rừng chiếm 263.503,9 ha, rừng tự nhiên
chiếm 224.151,4 ha, rừng trồng chiếm 39.352,5 ha, đất chưa có rừng 157.484,6 ha. Dân số
302.786 người, gồm 7 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 61%, Kinh
20%, Dao 9%, Nùng 7%, Mông – Hoa – Sán Chay 3%. Về hành chớnh cú 7 huyện và 01
thị xó với 122 xó, phường, thị trấn (trong đó có 116 xã khó khăn và đặc biệt khó khăn) với
1.389 thôn, bản, tổ dân phố [57, tr.1]. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xó hội trờn địa bàn cũn thấp
kộm; mạng lưới giao thông xuống cấp nghiêm trọng; hệ thống y tế, trường học, thông tin
liên lạc lạc hậu và rất khăn. Bắc Kạn có nhiều tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản, lâm
thổ sản. Nhưng lại là một tỉnh thuần nông, có trên 85% dân số sống chủ yếu bằng nghề
thực tiễn; làm trầm trọng thêm bệnh kinh nghiệm.
Bệnh gia trưởng của người cán bộ lónh đạo, quản lý làm cho cỏn bộ tự cho mỡnh
là “ụng chủ” trong cơ quan, địa phương mỡnh phụ trỏch. Từ đó họ tự cao, tự đại, luôn tự
cho mỡnh cú quyền quyết định mọi vấn đề trong việc thực thi nhiệm vụ chuyên môn theo
kinh nghiệm cá nhân. Sự lónh đạo chính quyền được họ thực hiện giống như “lónh đạo”
gia đỡnh nờn họ khụng chỳ trọng đến ý kiến của tập thể, của cấp dưới và của nhân dân. Họ
coi cơ quan như gia đỡnh mỡnh, nờn đôi khi làm việc cũn tựy tiện. Sự tựy tiện này lại
được củng cố bởi bệnh kinh nghiệm.
Tác phong gia trưởng dễ đưa cán bộ lónh đạo, quản lý đến độc đoán chuyờn quyền,
thực hiện theo kiểu “trờn bảo thỡ dưới phải nghe”, tuân thủ như một “mệnh lệnh”. Tác
phong này thường được ngộ nhận, biện minh như là khả năng quyết đoán, tinh thần “dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” ở người cán bộ lónh đạo, quản lý có năng lực.
Thường đối với người cán bộ lónh đạo, quản lý có tác phong gia trưởng mang hướng tích
cực thỡ họ cú tớnh quyết đoán, có năng lực trong lónh đạo, quản lý. Họ là người có tính
năng động, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm trước tập thể, được hỡnh thành trờn cơ sở
phân tích, đánh giá đúng tỡnh hỡnh thực tiễn, nắm bắt được yêu cầu khách quan của thực
tiễn. Đối lập với tinh thần quyết đoán ấy, người cán bộ lónh đạo, quản lý có tác phong gia
trưởng nhưng mắc bệnh kinh nghiệm lại chủ yếu dựa trên những nhận định, đánh giá, kinh
nghiệm cá nhân, xem thường ý kiến tập thể, mang tính áp đặt chủ quan, một chiều. Do
vậy, về cơ bản quyết định của họ thường không đạt hiệu quả cao, dễ dẫn đến mắc sai lầm
và không được quần chúng nhân dân đồng tỡnh ủng hộ.
Người cán bộ lónh đạo, quản lý mắc bệnh gia trưởng nhưng lại dựa trên bệnh kinh
nghiệm không chỉ độc đoán chuyên quyền trong việc đưa ra các quyết định về phương
hướng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mà cũn độc đoán quyết định phân phối các phương
tiện vật chất và tinh thần cho các cá nhân, đơn vị theo kiểu ban phát bổng lộc, trên cơ sở
kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu. Cách làm này gây tác hại rất lớn đối với tập thể, cơ quan,
đơn vị và đối với toàn xó hội.
Bệnh gia trưởng luôn đi đôi với tư tưởng gia đỡnh chủ nghĩa. Tớnh độc đoán
chuyên quyền và tư tưởng gia đỡnh chủ nghĩa luụn đi đôi với nhau, vừa gắn bó chặt chẽ và
chủ chốt cấp cơ sở Bắc Kạn tự cho mỡnh là cú đủ trỡnh độ, năng lực để đảm nhận công
việc. Vỡ vậy, họ khụng chịu học tập, nõng cao trỡnh độ chuyên môn, nghiệp vụ. Chính vỡ
thế mà bệnh kinh nghiệm và một số căn bệnh khác ở họ thêm trầm trọng, thêm nặng nề.
Cùng với những tư tưởng trọng nam khinh nữ, thỡ tư tưởng coi thường lớp trẻ trong
đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh cũn rất nặng nề. Tư tưởng coi
thường lớp trẻ cũng góp phần làm cho bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản
lý chủ chốt cấp cơ sở Bắc Kạn thêm trầm trọng. Vỡ họ cho rằng, lớp trẻ tuy được đào tạo
cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, có đầy đủ bằng cấp cần thiết, nhưng với lớp trẻ không
có kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống cũng như trong chuyên môn nghiệp vụ, nên họ
không tin tưởng giao cho lớp trẻ những công việc hoặc những trọng trách lớn. Họ luôn
quan niệm rằng, không thể có chuyện: “trứng khôn hơn vịt”. Đúng là con người phải trải
qua quá trỡnh học tập, cụng tỏc mới cú khả năng trưởng thành về mọi mặt. Nhưng lịch sử
đó chỉ rừ vào những lỳc quan hệ trực tiếp đến vận mệnh dân tộc, đất nước nhân dân ta đó
vượt qua được lối suy nghĩ khuôn sáo, xoá bỏ cả giới hạn tuổi tác. Vỡ vậy, những người có
đức, có tài, không kể già trẻ, gái trai đều được chấp nhận. Đó chính là những lúc không
cũn tồn tại quan điểm “sống lâu lên lóo làng” nữa. Những anh hựng dân tộc ở nước ta đó
minh chứng điều đó, trong đó có cả phụ nữ như: Lónh tụ Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Văn
Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…Trong thời bỡnh cũng xuất
hiện nhiều cỏn bộ lónh đạo, quản lý trẻ đầy tài năng trên mọi lĩnh vực. Thực tế cho thấy,
tuổi trẻ cũn cú những mặt hạn chế như chưa có kinh nghiệm thực tiễn, cũn bồng bột, sốc
nổi…nhưng cái vượt trội của tuổi trẻ là năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, quyết
đoán…Do chưa coi trọng lớp trẻ, nên trong cán bộ của ta vẫn cũn thiếu hụt cán bộ trẻ, nhất
là cán bộ trẻ giữ cương vị chủ chốt, nhất là cấp cơ sở miền núi tỉnh Bắc Kạn. Sau những
năm đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng trong công tác cán bộ, nhất là công tác tạo
nguồn cán bộ của cả nước nói chung và Bắc Kạn nói riêng đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản
lý đó được trẻ hoá đáng kể. Tuy nhiên, việc tiếp tục thực hiện công tác trẻ hoá đội ngũ cán
bộ, nhất là cán bộ làm công tác lónh đạo, quản lý vẫn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
Đảng bộ tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
Thứ hai, bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo chủ chốt cấp cơ sở Bắc Kạn
lành tăng 435 hộ so với năm 2006; có 72 điểm nhóm sinh hoạt đạo, trong đó có 8 điểm nhóm
được chính quyền địa phương cho đăng ký sinh hoạt. Trong 72 trưởng nhóm có 2 trưởng
nhóm là đảng viên, 2 công an, 01 đại biểu HĐND và 01 trưởng thôn [55, tr.6].
Bệnh sự vụ, tựy tiện cũn thể hiện ở chỗ, cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ
sở có mặt làm việc tại trụ sở thất thường, lúc trực, lúc không. Nếu họ có mặt làm việc thỡ
lại khụng đúng giờ, không theo lịch quy định. Do vậy, nhiều khi người dân muốn làm việc với
chính quyền, với cán bộ thỡ phải đến tận gia đỡnh, hoặc ra nương rẫy. Thực tế cho thấy, tớnh
sự vụ, tựy tiện cũn biểu hiện rừ trong đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở của
tỉnh Bắc Kạn là ở chỗ, việc tổ chức hội họp thường không đúng giờ, đi muộn về sớm thường
hay xẩy ra, nên đó gõy nhiều phiền toỏi cho dõn. Cú những người dân nhà cách xa UBND xó
hàng mấy chục cõy số, đi bộ đến lấy chữ ký vay tiền, xác nhận lý lịch…rất khó khăn, vỡ
người dân đến rồi, nhưng cán bộ lónh đạo, quản lý chưa đến; hoặc người dân đến rồi chờ mói
đến hết giờ làm việc, thỡ cỏn bộ lónh đạo, quản lý lại không đến. Một số xó vựng sõu, vựng
xa cỏn bộ lónh đạo, quản lý tùy tiện đặt những luật lệ riêng cho địa phương mỡnh, xử lý cụng
việc một cỏch tuỳ tiện, không có văn bản giấy tờ theo đúng thủ tục quản lý hành chính nhà
nước, làm theo kiểu “nặng về tỡnh, nhẹ về lý”, “nhất thõn, nhỡ quen”. Vớ dụ, cỏc nguồn vốn
vay do Ngõn hàng Chớnh sỏch của huyện giải ngõn giỳp cho hộ nghốo vay vốn sản xuất,
thụng qua cỏc Hội như: hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Phụ nữ…thỡ gia đỡnh đầu tiên
được nhận trước hết gia đỡnh và người thân của cán bộ lónh đạo xó. Thậm chớ, cú cỏn bộ
lónh đạo dùng tiền của chương trỡnh 134 cho vào tỳi riờng của mỡnh và bị truy tố phỏp luật.
Thứ ba, bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo chủ chốt cấp cơ sở Bắc Kạn
không chỉ thể hiện ở bệnh sự vụ, tùy tiện, làm việc theo thói quen, theo kinh nghiệm cũ mà
cũn thể hiện ở chỗ, họ có lối suy nghĩ sơ lược, áng chừng, đại khái, thiếu tính hệ thống.
Điều này thể hiện rừ trong các Nghị quyết, kế hoạch, các chương trỡnh - hành động của
Đảng uỷ và UBND cấp xó ở Bắc Kạn. Các văn bản, nghị quyết cũn biểu hiện tính tuỳ tiện,
thể hiện ở chỗ, có những văn bản chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn nhau; giữa chỉ thị của
Bí thư Đảng uỷ và Chủ tịch UBND xó đôi khi cũng thiếu nhất quán, dẫn đến khó khăn
trong quá trỡnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Do thiếu dự kiến nên trong chỉ đạo, hoạt động
thực tiễn chỉ thấy việc trước mắt mà không thấy việc lâu dài; thấy cục bộ, bộ phận mà
TRỌNG CỦA VIỆC NGĂN NGỪA, KHẮC PHỤC NÓ
1.2.1. Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ
chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn
Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cỏn bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Bắc
Kạn có rất nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan; có
những nguyên nhân chung của cả nước nhưng cũng có những nguyên nhân mang tính đặc thù
riêng của tỉnh. Đối với đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý chủ chốt tỉnh Bắc Kạn có những
nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, đời sống đồng bào nhân
dân các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn.
Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lónh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Bắc Kạn là do tỉnh cũn tồn tại trờn cơ sở của một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu, độc canh cây lúa; kinh tế kém phát triển, dân cư phân bố không
đều, trình độ dân trí thấp, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc khó khăn về
nhiều mặt.
Trong những năm 2000–2007 mặc dù tỉnh tập trung chỉ đạo thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội do Đảng bộ tỉnh đề ra. Cụ thể, tỉnh đó đầu tư 422,78 tỷ đồng xây dựng và
nâng cấp 488 công trỡnh thuỷ lợi, kiờn cố hoỏ 389,07 km kờnh mương; nâng diện tích gieo