ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ NỘI
ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP CƠ SỞ
TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
`Ìi`ÊÜÌ
ÊÌ
iÊ`iÊÛiÀÃÊvÊ
vÝÊ*ÀÊ*
Ê
`ÌÀÊ
/ÊÀiÛiÊÌ
ÃÊÌVi]ÊÛÃÌ\Ê
ÜÜܰVi°VÉÕV°
Ì
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ NỘI
ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP CƠ SỞ
TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
nước ta ................................................................................................. 29
1.2.1. Tầm quan trọng của việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm
đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở nước ta ......................... 29
1.2.2. Yêu cầu cơ bản của việc ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm
trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở nước ta ............... 31
Chƣơng 2. ẢNH HƢỞNG CỦA BỆNH KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP CƠ SỞ TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ........................................... 37
2.1. Thực trạng ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay ..................................... 37
2.1.1. Điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên và đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên ............................... 37
2.1.2. Thực trạng ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay ............. 40
2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên ................................................................. 49
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NGĂN NGỪA VÀ KHẮC
PHỤC ẢNH HƢỞNG CỦA BỆNH KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP CƠ SỞ TỈNH THÁI NGUYÊN
HIỆN NAY..……………………………………………………… ...... 68
3.1. Tăng cường phát triển kinh tế - xã hội, từng bước thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở các địa phương tỉnh Thái Nguyên hiện nay ..... ... 68
3.2. Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên
môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở
tỉnh Thái Nguyên hiện nay .................................................................. 80
3.3. Đẩy mạnh dân chủ ở cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngăn ngừa,
khắc phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở
tỉnh Thái Nguyên hiện nay .................................................................. 89
Nhận thức rõ điều này, trong những năm qua, Đảng ta đã rất chú trọng
vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở. Tuy nhiên,
thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở hiện nay nhìn chung
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng, tổng kết vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi
mới (1986-2006), Đảng ta nhận định rằng, đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt bất
cập trước yêu cầu đổi mới, thiếu và yếu cả về phẩm chất chính trị, trình độ trí
1
tuệ, năng lực chuyên môn, họ còn nặng về cảm tính và nhẹ về lý tính. Sự yếu
kém đó thể hiện rõ nhất ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nói
chung trong cả nước. Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ
sở còn thiếu năng lực tư duy biện chứng trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và
tổng kết thực tiễn để rút ra những kinh nghiệm bổ ích nhằm điều chỉnh nhận
thức và hoạt động thực tiễn trong các giai đoạn tiếp theo cho quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình công tác, họ suy nghĩ và hành động theo
lối sự vụ, tuỳ tiện, áng chừng, đại khái, qua loa, gặp đâu hay đó, v.v... Chính
những hạn chế đó đã làm cho hiệu quả thực hiện các đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước chưa được cao, những chương trình phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương mà họ đưa ra cũng chưa thực sự phù hợp với tình hình của
địa phương và do đó đã dẫn đến hậu quả là, kinh tế - xã hội của địa phương
chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Những hạn chế,
khuyết điểm đó của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp cơ sở nước ta có nhiều nguyên nhân, trong đó, một trong những nguyên
nhân quan trọng là sự ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm trong hoạt động lãnh
đạo và tổ chức thực tiễn.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc, mặc dù công nghiệp đã
cơ sở tỉnh Bắc Kạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ Triết học, 2008; Đỗ Thanh
Hiệp: Ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở
tỉnh Cà Mau, Luận văn thạc sỹ Triết học, 2008; v.v... Các tác giả đã tìm hiểu
tương đối có hệ thống về bệnh kinh nghiệm và tư duy kinh nghiệm ở đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở các tỉnh…
Các công trình nghiên cứu ở trên đã khái quát những vấn đề mang tính
lý luận và thực tiễn của kinh nghiệm, tư duy kinh nghiệm và bệnh kinh
nghiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, ở cơ sở nói riêng và
đặc biệt ở một số địa phương như Long An, Bắc Kạn, Cà Mau, v.v... Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề này ở
tỉnh Thái Nguyên cũng như chưa có tác giả nào đưa ra các giải pháp khắc
phục bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở của địa
phương này. Vì thế, việc tìm hiểu ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với
4
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên và đưa ra các
giải pháp khắc phục nó vẫn còn là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ thực trạng ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở Thái Nguyên và nguyên nhân của nó; từ đó đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa, khắc phục ảnh hưởng của bệnh
kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ này ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích làm rõ bản chất của bệnh kinh nghiệm và tầm quan trọng
của việc ngăn ngừa, khắc phục nó đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp cơ sở ở Việt Nam.
- Phân tích làm rõ thực trạng ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp lịch sử - lôgíc; phương pháp điều tra, khảo sát thực tế;
v.v... nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn khái quát một số biểu hiện của bệnh kinh nghiệm, thực
trạng ảnh hưởng của nó đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở
tỉnh Thái Nguyên và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa, khắc phục ảnh
hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ
sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 9 tiết:
6
Chƣơng 1: Bệnh kinh nghiệm - bản chất, tầm quan trọng và yêu cầu
của việc ngăn ngừa, khắc phục nó ở cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở của
Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 2: Ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay - Thực trạng và
nguyên nhân.
Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm ngăn ngừa và khắc phục
ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp cơ sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
7
Chƣơng 1
Nhận thức khoa học thuộc bất kỳ một lĩnh vực nào, nếu được thực hiện ở
mức độ đầy đủ, bao giờ cũng trải qua hai trình độ: kinh nghiệm và lý luận. Các
phương pháp được sử dụng trong nhận thức kinh nghiệm là quan sát và thí
nghiệm, tri thức nhận được từ các dữ kiện thí nghiệm nhờ quan sát và thí
nghiệm, là tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết trực
tiếp về các mối liên hệ, quan hệ bề ngoài của đối tượng. Ở trình độ kinh nghiệm
nhận thức, chưa thể nắm được cái tất nhiên, mối quan hệ bản chất giữa các sự
vật, hiện tượng; chưa phân biệt được cái cơ bản với cái không cơ bản, bản chất
với hiện tượng. Ph. Ăngghen đã từng chỉ rõ: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm,
tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [35, tr.718].
Nếu giáo điều hoá kinh nghiệm, thì không tránh khỏi những sai lầm của chủ
nghĩa chủ quan, thực dụng, thiển cận và sớm muộn cũng sẽ thất bại trong hoạt
động thực tiễn. Vì thế, nhận thức chân lý không thể dừng lại ở kinh nghiệm mà
phải chuyển lên trình độ nhận thức lý luận. Nhận thức lý luận là nói đến vai trò,
năng lực của tư duy lý luận trong việc đi sâu nắm bắt cái tất nhiên. Chỉ có nhận
thức bằng tư duy lý luận mới có thể phát hiện ra bản chất thực sự, sự phát triển
biện chứng của sự vật, tri thức có được dưới hình thức những hiểu biết khái quát
về khách thể trong tính khách quan cụ thể của nó, “trong tính tất yếu của nó,
trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó”
[21, tr.227], là tri thức lý luận. Phạm vi ứng dụng và áp dụng tri thức lý luận
rộng hơn rất nhiều so với tri thức kinh nghiệm. Lý luận hình thành được là
nhờ vào tổng kết kinh nghiệm, các tri thức kinh nghiệm giữ vai trò là cơ sở
cho sự khái quát lý luận. Đồng thời, những dữ kiện mới phát hiện được qua
quan sát, thí nghiệm cũng đặt ra cho lý luận nhiều vấn đề mới, đòi hỏi lý luận
phải tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh.
Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ của một hoạt động nhận thức
khoa học thống nhất. Chúng bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫn nhau khiến cho
nhận thức có thể nắm được chân lý trong tính khách quan, cụ thể và chỉnh thể
9
10
nhiều, càng phong phú thì càng tạo ra cơ sở ban đầu quan trọng cho sự phát
triển lý luận. Vì vậy, kinh nghiệm có vai trò hết sức quan trọng. Thiếu kinh
nghiệm, không xuất phát từ kinh nghiệm, tách khỏi kinh nghiệm, lý luận sẽ
trở thành ảo tưởng, hoang đường, không phục vụ được gì cho hoạt động thực
tiễn của con người, có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong đường lối, chủ
trương, chính sách của một chế độ xã hội. Khẳng định tầm quan trọng của
kinh nghiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đem thực tế trong lịch sử,
trong kinh nghiệm trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh kỹ lưỡng, rõ
ràng làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh trong thực tế” [37, tr.233].
Cần chú ý thêm là, lý luận thực sự khoa học khi nó được khái quát từ
kinh nghiệm thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng
kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự
nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [41, tr.497]. Lý luận được
hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, song không phải cứ có
kinh nghiệm thực tiễn là hình thành lý luận. Lý luận được hình thành thông
qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các nhà lý luận. Vì thế, lý
luận không thể ra đời một cách tự phát mà là kết quả tích cực, tự giác của tư
duy và lý luận luôn được bổ sung, phát triển bằng những kinh nghiệm tổng
kết thực tiễn mới, phong phú hơn. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, do tính độc
lập tương đối của nó, với sức mạnh nội tại đặc thù của mình, lý luận có thể đi
trước những dữ liệu thực tiễn, vượt trước kinh nghiệm, nhưng xét đến cùng,
lý luận không thể không dựa trên cơ sở của thực tiễn. Ở mọi giai đoạn của
lịch sử, cả lý luận và kinh nghiệm đều có những trình độ khác nhau, tức là có
kinh nghiệm tiền khoa học và kinh nghiệm khoa học cũng như có lý luận
trước khoa học và lý luận khoa học. Còn tư duy khoa học (cả kinh nghiệm và
lý luận) là bước phát triển cao của nhận thức. Vì thế, khi đánh giá vai trò của
không phải là sự phản ánh một cách thụ động mà là sự phản ánh một cách tích
cực, chủ động của con người đối với thế giới khách quan.
Xét về mặt lịch sử, nội dung của kinh nghiệm luôn có tính lịch sử cụ thể.
Kinh nghiệm cũng phản ánh trình độ hoạt động thực tiễn và nhận thức của con
12
người ở một giai đoạn, một thời điểm lịch sử nhất định. Thế hệ trước truyền lại
cho thế hệ sau những kinh nghiệm đã có. Thế hệ sau kế thừa những kinh nghiệm
của thế hệ trước để lại và làm giàu thêm kho tàng kinh nghiệm quý báu ấy. Tất
yếu, kho tàng tri thức của nhân loại không phải chỉ có những tri thức kinh
nghiệm mà còn có cả những tri thức lý luận.
Xét về bản chất, kinh nghiệm có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, tri thức kinh nghiệm là tri thức mang tính trực quan cảm tính vì
đây là một dạng tri thức được thu nhận và tích luỹ trực tiếp thông qua hoạt động
thực tiễn của con người. Con người muốn biến đổi được tự nhiên và xã hội thì
cần phải có những hiểu biết về chúng, nhưng những hiểu biết đó không có sẵn
trong con người. Muốn có được tri thức, con người phải tác động vào thế giới
khách quan bằng hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, con người tích luỹ được
những tri thức kinh nghiệm. Những tri thức này, được củng cố cùng với kỹ năng
hoạt động của con người. Những tri thức kinh nghiệm mới chỉ đem lại sự hiểu
biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật. Nó là một dạng tri thức có tính
chất trực quan cảm tính, nhưng không thể đồng nhất với cảm giác, tri giác, biểu
tượng. Việc tách nhận thức thành hai hình thức cảm tính và lý tính chỉ có ý nghĩa
tương đối về mặt nhận thức luận. Thực tế là, không có một kết quả của một quá
trình nhận thức nào lại không phải là sản phẩm của sự thống nhất biện chứng
giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Kinh nghiệm phản ánh chủ yếu
dựa vào quan sát trực quan, vào những hoạt động có tính chất thực nghiệm, vào
quá trình trao đổi thông tin mang tính chất trực tiếp giữa con người với thế giới,
sáng tạo và phải có quan điểm lịch sử - cụ thể. Trong quá trình phản ánh cái
chung kinh nghiệm tỏ rõ kém sâu sắc. Cái chung chỉ được biểu hiện trong
kinh nghiệm với tính cách là sự phản ánh lặp đi, lặp lại trên những lớp đối
tượng sự vật, hiện tượng không đồng nhất.
Thứ hai, kinh nghiệm là một trình độ phản ánh hiện thực khách quan của
con người. Để nắm được cái tất yếu, sâu sắc nhất mối quan hệ bản chất của sự
vật, hiện tượng, con người phải khái quát những tri thức kinh nghiệm thành lý
luận. Nếu lý luận chỉ là sản phẩm khái quát hoá, thuần tuý của tư duy, thì lý luận
14
đó rất dễ trở thành hư ảo, hoang đường. Lý luận chỉ thực sự khoa học khi nó
được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn. Như vậy, kinh nghiệm và lý luận là
hai trình độ khác nhau của nhận thức nhưng chúng lại tác động bổ sung và
chuyển hóa cho nhau thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Kinh
nghiệm là điểm xuất phát, là tiền đề, là cơ sở để hình thành nên lý luận. Lý
luận, đến lượt mình, nó định hướng, chỉ đạo, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn.
Chính trong hoạt động thực tiễn trên cơ sở tổng kết thực tiễn cung cấp cho lý
luận những kinh nghiệm phong phú để hình thành lý luận mới. Do đó, kinh
nghiệm cũng như lý luận đều là kết quả của hoạt động nhận thức và đều phản
ánh hiện thực khách quan, tuy kinh nghiệm phản ánh hiện thực còn rời rạc bề
ngoài, riêng lẻ, chưa nắm được cái tất yếu những mối liên hệ bản chất của các
sự vật, hiện tượng nhưng nó lại chứa đựng nội dung khách quan trong quá
trình phản ánh. Sự phản ánh đó đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực đều phụ
thuộc vào chủ thể nhận thức. Nếu kinh nghiệm không khái quát lên thành lý
luận và lý luận không được kiểm nghiệm hoặc kiểm nghiệm chưa đạt tới một
trình độ nhất định thì sẽ không có một lý luận thật sự khoa học. Trong quá
trình nhận thức, kinh nghiệm cung cấp những thông tin, tri thức ban đầu về sự
vật, hiện tượng. Kinh nghiệm thường không tách rời những hoạt động có tính
khái quát thành lý luận mới. V.I.Lênin đã từng nói: “Muốn hiểu biết thì phải
bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung. Muốn tập
bơi phải nhảy xuống nước” [21, tr.220]. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý
luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức
về tự nhiên và xã hội, tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [41, tr.497].
Mặc dù, kinh nghiệm có vai trò to lớn như vậy, song bên cạnh những
yếu tố tích cực, kinh nghiệm còn chứa đựng những yếu tố hạn chế; và các yếu
tố đó sẽ là có lợi hay bất lợi còn tuỳ thuộc vào chủ thể nhận thức và vận dụng
nó. Kinh nghiệm có tính chất trực quan, dễ nhận biết và có vai trò không thể
thiếu được trong đời sống hàng ngày nên chúng dễ bị con người tuyệt đối hoá.
Nếu tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là yếu tố duy nhất quyết định
kết quả hoạt động của con người thì sẽ mắc phải bệnh kinh nghiệm. Thực chất
16
của bệnh kinh nghiệm là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi
kinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những vấn đề của
cuộc sống đặt ra. Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao
kinh nghiệm cảm tính, đề cao thực tiễn, hạ thấp lý luận, coi thường tri thức lý
luận, tri thức khoa học, không chịu học tập lý luận. Mặt khác, người mắc bệnh
kinh nghiệm sẽ vận dụng kinh nghiệm để giải mã những vấn đề thực tiễn một
cách máy móc, dẫn đến tình trạng áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn. Cho nên, trong thực tế, người mắc bệnh kinh
nghiệm thường thiếu sự nhìn xa trông rộng, sẽ bế tắc và mất phương hướng
khi tình hình thực tiễn đổi thay, khi mà số lượng tri thức tăng lên.
Như vậy, bệnh kinh nghiệm có tác hại rất lớn trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, bởi nó gây tâm lý lười
học tập lý luận, lười suy nghĩ. Trong quan hệ giữa người già và người trẻ nó
củng cố tâm lý đề cao thái quá vai trò của người già, cũng như coi thường
bằng những thái độ không đúng đắn.
1.1.2. Những biểu hiện chủ yếu của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở ở Việt Nam
1.1.2.1. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở và vai trò của đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Ở Việt Nam, cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị được chia làm bốn cấp
quản lý nhà nước, đó là: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
quận, huyện và xã - phường - thị trấn. Trong đó, xã - phường - thị trấn được
gọi là cấp cơ sở và do số lượng xã là tuyệt đối, thị trấn cũng tương đương với
xã; còn phường ở các tỉnh vẫn gắn một phần với sản xuất và cư dân nông
nghiệp nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã.
Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ trong các
quan hệ kinh tế, dòng tộc, văn hoá. Cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng, là nơi
giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, là địa bàn tổ chức thực
18
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng
cường đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; là nơi trực
tiếp sản xuất ra của cải vật chất; là nền tảng cơ bản của xã hội; đây còn là nơi
có thể tổ chức huy động, phát huy cao độ của quần chúng nhân dân.
Chính quyền cấp cơ sở là chính quyền trong lòng dân, cán bộ lãnh đạo,
quản lý cấp cơ sở là những người sống và làm việc hàng ngày cùng với dân,
có điều kiện gần gũi trực tiếp và thường xuyên với dân. Vì lẽ đó, họ phải là
những người hiểu biết rõ nhất tình hình tại cơ sở, thấy được nhu cầu, nguyện
vọng của nhân dân, những đòi hỏi bức xúc mà dân chúng mong đợi.
Ở nước ta, nói đến cấp cơ sở, phần lớn là nói đến cùng cơ sở nông
nghiệp (nông nghiệp, nông dân và nông thôn); với dân số hơn 80 triệu dân
(năm 2010 khoảng 86,93 triệu người) thì có gần 60 triệu dân (năm 2010: