Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã - vấn đề cơ bản và cấp bách hiện nay - Pdf 26

Mở đầu
Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Hiện nay khi xác định phát triển
kinh Õt là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đảng ta
xem xét cán bộ và công tác cán bộ là lĩnh vực quan trọng bậc nhất, là khâu
then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Đất nước đã chuyển sang thời kỳ
mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, trong bối cảnh có nhiều
vận hội, thời cơ lớn cần ra sức tận dụng, đồng thời cũng có nhiều khó khăn,
thử thách cần phải vượt qua, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng đội ngò cán bộ
cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội từ Trung ương đến cơ sở đủ bản lĩnh
chính trị, phẩm chất cách mạng, năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực
tiễn. Chỉ có chủ động xây dựng và kiện toàn đội ngò cán bộ trong sạch, vững
mạnh Đảng mới có đủ năng lực lãnh đạo, tổ chức toàn dân thực hiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Trung
ương khoá VIII của Đảng đã nhấn mạnh: phải gấp rút xây dựng chiến lược
cán bộ chủ chốt các cấp từ Trung ương đến cơ sở.
Đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng
trong việc đảm bảo trên thực tế hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và quản
lý của nhà nước cũng như trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở
cơ sở. Việc xây dựng đội ngò cán bộ của hệ thống chính trị cấp xã hiện nay là
một bộ phận không thể tách rời của chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3
(khóa VIII), và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.
Trong quá trình phát triển lâu dài của dân téc ta, làng, xã là nơi hội tụ
và bảo lưu các giá trị văn hoá, tinh thần, vật chất của dân téc. Trong lịch sử
dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, làng, xã đóng vai trò quan trọng:
làng, xã là đơn vị hành chính, là chính quyền cấp cơ sở có vị trí đặc biệt quan
trọng, có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Làng, xã đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống
chính quyền nhà nước. “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã, thành phố trực
thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã, huyện chia thành xã, thị

đất nước thì chức năng, nhiệm vụ đó càng được tăng cường và quan trọng hơn
bao gồm:
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn và tổ chức
thực hiện kế hoạch đó.
Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách xã theo luật định. Phối hợp với
các cơ quan hữu quan thu thuế, phí ở lại địa phương và các khoản theo qui
định của pháp luật. Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng của xã trên nguyên tắc tự nguyện.
Tổ chức và hướng dẫn thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án.
Khuyến khích phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp theo qui
định của cấp trên.
Tổ chức thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
để phát triển sản xuất; hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây
trồng, vật nuôi trong sản xuất theo qui hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ
các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi. Tổ chức việc xây dựng các công
trình thủy lợi nhỏ của xã; tổ chức thực hiện việc tu bổ, bảo vệ đê điều, bảo vệ
rừng, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời
các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương.
Lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của xã; quản lý và sử dụng
hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công Ých ở địa
phương.
Xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ
sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo qui hoạch đã được duyệt.
Quản lý, sắp xếp chợ và các điểm buôn bán, dịch vụ ở địa phương. Phối
hợp với các cơ quan hữu quan chống buôn lậu, trèn thuế, sản xuất và lưu hành
hàng giả tại địa phương.
Tổ chức các hoạt động văn hoá, thông tin, nghệ thuật, thể dục thể thao;
tổ chức thực hiện việc hướng dẫn các lễ hội truyền thống, bảo vệ di tích lịch
sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương, vận động nhân dân xây
dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá; ngăn chặn việc truyền bá văn hoá

đời sống xã hội đều diễn ra ở đó. Vì vậy, cấp xã có vị trí và tầm quan trọng
đặc biệt, đó là nơi trực tiếp biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước thành hiện thực trong cuộc sống.
Là một cấp chính quyền ở nông thôn, vị trí chiến lược của cấp xã lại
càng nổi bật, do đại bộ phận nhân dân ta sống ở nông thôn và làm nông
nghiệp. Theo kết quả điều tra dân số ngày 1 – 4 – 1999, nước ta có
76.327.900 người, trong đó có 58.409.700 người chiếm 76,5% dân số của cả
nước sống ở nông thôn. Hiện nay ở nước ta có 11,822 xã, phường, thị trấn
trong đó chỉ có 519 thị trấn, 949 phường, còn lại có 10.354 xã nông thôn
chiếm 87,58% tổng số xã phường thị trấn của cả nước. Điều đó cho thấy cấp
xã có một vị trí hết sức chính trị ở nước ta.
Mặt khác xã còn là nơi tập trung mọi tiềm năng lao động, đất đai,
ngành nghề, là nơi sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội mà trọng tâm
là lương thực và thực phẩm. Xã cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm và cung cấp
nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, đồng thời xã còn là nơi cung cấp
nguồn nhân lực dồi dào cho nhiều lĩnh vực ngành nghề góp phần thực hiện
thắng lợi các mục tiêu chương trình kinh tế – xã hội lớn của Đảng. Nhận thức
được vị trí tầm quan trọng của cấp xã, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc
xây dựng xã thành những đơn vị vững mạnh.
Qua hai cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ ác liệt, xã đã có những
đóng góp quan trọng về sức người, sức của để làm nên những thắng lợi to lớn
góp phần vào sự nghiệp thống nhất, độc lập Tổ quốc.
Bước vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là thời kỳ thực hiện
đường lối mới của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng nền
kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước, mở rộng quan hệ với các nước thì việc xây dựng cấp xã vững
mạnh về mọi mặt càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giê hết.
Với tầm quan trọng đó, trong sự nghiệp đổi mới Đảng ta đã quan tâm
thoả đáng đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Tại hội nghị
Trung ương lần thứ 5 khoá VII, Đảng ta đã ra nghị quyết chuyên đề về tiếp

tổ chức, một phong trào.
- Thứ hai: Là người làm thức tỉnh hành vi của người khác. “Cán bộ
quản lý” cũng dùng để chỉ người đứng đầu một tổ chức, nhưng phụ trách
những công việc nhằm thực hiện việc điều hành hoạt động của tổ chức để
thực hiện các công việc đó. “Cán bộ quản lý” còn có nghĩa là “người sử dụng
công cụ, phương tiện để điều khiển một hoạt động nào đó”.
Nội hàm của khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý có những điểm giống
và khác nhau. Cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều phải nhận thức khách
thể và tác động đến khách thể; chủ thể ra quyết định để điều khiển khách thể,
trên cơ sở những đặc điểm thuộc tính, những qui luật của khách thể nhằm
thực hiện mục đích nhất định. Người cán bộ lãnh đạo hay quản lý đều phải
tiến hành quá trình điều khiển. Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện
một số chức năng quản lý và người quản lý cũng phải thực hiện một số chức
năng lãnh đạo. Trên ý nghĩa đó, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý giống
nhau. Tuy nhiên, trên phương diện khác cần phân biệt cán bộ lãnh đạo với cán
bộ quản lý.
Quá trình lãnh đạo chủ yếu là quá trình định hướng cho khách thể, còn
quá trình quản lý chủ yếu là quá trình tổ chức, sắp xếp, bố trí để thực hiện
định hướng của lãnh đạo.
Quá trình lãnh đạo là quá trình làm thức tỉnh hành vi con người, định
hướng hoạt động của con người và xã hội là chủ yếu. Trong lãnh đạo, con
người vừa là khách thể vừa là chủ thể của mọi tác động. Đối tượng tác động
của quản lý vừa có thể là con người nhưng lại vừa có thể là công cụ. Trong
quản lý người cán bộ tác động mang tính điều khiển, vận hành thông qua thiết
chế có tính pháp lệnh được qui định trước.
Với ý nghĩa đó, chức năng quản lý là sự tiếp tục của chức năng lãnh
đạo, là bước đi kế tiếp của lãnh đạo, là yếu tố, là khâu tất yếu để sự lãnh đạo
được thực hiện.
Có quan niệm về quản lý theo nghĩa rộng. Với quan niệm đó thì lãnh
đạo là một bộ phận của quản lý. Trong tiểu luận này, tác giả sử dụng khái

bộ máy, tổ chức. Song, đến lượt mình, cán bộ lại chịu sự chi phối, ràng buộc
của tổ chức. Tổ chức quyết định phương hướng và hành động của cán bộ. Tổ
chức mạnh khiến từng người mạnh và từng người mạnh khiến cả tổ chức
mạnh. Nòng cốt, hạt nhân để xây dựng tổ chức là đội ngò cán bộ và đó cũng
là trung tâm đoàn kết và tập hợp của tổ chức.
Người cán bộ chỉ có vai trò trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân,
ngoài cái đó thì nhân dân không cần đến họ, có cách mạng mới cần người
lãnh đạo và vì thế người lãnh đạo phải vì sự nghiệp cách mạng, phục vụ lợi
Ých của nhân dân. Phong trào cách mạng của quần chúng làm sản sinh những
cán bộ t. Đó là môi trường rèn luyện, thử thách sàng lọc cán bộ. Mặt khác cán
bộ lại là người tuyên truyền, tổ chức, duy trì phong trào cách mạng quần
chúng. Không thể có đội ngò cán bộ tốt nếu không xây dựng và duy trì được
phong trào cách mạng của quần chúng và cũng không thể có phong trào cách
mạng sôi nổi, liên tục nếu không có đội ngò cán bộ tốt.
Nh vậy, bất cứ người cán bộ nào cũng bị ràng buộc trong bốn mối quan
hệ đó, chỉ khi nào hoàn thành được sứ mệnh do các quan hệ đó đòi hỏi thì
người cán bộ mới có vai trò. Vì vậy mà cơ cấu cán bộ chỉ được coi là hợp lý
nếu đồng thời đáp ứng yêu cầu của các quan hệ đó. Từ mối quan hệ này mà
định tiêu chuẩn cán bộ và đánh giá cán bộ.
Rõ ràng, bất cứ lúc nào và ở đâu, vai trò của đội ngò cán bộ lãnh đạo
quản lý cũng rất quan trọng đối với với sự nghiệp cách mạng. Đối với cấp xã,
vai trò đó được thể hiện trên các phươn diện sau:
- Đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã giữ vai trò quyết định trong
việc thực hiện hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt
của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn. Là người trực tiếp lãnh đạo và tổ
chức quần chúng thực hiện sáng tạo các nghị quyết của Đảng, chính sách của
Nhà nước thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng ở nông thôn,
đội ngò này tạo nên những thành tựu, cung cấp những bài học kinh nghiệm có
giá trị, góp phần rất quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước. Vai trò
này chẳng những thể hiện chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức cùng với các

xã có điều kiện đi sâu, đi sát và nắm vững tình hình, kịp thời hướng dẫn, hỗ
trợ và nhân lên thành các phong trào cách mạng sâu rộng. Biết tổng kết những
kinh nghiệm của các phong trào đó, đội ngò cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã sẽ
góp phần không nhỏ để xây dựng và hoàn thiện chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước. Với ý nghĩa đó, cũng có thể nói, đổi mới đội ngò cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp xã là một mắt xích quan trọng nhất để thúc đẩy những
cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng ở nông thôn.
- Xây dựng đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã vững mạnh mẽ sẽ
là một trong những nguồn quan trọng cung cấp cán bộ cho cấp trên. Thật vậy,
cán bộ cơ sở đều ở tuyến đầu của hoạt động sản xuất, công tác, chiến đấu
nên họ rất thực tế, có tri thức và khả năng sáng tạo trong thực tiễn. Cơ sở còn
là môi trường rất quan trọng tạo điều kiện cho cán bộ trưởng thành. Hiện nay,
do chưa thấy hết vị trí chiến lược của cơ sở nên một số cán bộ cơ sở (cấp xã)
là thấp kém, không có tiền đồ. Họ không phấn khởi khi công tác ở cơ sở, chưa
thấy cơ sở là trường học thiết thực và là dịp cần thiết cho sự rèn luyện và
trưởng thành của mình.
Từ những điểm trình bày ở trên, rõ ràng đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp xã có tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt và là một trong những vấn
đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành bại trong công cuộc xây dựng
và phát triển nông thôn mới.
1.2. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đòi hỏi phải xây dựng đội
ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã với chất lượng mới.
1.2.1. Khái quát về xã và vai trò của cấp xã.
- Xã là đơn vị hành chính – lãnh thổ cấp cuối cùng, nhỏ nhất ở nước ta.
Đó là loại hình cơ sở hoàn chỉnh với đầy đủ các mặt chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội Cấu thành, nơi mà cuộc sống của xã hội diễn ra hàng ngày. Cấp
xã được xem là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, bao hàm ý nghĩa nền tảng rộng
lớn và sâu xa của xã hội.
Lịch sử phát triển của dân téc luôn gắn liền trong mối quan hệ giữa
làng xã với đất nước. Nước lấy làng xã làm đơn vị cơ bản trong công cuộc

dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.2.2. Thời kỳ mới đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngò cán bộ
lãnh đạo, quản lý cấp xã.
Xây dựng đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã luôn là vấn đề bức
bách, quan trọng. Với cương vị đảm nhận, hoạt động của đội ngò cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp xã có ảnh hưởng quyết định đối với đời sống kinh tế – xã hội
trên địa bàn mà họ phụ trách. Càng đi vào kinh tế thị trường, càng hội nhập
vào khu vực và thế giới, trong thời đại của nền kinh tế thị trường, càng hội
nhập với khu vực và thế giới, trong thời đại của nền kinh tế tri thức thì nhiệm
vụ cách mạng càng khó khăn, phức tạp, công việc càng mới mẻ. Trong bối
cảnh đó, càng phải tự ý thức sâu sắc tầm quan trọng quyết định của vấn đề
cán bộ.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hóa hiện nay, xây
dựng nông thôn giàu đẹp, ổn định, dân chủ, tiến bộ văn minh là mục tiêu
chiến lược hàng đầu của Đảng và nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện
nay. Nếu thực hiện tốt công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
thì nhân dân sẽ phấn khởi, chính trị xã hội ổn định, phát huy các tiềm năng,
thế mạnh nông nghiệp, nông thôn để tiến hành công nghiệp hoá với tốc độ
nhanh, vững chắc, tăng tiềm lực quốc phòng để bảo vệ vững chắc độc lập chủ
quyền quốc gia, mang lại hạnh phóc cho đồng bào cả nước. Là những người
trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện sự nghiệp trọng đại đó, đội ngò cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã tất yếu đòi hỏi phải được xây dùng cho ngang tầm
không nghỉ về ý chí cách mạng, về bản lãnh chính trị, đạo đức cách mạng mà
cả về những năng lực trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện. Vì vậy, xây dựng đội
ngò cán bộ lãnh đạo quản lý cấp xã thực sự đã trở thành một trong những vấn
đề quan trọng hàng đầu với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông
thôn hiện nay. Hơn nữa, đây còn là một nội dung, một bộ phận quan trọng
không thể thiếu được trong việc gấp rút phải thực hiện chiến lược cán bộ cho
thời kỳ mới trong đó chú trọng đội ngò cán bộ các cấp, trước hết là cấp chiến
lược và cấp cơ sở mà Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của

dân tin yêu.
Có thể khẳng định: những thành tựu về kinh tế xã hội đã đạt được trong
những năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có phần đóng góp quan
trọng, trực tiếp của đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã.
2.3. Những mặt hạn chế chủ yếu của đội ngò cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp xã.
2.3.1. Trình độ học vấn và năng lực công tác còn yếu kém về nhiều
mặt:
- Trình độ học vấn của đội ngò cán bộ này nhìn chung còn thấp, số cán
bộ cấp xã có trình độ học vấn dưới phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ lớn, trong đó
ở một số nơi thuộc vùng sâu, vùng xa còn một số cán bộ mới thoát nạn mù
chữ, không Ýt cán bộ còn chưa đọc thông viết thạo.
- Tuyệt đại đa số cán bộ xã chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
chưa qua đào tạo cơ bản về kinh tế, kỹ thuật, xã hội Trong đó rất đáng chú ý
là ngay cán bộ chuyên môn nhưng đại đa số chưa có trình độ chuyên môn
tương ứng (từ sơ cấp trở lên). Cụ thể là cán bộ chuyên môn chưa qua đào tạo
của 4 chức danh chuyên môn là: tài chính 59%; địa chính: 71%; văn phòng –
thống kê 80%; tư pháp 85% (theo số liệu điều tra của ban tổ chức cán bộ
chính phủ năm 1999). Làm công tác chuyên môn mà không có trình độ
chuyên môn thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ một cách khả quan.
- Trình độ lý luận chính trị của cán bộ cấp xã nhìn chung còn thấp. Nói
chung, đội ngò cán bộ chủ chốt cấp xã đã qua bồi dưỡng ngắn ngày ở một số
líp tại các trường, trung tâm bồi dưỡng chính trị tỉnh, huyện về lý luận chính
trị nhưng chất lượng, hiệu quả còn nhiều hạn chế. Điều đó đã ảnh hưởng trực
tiếp đến việc quán triệt và vận dụng đường lối chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước.
- Kiến thức quản lý hành chính nhà nước còn rất yếu kém. Khoảng trên
70% cán bộ chính quyền (Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân) chưa qua đào
tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý hành chính nên cán bộ làm việc chủ yếu
theo kinh nghiệm thãi quen và trong nhiều trường hợp làm việc không theo

2.4.1. Về nhận thức quan điểm.
Việc nhận thức về vị trí vai trò nhiệm vụ bộ mấy chính quyền và hệ
thống chính trị cơ sở còn chưa đủ rõ và chưa đạt đến sự thống nhất cao (chẳng
hạn, quan niệm cấp xã là cấp chính quyền nhà nước hay cấp tự quản của cộng
đồng). Do chưa thống nhất trong nhận thức về vị trí, vai trò của cấp xã nên
hiện đang tồn tại nhiều quan điểm rất khác nhau về xây dựng, kiện toàn đội
ngò cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở. Điều đó được thể hiện trực tiếp trong
công tác lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể.
2.4.2. Về lãnh đạo chỉ đạo.
Những năm gần đây, mặc dù Đảng, Nhà nước ta đã có một số chủ
trương giải pháp tích cực để củng cố, kiện toàn đội ngò cán bộ cơ sở nhưng
các giải pháp còn mang tính chắp vá, xử lý tình thế, thiếu tính tổng thể, đồng
bộ, cơ bản, lâu dài. Cụ thể là:
- Chưa có một chiến lược quy hoạch xây dựng đội ngò cán bộ cấp xã
với tính chất là một bộ phận của chiến lược cán bộ của nước ta đáp ứng yêu
cầu thời kỳ mới.
- Chưa chủ động tích cực làm công tác chuẩn bị nguồn cho cán bộ cấp
xã mà chủ yếu còn mang tính chất tự phát ngẫu nhiên.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ cấp xã còn nhiều bất cập
cả về số lượng và chất lượng. Nội dung chương trình bồi dưỡng còn chưa thật
sát hợp với đối tượng; còn nặng nề lý luận chung, Ýt về bồi dưỡng kỹ năng
nghiệp vụ cụ thể. Phương thức bồi dưỡng còn nặng nề, cồng kềnh, kém hiệu
quả,.
- Chưa xác định được rõ những yêu cầu, tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại
cán bộ xã (cán bộ bầu cử, cán bộ chuyên môn, cán bộ Đảng, chính quyền,
đoàn thể ) nên việc bố trí sử dụng còn tùy tiện, thiếu ổn định, thiếu nhất
quán.
- Chế độ chính sách đãi ngộ còn nhiều bất hợp lý giữa các đối tượng
(giữa cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể, giữa cán bộ quản lý chủ chốt với
cán bộ chuyên môn, giữa cán bộ với nhau ) chưa đủ sức thu hót những người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status