Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã và đang
tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa bảo vệ tổ quốc.
Mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại nhằm “Xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện được
mục tiêu đó, đòi hỏi phải có sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc,
công việc có thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Nói đến cán
bộ tốt hay kém ở đây chính là nói đến phẩm chất nhân cách hay đó là cái Đức
và cái Tài của họ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta rất quan tâm
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở. Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung
phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh” [1, tr 90].
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng đã chỉ rõ rằng: “Mục tiêu
chung là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư
tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, giỏi về chuyên
môn nghiệp vụ” [1, tr316]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành
Trung ương khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
yêu cầu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [ 2, tr 26].
1
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
Các quan điểm trên đã thể hiện khái quát những yêu cầu về phẩm chất, nhân
sức khoẻ sinh sản cho khu vực Hà Nội. Bệnh viện được xây dựng trên mảnh
đất Yên lãng thượng thuộc quận Ba Đình (phía bắc thủ đô Hà Nội). Bệnh viện
là một trong những đơn vị giữ vững truyền thống đoàn kết, phát huy sức
mạnh tập thể, thực hiện tốt 7 chức năng, nhiệm vụ, hoàn thành các chỉ tiêu kế
hoạch, từng bước triển khai, phát triển thành công các mũi nhọn chuyên sâu,
tiếp tục phấn đấu đạt danh hiệu Bệnh viện xuất sắc. Tuy nhiên bên cạnh
những thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn thử thách. Đội ngũ cán bộ của
bệnh viện phần lớn là những người có bản lĩnh, có trình độ và năng lực, được
đào tạo cơ bản phần nào đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, tuy nhiên còn có
những hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, còn thiếu sự đầu tư các kỹ
thuật chuyên sâu, khả năng thích ứng còn hạn chế, đặc biệt trang thiết bị y tế
và sự quá tải diễn biến thường xuyên…
Xuất phát từ những lý do nêu trên và là một cán bộ lãnh đạo, quản lý,
tôi chọn vấn đề: “Xây dựng và hoàn thiện nhân cách đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp kết thúc khóa học lớp Cao cấp Lý luận
Chính trị - Hành chính tại Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nhân cách đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện nhân cách cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bệnh viện
Phụ sản Hà Nội hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nhân cách đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bệnh viện Phụ sản Hà Nội
giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đang công tác tại các đơn vị khoa,
phòng, ban tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
3
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
4
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH VÀ NHÂN CÁCH
NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1. Khái niệm chung về nhân cách và nhân cách người lãnh đạo, quản lý.
1.1.1. Khái niệm về nhân cách và bản chất nhân cách.
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau như Triết học, Xã hội học, Tâm lý học, Đạo đức học, Giáo dục học, Y
học…Với mỗi ngành khoa học nhân cách lại được nghiên cứu dưới góc độ
tiếp cận khác nhau.
Tâm lý học Mác xít khẳng định bản chất nhân cách dựa trên luận điểm
nổi tiếng của C.Mác: “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [6, tập 3, trang 11].
Trên cơ sở nền tảng lý luận đó, các nhà tâm lý học Mác xít đi sâu
nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh, từ đó xác định phạm
trù nhân cách. Nhân cách là vấn đề thuộc về con người và xã hội. Con người
là một thực thể gồm hai mặt sinh học- xã hội, hai mặt này có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Tâm lý học nghiên cứu con người trên cả hai mặt này. Theo
quan niệm của C.Mác, mặt xã hội là bản chất của con người và là mặt sinh
học của con người đã được xã hội hóa. Bản chất của con người được hình
thành nên trong cuộc sống, bằng hoạt động của con người chịu sự tác động
của các quan hệ xã hội, quan đó con người hội nhập, củng cố và phát triển các
mối quan hệ mà họ tham gia và con người là chủ thể trong các mối quan hệ
đó. Khi con người tham gia và thực hiện một hoạt động nhất định có mục
đích, có ý nghĩa nhằm nhận thức hay cải biến hiện thực khách quan thì con
người được coi là chủ thể.
5
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
được coi là sản phẩm của các quan hệ xã hội đồng thời cũng là sản phẩm của
sự tiến hóa, phát triển của cái tự nhiên.
C.Mác đã chỉ rằng: “Chính con người khi phát triển sản xuất vật chất
và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi cùng với sự tồn tại hiện thực
của mình, cả tư duy lẫn lẫn sản phẩm tư duy của mình”. [6, tập 3, tr.38]
+ Đối với các nhà tâm lý học Việt Nam, quan niệm về nhân cách được
hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Có quan niệm coi nhân cách: “là tổng hòa
những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc, cá tính rõ nét
với những đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức và vai trò
xã hội; Nhân cách là một cá nhân có ý thức về bản thân, đã tự khẳng định
được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi [8, tr.246]. “Nhân
cách là một chủ thể tự ý thức mỗi con người, thể hiện thông qua quá trình tự
khẳng định của chính mình” [8, tr.9].
Có thể nói, đến nay, đã có nhiều định nghĩa về nhân cách, khó có thể
tìm ra một định nghĩa nào có thể khái quát và bao trùm nhất về khái niệm
nhân cách. Tuy nhiên các khái niệm, định nghĩa về nhân cách đều đề cập đến
một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Nói đến nhân cách là nói đến thuộc tính, phẩm chất tâm lý
được hình thành từ trong các quan hệ xã hội, từ những hoạt động có ý thức
của mỗi con người. Những phẩm chất đó quy định hành vi và giá trị xã hội
của mỗi con người.
Thứ hai: Nói đến nhân cách bao giờ cũng gắn liền với tồn tại thân thể
của một con người, nó không phải là một cái gì trừu tượng, mà là sản phẩm
hoạt động có ý thức của con người.
Thứ ba: Nói tới nhân cách là nói tới đặc điểm tâm lý riêng của một cá
thể người. Đó là đơn vị cuối cùng, là cái đơn nhất tạo nên chính nó chứ không
phải là ai khác.
7
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
Thứ tư: Nhân cách biểu hiện giá trị xã hội của mỗi cá nhân con người
thống nhất của nhân cách.
♦ Những nét tính cách phải được thể hiện trong các hoạt động và giao tiếp,
trong hành vi cử chỉ của cá nhân dưới hính thức này hay hình thức khác. Đồng
thời thông qua hoạt động và giao tiếp nhân cách được nẩy sinh và phát triển.
♦ Giá trị của các nét, các đặc điểm cũng như toàn bộ nhân cách thường
được qui định bởi các điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.
Như vậy nhân cách được xem xét bởi hai mặt xã hội và tâm lý, hai mặt
này có mối liên quan biện chứng với nhau. Đây chính là hai mặt quan trọng
để khẳng định tính người của con người.
Từ những phân tích trên đây chúng tôi hiểu: Nhân cách người lãnh
đạo, quản lý là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá nhân quy định
giá trị địa vị xã hội và hành vi quan hệ xã hội của người lãnh đạo, quản lý.
Nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý có những đặc điểm cơ bản
như sau:
Tính thống nhất và bản chất xã hội của nhân cách: Nhân cách là sự
thống nhất nhiều đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá nhân biểu hiện trong hành vi,
hoạt động của con người. Đó là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảm, giữa đức
và tài, giữa bản lĩnh và sự thích ứng, giữa hành vi bản năng và hành vi xã hội,
giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, giữa lý tưởng của chủ thể lãnh đạo,
quản lý có lòng nhân hậu, khoan dung thì dù trong hoàn cảnh nào, quan hệ xã
hội nào cũng phải thể hiện được sự thống nhất của nó trong hành vi và hoạt
động, được xã hội và mọi người đánh giá, thừa nhận sự nhất quán và trung
thực của phẩm chất, nhân cách đó.
9
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
Tính ổn định và phát triển của nhân cách: Một trong những đặc trưng
của nhân cách là ổn định và phát triển. Các phẩm chất của nhân cách, các kiểu
hành vi, phong cách ứng xử hoạt động được hình thành trong một thời gian
dài thường ổn định với các quan hệ xã hội, nếp sống, chế độ sinh hoạt, làm
việc ổn định. Có thể trong cuộc đời và hoạt động thường nhật, đôi khi có
Cấu trúc nhân cách là sự sắp xếp các tính chất, thành phần, thuộc tính
của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn định trong những
mối liên hệ và quan hệ nhất định. Đời sống tâm lý của con người cũng có một
cấu trúc nhất định, nếu tạm loại đi những đặc điểm cá thể về tâm lý của mỗi
người thì chúng ta có thể xác lập được một cấu trúc tâm lý của nhân cách.
Hiện cũng đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách. Quan niệm
tâm lý học cho rằng cấu trúc tâm lý của nhân cách nói chung và của người
lãnh đạo, quản lý nói riêng bao hàm các thuộc tính tâm lý cá nhân điển hình
là: Xu hướng, tính cách, năng lực, tính khí.
Xu hướng của nhân cách: Xu hướng là chiều hướng hoạt động và phát
triển cuộc đời của một con người, là mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, trở
thành động cơ thôi thúc hoạt động của con người. Xu hướng nhân cách của
một con người được hình thành và phát triển theo trình độ nhận thức, tình
cảm và ý chí của họ đối với mục đích cuộc đời cần đạt tới. Xu hướng quy
định phương thức hoạt động và phát triển của cá nhân, xu hướng biểu hiện ở
các mặt nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan và niềm tin, ở ý chí, nghị
lực, quyết tâm của mỗi con người.
Tính cách của nhân cách: Tính cách là thuộc tính tâm lý cá nhân quan
trọng nhất trong nhân cách. Tính cách của con người được thể hiện rõ nét ở cả
xu hướng, năng lực, cảm xúc, tình cảm và ý chí. Tính cách là sự biểu hiện rõ
nét các đặc điểm tâm lý của cá nhân. Những đặc điểm này quy định ý thức,
hành vi của cá nhân trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, thể hiện
11
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
thái độ của họ đối với thế giới xung quanh với công việc, với mọi người và
bản thân
Năng lực của nhân cách: Mỗi cá nhân có khả năng nhất định để có thể
hoạt động đạt kết quả. Trong tâm lý học năng lực được hiểu là khả năng học
tập, nghiên cứu và áp dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào các lĩnh vực
hoạt động và đem lại hiệu quả. Năng lực là một thuộc tính tâm lý vô cùng
người cán bộ lãnh đạo, quản lý đã đi đến thống nhất có 4 yếu tố cấu thành
nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là: xu hướng, tính cách, năng
lực và tính khí.
- Xu hướng nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý :
Xu hướng là chiều hướng hoạt động và phát triển của cuộc đời con
người, đó là mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, nó trở thành động cơ hoạt
động của con người, xu hướng nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành và
phát triển theo trình độ nhận thức, tình cảm, ý chí của hộ đối với mục đích
cuộc đời cần đạt tới. Xu hướng nhân cách quy định phương thức hoạt động và
phát triển của mỗi cá nhân.
Xu hướng biểu hiện ở nhu cầu, hứng thú, tư tưởng, hoài bão, thế giới
quan, biểu hiện ở ý chí quyết tâm của mỗi con người. Nhu cầu là sự đòi hỏi
của mỗi cá nhân và nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất
định để sống và phát triển. Nhu cầu là trạng thái và thuộc tính biểu hiện sự
gắn bó của con người với thế giới quan. Nhu cầu là biểu hiện đầu tiên, rõ nét
nhất của xu hướng, là động lực của mọi lao động. Nhu cầu bao giờ cũng có
đối tượng , tính xã hội lịch sử và tính chu kỳ. Đối với người cán bộ lãnh đạo,
quản lý thì nhu cầu của họ trước hết phải thống nhất, phù hợp với nhu cầu
chính đáng của con người, khi đó xu hướng nhân cách của họ mới rõ ràng,
nhất quán, kiên định và được mọi người thừa nhận, ủng hộ và noi theo.
13
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
Hứng thú là thái độ đặc biệt của mỗi cá nhân đối với đối tượng nào đó
có ý nghĩa trong đời sống của họ. Hứng thú có tác động huy động sức lực của
mỗi cá nhân vào hoạt động chiếm lĩnh đối tượng. Người cán bộ lãnh đạo,
quản lý phải có thái độ hứng thú với công việc, nó biểu hiện ở tính trách
nhiệm, sự gắn bó nhiệt tình và say mê với công việc được giao.
Lý tưởng là những mục tiêu cao đẹp được phản ảnh trong đầu óc của
con người dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực, hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn
họ vào hoạt động để vươn tới mục tiêu đó. Lý tưởng là động cơ ý thức
Trong quá trình lãnh đạo, quản lý, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải giải
quyết nhiều mối quan hệ, với nhiều đối tượng khác nhau như người thân,
người cùng công tác, cùng tập thể xã hội Thông qua các mối quan hệ đó, ta
có thể hiểu rõ tính cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là người như thế nào?
Là người có đạo đức, tuân thủ pháp luật hay người không tuân thủ pháp luật,
thiếu đạo đức.
Biểu hiện của tính cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý là thái độ tốt
với xã hội và bản thân. Đối với xã hội, tập thể, với lao động và trong công
việc người cán bộ lãnh đạo phải là người gương mẫu, có vai trò tích cực,
chăm chỉ, là tấm gương của nhân viên dưới quyền. Có thái độ nhiệt tình với
công việc, có ý chí hoàn thành mọi công việc được giao. Đối với tiền bạc,
người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thể hiện là người tiết kiệm, chi tiêu hợp
lý, liêm khiết, không tùy tiện, tham lam, xa hoa, lãng phí, gây mất lòng tin với
nhân viên dưới quyền.
Đối với bản thân phải có thái độ khiêm tốn, tự chủ, biết kiềm chế, làm
việc có nguyên tắc, thái độ của người cán bộ lãnh đạo, quản lý như vậy mới là
khoa học, vừa là hành vi đạo đức biết tôn trọng người khác.
Tính cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được thể hiện ở các đức
tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có tình cảm cách mạng, quyết tâm
hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, trong công tác người cán bộ lãnh đạo,
15
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
quản lý phải thường xuyên cảnh giác với sự xa đọa, thoái hóa, biến chất của
bản thân, đồng thời thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để khiếm khuyết ngày
càng ít, những điểm tốt ngày càng nhiều thêm.
-Năng lực người cán bộ lãnh đạo, quản lý :
Trong tâm lý học, năng lực được hiểu là khả năng học tập nghiên cứu
và áp dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào các lĩnh vực hoạt động đem
lại hiệu quả. Năng lực là một thuộc tính tâm lý vô cùng quan trọng đối với
mỗi con người, đặc biệt là người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Năng lực cho biết
thái của hành vi cá nhân, nó chi phối hoạt động tâm lý con người về cường
độ, tốc độ, nhịp độ. Tính khí không quy định nội dung tốt hay xấu của các
phẩm chất tâm lý cá nhân mà chỉ quy định động thái của hành vi tâm lý.
Có thể chia thành 4 kiểu tính khí cơ bản của người cán bộ lãnh đạo,
quản lý, đó là:
1/ Người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính khí hoạt, biểu hiện là người
linh hoạt, tháo vát, năng động, dễ thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh khi
được giao công việc phù hợp thì họ tỏ ra hăng hái, tìm mọi cách vượt khó
khăn trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ. Trong quan hệ với mọi người thì cởi
mở, nhưng họ có ngược điểm là hấp tấp, vội vàng, thiếu kiên nhẫn.
2/ Người cán bộ lãnh đạo quản lý có tính khí trầm, biểu hiện họ thường
ung dung, kiềm chế được những cơn xúc cảm, trong hoạt động thường có sự
đều đặn, cân bằng và duy trì. Trong quan hệ thường đúng mực, hơi kín đáo,
người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính khí trầm thường có nhược điểm là tính
ỳ lớn, kém linh hoạt, chậm thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh, song có
mặt tốt là tránh được sự vội vàng, hấp tấp.
3/ Người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính nóng nảy tỏ ra có sức sống
dồi dào, các hoạt động tâm lý học bộc lộ sự mạnh mẽ, họ thường dốc sức làm
những việc ưa thích, nhược điểm của họ là bốc đồng, dễ nổi nóng và dễ xẹp.
17
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
4/ Người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tính thầm lặng, tỏ ra ủy mị, ưu tư,
yếu đuối, dễ lo lắng, dễ mặc cảm. Tuy nhiên ưu điểm của họ là nhạy cảm, tinh
tế, nhẫn nại trước những công việc bình thường đơn điệu.
Các thuộc tính nhân cách được hình thành và phát triển tùy thuộc vào
mối quan hệ cá nhân với một giai cấp, một dân tộc hay một nhóm người nhất
định, nó còn phụ thuộc vào lĩnh vực nghề nghiệp, điều kiện lao động và môi
trường gia đình…Việc cá nhân tham gia vào các cộng đồng nhất định sẽ tạo
nên những nội dung phẩm chất nhân cách của cá nhân đó. Tính chất các hoạt
động mà cá nhân đó thực hiện, phạm vi và cách giao tiếp của cá nhân với
sự phát triển của hai mặt “phẩm chất” và “năng lực” của con người. Khái
niệm Đức, Tài, Hồng, Chuyên không bị bó hẹp, bị giới hạn trong sự phân chia
theo góc độ của xã hội và cái sinh vật mà nó hàm chứa một ý nghĩa bao trùm,
rộng lớn và thống nhất trong cấu trúc nhân cách. Nếu hệ thống đầy đủ những
ý nghĩa, nội dung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng diễn đạt thì Đức và Tài có
sự chuyển hóa cho nhau, xâm nhập vào nhau, là tiền đề của nhau tạo nên một
kết cấu trọn vẹn. Trong mối quan hệ Đức và Tài, Người luôn coi trọng Đức và
coi Đức là “Gốc”, là phẩm chất hàng đầu của cán bộ cách mạng. Bên cạnh đó
Người cũng rất coi trọng Tài, tức là năng lực cán bộ. Người cho rằng, người
cán bộ, đảng viên phải biết làm lợi cho dân, cho nước, cho cách mạng. Muốn
làm lợi cho dân, cho nước, cho cách mạng thì người cán bộ, đảng viên phải ra
sức học tập để nâng cao trình độ. Người từng nói: “Có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó”.
Xuất phát từ giải quyết mối quan hệ giữa Đức và Tài, xuất phát từ vị trí
quan trọng của nó nên Người không bao giờ tuyệt đối hóa cái nào. Đối với
việc xem xét, lựa chọn người làm công tác lãnh đạo, quản lý, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn căn dặn: “Phải chọn người có đủ đức, đủ tài”.
Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về cấu trúc nhân cách của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý gồm có 3 nhóm:
19
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
+ Nhóm phẩm chất chính trị tư tưởng bao gồm: Lòng trung thành tuyệt
đối với Đảng, với cách mạng; Có lập trường, tư tưởng vững vàng, kiên định
với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Luôn đặt lợi ích của Đảng,
của cách mạng lên trên lợi ích của cá nhân; Có thái độ đấu tranh không khoan
nhượng đối với kẻ thù…
+ Nhóm phẩm chất tâm lý đạo đức bao gồm: Cư xử, ứng xử của người
cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với công việc, đối với nhân dân, đối với tiền
nong, của cải, địa vị, quyền lực. Theo lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
làm người cán bộ thì phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, đó là đạo
nay, việc giáo dục nhân cách đòi hỏi phải được coi là vấn đề cấp bách và phải
thực hiện thường xuyên. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải được đào
tạo, giáo dục rèn luyện một cách có hệ thống tri thức xã hội, tri thức chuyên
môn, tri thức đạo đức, kỹ năng, kỹ xảo về lãnh đạo, quản lý. Điều quan trọng
là phải trang bị cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý hệ thống quan điểm của
Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ
trương của Đảng cộng sản Việt Nam, Chính sách và pháp luật của Nhà nước,
những tri thức về tâm lý con người, nghệ thuật lãnh đạo, quản lý liên quan
đến chất lượng, hiệu quả của công việc.
Trên thực tế, còn không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ thấp về
kiến thức năng lực lãnh đạo, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới,
không ít cán bộ lười học, hoặc cốt học chỉ để lấy tấm bằng nhằm hợp thức hóa
vị thế của mình “chỗ đứng”, “ghế ngồi” của mình…Chính vì thế, người cán
bộ lãnh đạo, quản lý phải có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình
độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn.
21
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
1.2.3.2. Hoạt động thực tiễn cách mạng và hoạt động lãnh đạo, quản lý là
hoạt động có vai trò trực tiếp trong việc hình thành và phát triển nhân cách
người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Trong hoạt động cách mạng, hoạt động lãnh đạo, quản lý là hoạt động
chủ đạo có vai trò trực tiếp trong việc hình thành và phát triển nhân cách
người lãnh đạo, quản lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Là người cách
mạng phải có đạo đức cách mạng”, nhưng “Đạo đức cách mạng không phải là
trên trời sa xuống. Do đấu tranh, rèn luyện hàng ngày mà có. Cũng như ngọc
phải càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Nghị quyết Ban chấp
hành Trung ương 3 (khóa VIII) đã khẳng định: “Trên cơ sở phát triển sự
nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí để xây dựng đội ngũ cán bộ một
cách bài bản, chính quy, có hệ thống; đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn
và phong trào cách mạng của nhân dân để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, đánh
đối ổn định và dần đạt tới một trình độ hoàn thiện nhất định, đòi hỏi chủ thể
phải thường xuyên tự đấu trang để chống suy thoái nhân cách.
Trong công tác và trong cuộc sống, nhân cách người lãnh đạo, quản lý
cũng liên tục biến đổi và hoàn thiện dần nhờ cá nhân có ý thức tự rèn luyện,
tích cực hoạt động thực tiễn làm cho nhân cách mình phát triển cao hơn, đáp
ứng những yêu cầu ngày càng cao của công việc, của cuộc sống và của xã
hội. Nhưng trong thực tế, quá trình hình thành nhân cách cũng thường chịu
sự tác động, những thử thách. Cá nhân có thể có những chuyển hướng tiêu
cực, có sự biến đổi những thuộc tính tâm lý cấu thành nhân cách không phù
hợp với chuẩn mực chung của xã hội và có thể đưa đến sự phân ly, suy
thoái nhân cách. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng tác
động tiêu cực đối với tâm lý con người và các nhóm xã hội có chiều hướng
gia tăng. Do vậy, việc tự giáo dục, tự rèn luyện để chống suy thoái nhân
cách có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách người
lãnh đạo, quản lý giai đoạn hiện nay.
23
Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính Nguyễn Minh Nguyệt
Trên con đường hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách hiện
nay, mỗi người Việt Nam, trước hết là người lãnh đạo quản lý đều phải có ý
thức giữ gìn và phát huy nhân cách của dân tộc Việt Nam, của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vĩ đại-một nhân cách mẫu mực, giản dị, cao quý và gần gũi, thân
thiết với mỗi người Việt Nam, nhân cách của một con người đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận là anh hùng giải phóng dân tộc và là danh nhân văn
hóa thế giới.
1.2.3.5. Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần mở rộng giao lưu, tiếp nhận thông tin
và cần thể hiện rõ bản lĩnh và sự điều chỉnh thích ứng với cơ chế thị trường.
Nhân cách người lãnh đạo, quản lý thể hiện rõ bản chất xã hội, nó được
hình thành và phát triển trong quan hệ giao tiếp, giao lưu với mọi người.
C.Mác đã chỉ rõ: “Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định bởi sự phát
người cán bộ lãnh đạo, quản lý của bệnh viện Phụ sản Hà Nội phải là những
người có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội,
trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã lựa chọn. Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm
cách chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi dụng những
kẽ hở trong thực hiện các chính sách hội nhập để xuyên tạc, kích động, lôi
kéo nhằm lật đổ chế độ. Vì vậy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo bệnh viện Phụ sản
Hà Nội phải có ý chí chiến đấu, chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh
chống lại những tư tưởng mơ hồ, dao động, chủ quan, mất cảnh giác.
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, thể hiện không bị cám dỗ, lôi kéo của
kẻ địch và phần tử xấu trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị
trường, có ý chí, dám nghĩ, dám làm, sáng tạo, quyết đoán nhanh, biết nắm
bắt thời cơ, hạn chế nguy cơ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Phục vụ nhân
25