1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ TRANG KHẢO SÁT TẦNG NGHĨA BIỂU TRƢNG
TRÊN NGỮ LIỆU THƠ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 - 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2012 2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6
4. Nhiệm vụ của luận văn
7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
7
6. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
8
7. Bố cục luận văn
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
11
1.1. Nghĩa của từ là một hệ thống - Cơ cấu nghĩa của từ
11
1.2. Phân tích nghĩa của từ - Hiện tƣợng từ đa nghĩa
11
1.2.1. Phân tích nghĩa của từ
11
1.2.2. Phân loại nghĩa của từ đa nghĩa
15
1.3. Tầng nghĩa biểu trƣng từ vựng và biểu hiện của nó
trong ngôn ngữ thơ ca
18
1.3.1. Tầng nghĩa biểu trưng từ vựng
18
1.3.2. Sự hiện thực hóa của tầng nghĩa biểu trưng trong
ngôn ngữ thơ ca
20
“sông”
46
CHƢƠNG 3
NGHĨA BIỂU TƢỢNG VỀ CON NGƢỜI
52
3.1. Nhận xét chung về khả năng tạo nghĩa biểu tƣợng về
con ngƣời của các đơn vị từ vựng
52
3.2. Các nét nghĩa biểu tƣợng về con ngƣời đƣợc nhắc đến
trong thơ ca Việt Nam 1930 - 1975
53
3.2.1. Nghĩa biểu tượng về hoạt động của con người
53
3.2.2. Nghĩa biểu tượng về tình cảm của con người
55
3.2.3. Nghĩa biểu tượng về lý tưởng, ý chí, trí tuệ của con
người
58
3.3. Khả năng tạo nghĩa biểu tƣợng về con ngƣời của một
số đơn vị từ vựng
60
3.3.1. Khả năng tạo nghĩa biểu tượng về con người của từ
60
5
“tay”
3.3.2. Khả năng tạo nghĩa biểu tượng về con người của từ
“lòng”
nghệ thuật, truyền tải tƣ tƣởng, quan điểm thẩm mĩ thì các từ ngữ đều trở
thành những tín hiệu nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ. Chúng đƣợc gạn lọc, tỉa
gọt hết sức kĩ càng và hầu hết chúng đều có khả năng thể hiện những nghĩa
hoàn toàn mới mẻ. Việc tri nhận ngữ nghĩa của những tín hiệu thẩm mĩ cũng
nhƣ khám phá nội dung, ý nghĩa của các tác phẩm văn chƣơng không thể chỉ
dựa vào nghĩa hệ thống đơn thuần, thông thƣờng của chúng trong các từ điển
mà phải dựa vào khả năng liên tƣởng, sáng tạo và những hiểu biết văn hóa, xã
hội của ngƣời tiếp nhận. Càng có nhiều nghĩa mới đƣợc hình thành thì từ càng
có khả năng tham gia nhiều trƣờng nghĩa khác nhau. Về phía trƣờng ngữ
7
nghĩa - từ vựng thì trƣờng sẽ đƣợc mở rộng, đa dạng và sinh động vì có sự
tham gia của nhiều hệ thống nghĩa khác nhau của các đơn vị từ vựng.
Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn của chúng tôi đi vào khảo sát, tìm
hiểu về tầng nghĩa biểu trƣng - một bộ phận của trƣờng ngữ nghĩa từ vựng
trên ngữ liệu thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975 nhƣ một thử nghiệm hƣớng
tiếp cận mới trong ngôn ngữ học hiện nay - hƣớng tri nhận luận, chức năng
luận. Theo hƣớng khai thác này, chúng tôi hi vọng góp phần đƣa ra một cách
hiểu mới mẻ, sinh động và thuyết phục hơn về trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng,
đặc biệt là tầng nghĩa biểu trƣng.
2. Mục đích của luận văn
Luận văn này tiếp cận lí thuyết trƣờng ngữ nghĩa mà cụ thể là trƣờng
ngữ nghĩa - từ vựng ở một hƣớng tiếp cận mới, lấy quan điểm ba tầng nghĩa,
sáu kiểu chức năng từ vựng của tác giả Lê Quang Thiêm làm cơ sở nền tảng
để quy tụ các đơn vị đồng nghĩa, xác lập trƣờng ngữ nghĩa từ vựng, phân tầng
các đơn vị đó và đi sâu phân tích tầng nghĩa biểu trƣng cùng những kết hợp,
cấu trúc đan xen văn hóa tạo nên tầng nghĩa biểu trƣng này. Chúng tôi mong
muốn bằng phƣơng pháp tiếp cận này sẽ chứng minh đƣợc sự mở rộng của
trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng, chứng minh sự sắp xếp, tổ chức của các đơn vị từ,
(tạo ra trƣờng đồng nghĩa) và sự chuyển hóa về nghĩa biểu tƣợng giữa các đơn
vị từ, nhằm chứng minh một đơn vị từ có thể tham gia nhiều trƣờng nghĩa
khác nhau (xét trên sự tƣơng đồng về nghĩa biểu trƣng) để xác lập trục đa
nghĩa của từ.
Nguồn tƣ liệu mà chúng tôi lựa chọn để khảo sát, phân tích là những
bài thơ nổi bật của một số nhà thơ tiêu biểu của khuynh hƣớng thơ mang âm
hƣởng cách mạng trong giai đoạn 1930 - 1975 nhƣ: Tố Hữu, Chế Lan Viên,
Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Tế Hanh, Lê Anh Xuân, Giang
9
Nam… Từ đó, luận văn lần lƣợt quy tụ các hệ thống nghĩa của các đơn vị từ
vựng theo tiêu chí đồng nhất ở tầng nghĩa biểu trƣng.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn này tập trung vào những điểm sau:
- Hệ thống hóa các quan niệm khác nhau về nghĩa của từ và đặc biệt
chú ý tới các quan niệm về các thành phần nghĩa của từ, đa nghĩa, đồng nghĩa.
Quan trọng hơn, luận văn bƣớc đầu xác lập tầng nghĩa biểu trƣng dựa trên
quan hệ đa nghĩa và đồng nghĩa của các đơn vị từ.
- Khảo sát, xác lập, đi sâu miêu tả và bƣớc đầu giải thích các hiện
tƣợng ngữ nghĩa xảy ra bên trong từng trƣờng nghĩa trong thơ Việt Nam giai
đoạn này. Ở mức độ sâu hơn, chúng tôi nhận diện và miêu tả các nghĩa khác
nhau của các đơn vị từ thuộc tầng nghĩa biểu trƣng của một trƣờng nghĩa nhất
định. Tiếp cận theo bề rộng và bề sâu nhƣ vậy sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn
tổng quan về phạm vi hoạt động của tầng nghĩa biểu trƣng trong từng trƣờng
nghĩa; đồng thời nhìn nhận một cách thấu đáo, chi tiết về kết cấu ngữ nghĩa
của từng đơn vị từ vựng trong tầng nghĩa, trƣờng nghĩa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích đề ra, trong khi nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng
các phƣơng pháp cơ bản sau:
Về mặt lí luận, luận văn là sự mở rộng phạm vi khảo sát và đi sâu thêm
một bƣớc nghiên cứu so với khóa luận tốt nghiệp đại học “Bƣớc đầu khảo sát
trƣờng ngữ nghĩa - từ vựng về đất nƣớc trong một số bài thơ Việt Nam giai
đoạn 1945 - 1975”. Vì thế, luận văn này tiếp tục góp phần làm sáng tỏ quan
điểm về trƣờng nghĩa, tầng nghĩa mà cụ thể là tầng nghĩa biểu trƣng của
trƣờng ngữ nghĩa từ vựng theo hƣớng tiếp cận chức năng luận, tri nhận luận.
11
Quá đó, luận văn giúp hiểu rõ hơn về nghĩa của các đơn vị từ vựng, nhất là
nghĩa biểu trƣng trong các tác phẩm văn chƣơng nghệ thuật thông qua việc
bóc tách từng lớp nghĩa, tầng nghĩa trong từng ngữ cảnh, văn cảnh mà từ hoạt
động. Bởi lẽ từ không tồn tại độc lập mà nó luôn tồn tại trong mối quan hệ với
các đơn vị khác.
Nếu nhƣ một kí hiệu ngôn ngữ thƣờng có sự thống nhất giữa cái biểu
đạt và cái đƣợc biểu đạt thì trong thơ không phải bao giờ cũng thế. Cái biểu
đạt trong thơ chẳng qua là lớp kính bên ngoài bao bọc một thế giới hình tƣợng
muôn hình muôn dạng. Nếu không hiểu đƣợc điều đó, ngƣời tiếp nhận sẽ bỏ
qua những giá trị đích thực của ngôn từ cũng nhƣ những giá trị độc đáo, kì
diệu mà ngƣời nghệ sĩ ngôn từ tạo ra từ năng lực sáng tạo nghệ thuật của
mình.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn hƣớng vào những
ứng dụng sau:
- Hoàn thiện hệ thống nghĩa của từ, làm cơ sở tiến đến quy tụ một cách
đầy đủ, sinh động nhất trƣờng ngữ nghĩa.
- Đối chiếu với các từ điển tiếng Việt, xem xét các nghĩa của từ ngữ
đƣợc bộc lộ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật đã đƣợc khái quát trong
các từ điển hay chƣa, bổ sung vào hệ thống nghĩa của từ trong từ điển.
- Tìm hiểu những nghĩa mới (chủ yếu là nghĩa biểu trƣng) của từ ngữ
trong tác phẩm văn học nghệ thuật có nằm trong thói quen sử dụng ngôn ngữ
không phải là một tổ chức lộn xộn. Đối với từ đa nghĩa, các nghĩa của từ có
quan hệ với nhau, đƣợc sắp xếp theo những cơ cấu, tổ chức nhất định. Mỗi
nghĩa lại có các thành tố nghĩa nhỏ hơn đƣợc sắp xếp theo một trật tự nhất
định.
Nhƣ vậy, nghĩa của từ là một hệ thống. Xét nghĩa của từ là xác định
xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn và tất
cả chúng đƣợc sắp xếp trong quan hệ với nhau nhƣ thế nào.
Xét trong một trƣờng từ vựng, bản thân mỗi từ đa nghĩa tạo nên một
một trục ngữ nghĩa mà ở đó các nghĩa luôn tồn tại một mối liên hệ nhất định
nào đó. Nói cách khác, khi xét toàn bộ thành phần nghĩa của từ đa nghĩa và
mối liên hệ giữa từng nét nghĩa với những nghĩa bên trong từ và với những
nghĩa của từ khác, ta có thể tập hợp thành một trƣờng nghĩa rộng hơn, đầy đủ
hơn nhiều khi xét một nghĩa nào đó của từ.
1.2. Phân tích nghĩa của từ - Hiện tƣợng từ đa nghĩa
1.2.1. Phân tích nghĩa của từ
14
Về vấn đề thành phần ngữ nghĩa của từ, đã có rất nhiều luận giải khác
nhau, tùy theo cách quan niệm về nghĩa của từ:
Với quan niệm nghĩa của từ là quan hệ giữa từ với cái mà nó biểu thị,
Nguyễn Thiện Giáp [9] cho rằng nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp,
bao gồm một số thành tố đơn giản hơn như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu,
nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu. Trong đó:
- Nghĩa sở chỉ (referentive meaning): Là quan hệ giữa từ với đối tƣợng
mà từ biểu hiện. Đối tƣợng mà từ biểu thị không phải chỉ là các sự vật mà còn
là quá trình, tính chất hoặc hiện tƣợng thực tế nào đó; các đối tƣợng này có
thể ngoài ngôn ngữ hoặc trong ngôn ngữ. Đối tƣợng mà từ biểu thị đƣợc gọi
là “cái sở chỉ” của từ.
- Nghĩa sở biểu (significative meaning): Là quan hệ giữa từ với biểu
Đỗ Hữu Châu [1] lại tập trung phân tích nghĩa và các nhân tố hình
thành nghĩa thông qua hình tháp nghĩa; trong đó ông đã phân biệt “nhân tố
nghĩa” và “nghĩa”, đồng thời thừa nhận nghĩa của từ là một thực thể tinh thần
cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ. Ông
cho rằng: số lƣợng kiểu nghĩa sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân tố
được phát hiện. Trong phạm vi quan sát nghĩa từ vựng, các loại nghĩa mà ông
nêu ra bao gồm: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái:
- Nghĩa biểu vật: Sự vật, hiện tƣợng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, đƣợc
từ biểu thị tạo nên nghĩa biểu vật của từ. Nghĩa biểu vật không phải là sự vật,
hiện tƣợng y nhƣ chúng có thực trong thực tế mà chỉ là sự phản ánh sự vật,
hiện tƣợng… trong thực tế vào ngôn ngữ. Vì vậy, nó có ý nghĩa khái quát.
- Nghĩa biểu niệm: Là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái
quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có
một quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật
16
của từ. Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ đƣợc
gọi là cấu trúc biểu niệm.
- Nghĩa biểu thái: Thuộc phạm vi biểu thái của từ là các nhân tố đánh
giá nhƣ: to, nhỏ, mạnh, yếu…; các nhân tố cảm xúc nhƣ: dễ chịu, sợ hãi…;
các nhân tố thái độ nhƣ: yêu, ghét, mến, thương… mà từ gợi ra cho ngƣời nói
và ngƣời nghe.
Ba thành phần ý nghĩa trên đƣợc gọi chung là nghĩa từ vựng. Ngoài ra,
từ còn có nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp của từ.
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [5]
thì lại cho rằng nghĩa của từ là những liên hệ phản ánh được xác lập trong
nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà từ chỉ ra (những cái mà nó
làm tín hiệu cho). Các tác giả quan niệm, nghĩa của từ gồm những thành phần
sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm. Ngoài hai thành phần nghĩa trên, các tác
- Ở mặt đồng đại, các tác giả cũng đƣa ra nhiều cách giải quyết khác
nhau về nghĩa của từ đa nghĩa. Có thể kể đến một số lƣỡng phân nhƣ: nghĩa
tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực tiếp - nghĩa chuyển tiếp, nghĩa thường trực -
nghĩa không thường trực [5, tr.173-176]. Bên cạnh đó còn có các lƣỡng phân
nhƣ: nghĩa cổ - nghĩa hiện dùng, nghĩa địa phương - nghĩa toàn dân, nghĩa
chính - nghĩa phụ… [1, tr.152-155].
Về cơ bản, các tác giả đã phân loại hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa theo
hƣớng lưỡng phân nghĩa. Điều này dẫn đến một hệ quả là: Trong trƣờng hợp
nhiều nghĩa phái sinh, nhiều nghĩa không cơ bản, nhiều nghĩa phụ thì sự phân
biệt không đƣợc chỉ rõ, không đƣợc gọi tên, không xác lập cho nó một vị thế
tƣơng ứng, không có sự định loại cho bộ phận nhiều nghĩa còn lại của từ…
Lƣỡng phân thì không đủ thang độ để phân biệt tính đa dạng ngữ nghĩa từ
18
vựng [23, tr.119]. Do đó, theo chúng tôi, phương pháp lưỡng phân không còn
là một thước đo đầy đủ cho việc nghiên cứu hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa.
Với mong muốn mở rộng khung phân loại hệ thống nghĩa của từ đa
nghĩa, nhằm đƣa ra những miêu tả, phân tích cụ thể, chi tiết hơn nữa về hệ
thống nghĩa hết sức đa dạng này, tác giả Lê Quang Thiêm [23] đã đƣa ra quan
niệm nghĩa là nội dung được xác định hình thành nhờ chức năng thì nội dung
ngữ nghĩa (phổ nghĩa) của từ bao gồm “chuỗi chức năng” mà từ bộc lộ trong
văn cảnh, ngữ cảnh mà chúng xuất hiện cũng nhƣ trong các kiểu tạo cấu trúc
ngôn ngữ. Từ đó, tác giả phân cấu trúc nghĩa của từ thành các tầng nghĩa, kiểu
nghĩa chức năng từ vựng gồm ba tầng, sáu kiểu. Cụ thể hơn, phổ nghĩa của từ
đƣợc trải dài từ cực duy lý khoa học đến cực biểu cảm, biểu trưng, biểu tượng
của tín hiệu:
biểu thị. Nói đến nghĩa biểu thị là ta có thể hình dung sự vật, hành động theo
một mặt, một thuộc tính, công dụng cụ thể nào đó. Nghĩa biểu thị của từ nước
là chất lỏng nói chung; ví dụ: nước chè, nước mắt, nước sông…
+ Nghĩa biểu chỉ: Nghĩa biểu chỉ có nội dung chỉ ra, quy chiếu đến mà
nội dung nghĩa ít phản ánh, biểu thị, ánh xạ nét gì, thuộc tính nào của sự vật,
hiện tƣợng mà nhƣ là từ thay thế, dán nhãn. Kiểu nghĩa này thể hiện nhƣ các
từ chỉ xuất: này, kia, ấy, đấy…; các đại từ: tôi, ta, nó, y…
- Về tầng nghĩa biểu trưng:
+ Nghĩa biểu trưng: Là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa của những
từ mà hình thức ngữ âm (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô
phỏng cấu hình) có liên hệ đến nội dung đƣợc biểu hiện của từ.
+ Nghĩa biểu tượng: Là nghĩa có đƣợc do hình dung, tƣởng tƣợng.
Có thể nói, với quan niệm về ba tầng nghĩa, sáu kiểu nghĩa chức năng
từ vựng nhƣ vậy, nghĩa của từ không chỉ đƣợc xem xét trong thế lƣỡng phân
nhƣ những quan niệm trƣớc đó. Đây là một sự đổi mới, mở rộng quan niệm
20
về nghĩa, nó đã dung hòa và kiến giải đƣợc những nội dung thuộc hai cực đối
lập nhau: khoa học và viễn tưởng, hai khả năng biểu đạt của kí hiệu: tạo hình
và biểu hiện, miêu tả và tri giác. Theo đó, ta cũng thấy rõ hơn về sự phong
phú, đa dạng và đầy ý nghĩa trong nghĩa chức năng từ vựng.
Chúng tôi lựa chọn cách phân loại thành phần nghĩa từ vựng của tác giả
Lê Quang Thiêm làm hƣớng tiếp cận trƣờng ngữ nghĩa và cũng làm hƣớng
khai thác chung cho luận văn này. Bởi lẽ, với ba tầng, sáu kiểu nghĩa chức
năng từ vựng, nghĩa của từ đƣợc khai thác một cách triệt để từng vỉa lớp
nghĩa đƣợc lần lƣợt bóc tách chứ không chỉ riêng một thành phần nghĩa nào.
Càng đi sâu bóc tách từng kiểu nghĩa, tầng nghĩa của đơn vị từ này và xác lập
đƣợc mối liên hệ của nó với các tầng nghĩa, kiểu nghĩa của các đơn vị từ khác
trong hệ thống từ vựng thì các trƣờng ngữ nghĩa đƣợc thiết lập và mở rộng
ngoằn ngoèo (con đƣờng)…
Nghĩa biểu trƣng là kết quả của quá trình biểu trƣng hóa, đó là quá trình
vốn có nguồn gốc tâm lí của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một
cách tế nhị, độc đáo trong ngôn ngữ.
- Nghĩa biểu tượng: Là loại nghĩa có đƣợc do con ngƣời hình dung,
tƣởng tƣợng ra. Trong cuộc sống, có những đối tƣợng đƣợc gọi tên nhƣng
những gì con ngƣời biết về nó chỉ là sự tƣởng tƣợng, sự truyền miệng, mang
tính hoang đƣờng, thần thoại. Đó là trƣờng hợp của những đơn vị ngôn ngữ
mang nghĩa biểu tƣợng, ví dụ: tiên, bụt, rồng, phượng, nhân mã… Nói đến
nghĩa biểu tƣợng, không thể không nhắc đến những đơn vị ngôn ngữ mang
nội dung biểu cảm, nội dung huyền thoại mà một dân tộc ở một thời đại nào
đó, chủ thể ngôn ngữ đã thổi vào, gán vào nội dung với những hình dung,
tƣởng tƣợng. Đó là những hình tƣợng nhƣ mẹ, Tổ quốc, đất nước, quê
hương… Những biểu tƣợng này mang giá trị nhân văn sâu sắc, mang chiều
22
sâu lịch sử, có tính văn hóa - nghệ thuật và đƣợc mã hóa trong tín hiệu ngôn
ngữ, gắn với chức năng thẩm mĩ của từ ngữ. Vì vậy, có ngƣời gọi kiểu nghĩa
này là nghĩa biểu cảm - văn hóa.
Cuộc sống xã hội, nhận thức và tƣ duy của con ngƣời luôn luôn thay
đổi. Vì thế, để đảm nhiệm đƣợc chức năng là công cụ của tƣ duy và là phƣơng
tiện của giao tiếp, ngôn ngữ cũng phải thay đổi theo; hệ quả của nó là làm nảy
sinh những cách thức chuyển nghĩa mới. Vì thế, có những từ vốn đã có một
cơ cấu nghĩa biểu vật lôgíc cụ thể nhƣng trong quá trình sử dụng của con
ngƣời vẫn mang thêm những biểu tƣợng khác. Những nghĩa biểu tƣợng này
có mối liên quan mật thiết với nghĩa biểu vật lôgíc của từ. Ví dụ: Từ xuân
mang nghĩa sự vật thông thƣờng là chỉ mùa chuyển tiếp từ đông sang hạ, thời
tiết ấm dần lên, thường được coi là mở đầu của một năm đã đƣợc chuyển
nghĩa, biểu tƣợng cho tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc trong các câu thơ nhƣ:
còn bộc lộ những nghĩa thuộc tầng nghĩa biểu trƣng - tầng nghĩa đã đƣợc
ngƣời nghệ sĩ “gắn” lên óc hình dung, tƣởng tƣợng của mình và đƣợc tri nhận
bằng những quan niệm thẩm mĩ, văn hóa chung của cộng đồng. Vì thế, khai
thác tầng nghĩa biểu trƣng của các đơn vị từ vựng sẽ cho chúng ta những kết
quả lí thú và đầy mới lạ. Nói nhƣ vậy để thấy rằng, nghĩa của các đơn vị từ
vựng trong tác phẩm văn chƣơng có thể chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng
thái động; từ dạng khái quát, trừu tƣợng, các đơn vị sang trạng thái cụ thể,
sinh động. Các từ ngữ đƣợc hiện thực hóa các thuộc tính, các đặc điểm hình
tƣợng của mình trong các kết hợp nhất định và thực hiện đƣợc những chức
năng thẩm mĩ đa dạng khi tham gia xây dựng hình tƣợng văn học.
Đặc điểm nổi bật của từ ngữ trong các tác phẩm văn chƣơng là có thể
đƣợc dùng với nghĩa chuyển mới, nghĩa của nó khi tham gia văn bản văn học
24
thƣờng không đồng nhất với nghĩa vốn có, nghĩa tự thân của nó trong hệ
thống ngôn ngữ. Tuy nhiên, những phƣơng thức chuyển nghĩa, những quan hệ
ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng (gọi tắt là những hiện tƣợng ngữ nghĩa từ
vựng) là cơ sở, là cái mẫu tạo ra sự chuyển nghĩa trong văn bản. Tức là, hiện
tƣợng ngữ nghĩa từ vựng và hiện tƣợng từ ngữ trong sử dụng khác nhau về
tính cố định, tính đa phong cách và những quan hệ nhƣ nhau. Vì vậy, nắm
vững những hiện tƣợng ngữ nghĩa, chúng ta sẽ có cơ sở vững vàng để lí giải
các hiện tƣợng ngữ nghĩa trong văn bản văn học.
Ở góc nhìn của văn học nghệ thuật, chất liệu ngôn ngữ đƣợc sử dụng để
thể hiện những giá trị thẩm mĩ sao cho sáng tạo nhất, độc đáo nhất và quan
trọng hơn là đạt đƣợc hiệu quả giao tiếp cao nhất. Chính vì vậy, khi đứng
trƣớc kho từ vựng khổng lồ, nhà văn buộc phải lựa chọn những từ ngữ có khả
năng bộc lộ nghĩa một cách tốt nhất và phải khai thác triệt để giá trị ý nghĩa
của từ, ngữ, đặc biệt là giá trị biểu cảm và tƣợng trƣng. Chẳng những thế,
bằng tài năng của mình, nhà văn còn phải tạo ra những giá trị mới cho những
tƣợng sinh động, có đời sống độc đáo, vận động và phát triển không ngừng,
tạo thành một thế giới riêng. Chính tầng nghĩa này là cơ sở tạo nên những
hình tƣợng nghệ thuật trong thơ văn và cuộc sống. Điều đó cho thấy một xã
hội tồn tại và phát triển không thể thiếu những biểu tƣợng ngôn từ nhƣ thế.
Nghĩa biểu tƣợng từ vựng chứa đƣợc cả một kho tàng về tri thức nhân loại và
dân tộc, nó là một vấn đề lí thú cuốn hút chúng ta; đó là cả một thế giới phong
phú chứa đựng nhiều sự độc đáo vô cùng, vô tận. Nói nhƣ vậy là để thấy đƣợc
tầng nghĩa biểu trƣng là một tầng nghĩa chứa nhiều nội dung nghĩa tiềm tàng,
đây là bộ phận nghĩa linh động nhất, có khả năng cơ động mạnh hơn nhiều
tầng nghĩa khác, nó phụ thuộc vào những mức độ, cơ tầng khác nhau của trí
tƣởng tƣợng ở con ngƣời. Điều này có thể đƣợc hình dung trong trƣờng hợp
từ non, nước trong ví dụ sau đây: