skkn sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dậy học lịch sử việt nam giai đoạn 1919-1975 ở các trường trung học phổ thông bắc giang - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BẮC GIANG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN BẮC GIANG

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1919 - 1975
Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thu Thủy
Cơ quan chủ trì: Trường THPT Chuyên Bắc Giang
Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 2 đến tháng 11 năm 2014


đa dạng đã được tổng hợp, khái quát ở mức độ cao. Do đó, việc dạy học
LSVN và LSĐP có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định rằng việc sử dụng tài
liệu LSĐP trong dạy học LSVN là cần thiết ở nhà trường phổ thông, có ý nghĩa
lớn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn “Những chất liệu lịch
sử địa phương sẽ làm cho bài học về lịch sử dân tộc, thậm chí cả lịch sử thế giới
thêm sống động, cụ thể và thực hơn, tạo nên những xúc cảm thật của HS hoặc
thầy giáo trong mỗi bài học lịch sử”. Bởi vì, sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy
học LSVN giúp HS có sự hình dung đa dạng về quá khứ, tạo được biểu tượng
sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Từ đó các em có thể dễ

2

dàng lĩnh hội các thuật ngữ, hình thành các khái niệm lịch sử, nắm được những
kết luận khoa học mang tính khái quát. Mặt khác, nó còn có tác dụng trong việc
giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho HS. Mỗi sự kiện LSĐP đều gắn liền
với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó mà gợi ở các em
niềm tự hào, lòng biết ơn, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đây cũng là
cội nguồn của lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Trong dạy học LSVN, việc sử
dụng các nguồn tài liệu lịch sử dịa phương còn giúp HS thấy được mối quan hệ
giữa cái chung, cái riêng; cái phổ biến, cái đặc thù Qua đó góp phần phát triển
tư duy cho HS.
b. Cơ sở thực tiễn
Việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN ở các trường phổ thông
hiện nay, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, ví như: tài liệu
LSĐP sưu tầm, lưu giữ trong các trường phổ thông nghèo nàn. Nếu có sử dụng
cũng chỉ dừng ở mức độ minh họa, làm rõ thêm các sự kiện chứ chưa xem đây là
nguồn kiến thức cần phải có trong mỗi bài giảng. Kiến thức LSĐP chỉ được sử
dụng trong các tiết LSĐP theo quy định của chương trình. Vì vậy, chưa nâng
cao chất lượng giáo dục bộ môn lịch sử, chưa tạo ra mối gắn kết tình cảm, xác

sáng chủ nghĩa Mác – Lênin do đồng chí Nguyễn Ái Quốc (tức chủ tịch Hồ Chí
Minh) tuyên truyền về đã xuyên qua những lớp mây mù dọi tới Bắc Giang. Tại
thị xã Phủ Lạng Thương đã có những thanh niên tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin
khá sớm và tại Thùng Đấu (thị xã Phủ Lạng Thương), Chi hội Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên đầu tiên của tỉnh ra đời.
Sau một thời gian thoái trào, phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh
đạo đã lan rộng và phát triển mạnh mẽ ra nhiều địa phương trong nước và trong
tỉnh. Đến đầu những năm 40 của thế kỉ XX, ở Bắc Giang, An toàn khu (ATK)
của Trung ương Đảng trên đất Hiệp Hòa, Phú Bình, Phổ Yên đã được thành lập,
là trung tâm phong trào cách mạng của tỉnh, là sự tin tưởng của của Trung ương
Đảng đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám, quân và dân Bắc Giang đã góp phần vào việc đập tan ách thống trị
của chủ nghĩa thực dân Pháp, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra kỉ nguyên độc
lập tự do cho Tổ quốc.
Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám 1945 giành thắng lợi, toàn thể dân tộc ta
nói chung và nhân dân Bắc Giang nói riêng lại phải tiến hành hai cuộc kháng

4

chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ cứu nước (1954 -1975) để bảo vệ nền
độc lập. Trong hai cuộc kháng chiến này, Bắc Giang đều góp phần tích cực vào
thắng lợi chung của dân tộc. Vì thế, sử dụng tài liệu LSĐP Bắc Giang trong dạy
học LSVN không chỉ là việc làm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở Bắc
Giang mà còn làm sáng tỏ những đóng góp của nhân dân Bắc Giang vào sự
nghiệp chung. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ - những
chủ nhân tương lai của nước nhà. Vấn đề đặt ra là xác định tiêu chí để chọn hệ
thống tài liệu lịch sử Bắc Giang, sử dụng trong dạy học LSVN sao cho có hiệu
quả. Đây là điều mà chúng tôi phải quan tâm giải quyết trong khuôn khổ đề tài.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương
trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1975 ở trường Trung học phổ

trong dạy học lịch sử nói chung và việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN
nói riêng. Đây là một trong những yêu cầu về mặt sư phạm cần thiết cho việc nâng
cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp GV phổ thông
vận dụng vào thực tiễn dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và thời gian thực hiện của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN giai đoạn (1919 -
1975) ở trường THPT tỉnh Bắc Giang.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong quá trình LSVN
(1919 - 1975).
- Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa các sự kiện lớn của LSDT được
đề cập trong SGK với các sự kiện LSĐP, đề tài không nghiên cứu tài liệu lịch sử
địa phương như một nguồn sử liệu trong nghiên cứu lịch sử dân tộc hay ở góc độ
sử liệu học mà là nguồn tài liệu phục vụ cho việc dạy học LSDT. Trong khuôn
khổ đề tài, chúng tôi xác định nguồn tài liệu LSĐP (giới hạn ở nguồn tài liệu
thành văn) cần thiết và đề xuất hướng sử dụng trong dạy học LSVN (trong bài
nội khoá và hoạt động ngoại khoá) cho học sinh THPT ở Bắc Giang. Từ việc xử
lý kết quả thực nghiệm sư phạm, chúng tôi đề xuất một số biện pháp mang tính

6

khả thi trong việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân
tộc.
c. Thời gian thực hiện của đề tài
Đề tài được thực hiện trong 10 tháng (từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 11
năm 2014)


dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN giai đoạn (1919 - 1975) ở trường
THPT, đây là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp sư phạm thích hợp.
+ Nghiên cứu nội dung LSVN giai đoạn 1919 - 1975 trong SGK và tài liệu
lịch sử Bắc Giang tương ứng, có thể, cần thiết sử dụng trong dạy học LSVN giai
đoạn (1919 - 1975) ở trường THPT.
+ Soạn giáo án và tiến hành thực nghiệm trong các trường THPT ở Bắc
Giang để kiểm tra giả thiết và hiệu quả của các biện pháp sư phạm đã đề xuất. II. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI VÀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN ĐỀ
TÀI
Đề tài được tổ chức thực hiện theo đúng trình tự thời gian quy định. Chủ
nhiệm đề tài đã phân công cộng sự thực hiện các chuyên đề theo đúng kế hoạch
đặt ra. Đề tài của chúng tôi gồm có 3 chuyên đề tương ứng với 3 chương của đề
tài, như sau:
- Chuyên đề 1: Vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học
lịch sử Việt Nam ở trường THPT tỉnh Bắc Giang – Lý luận và thực tiễn.
- Chuyên đề 2: Khai thác tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử
Việt Nam giai đoạn 1919 – 1975 ở trường THPT tỉnh Bắc Giang.
- Chuyên đề 3: Các biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong
dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1975 ở trường THPT tỉnh Bắc
Giang. 8

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT - LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

Tuân thủ các yêu cầu về mặt phương pháp luận:
- Phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng.
- Chú trọng đến phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, nhưng trước hết
phải chú trọng đến phương pháp lịch sử - phương pháp phù hợp nhất đối với
việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
Phải đảm bảo những yêu cầu về phương pháp dạy học:
- Đảm bảo tính cơ bản, điển hình.
- Phù hợp tâm lý lứa tuổi, đảm bảo tính vừa sức và phù hợp với thực tiễn dạy
học hiện nay.
- Quán triệt phương hướng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường
phổ thông.
1.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI LIỆU LSĐP TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG.
1.2.1. Vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử địa phương ở trường Trung học
phổ thông nói chung và trường Trung học phổ thông ở Bắc Giang nói riêng.
Trong phần này, chúng tôi tìm hiểu:
- Vấn đề giảng dạy các tiết lịch sử địa phương trong nhà trường phổ thông từ
sau Cách mạng tháng Tám - 1945 đến nay.
- Vấn đề sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ
thông từ sau cách mạng tháng Tám - 1945 đến nay.
- Sơ lược vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học LSDT ở
trường THPT tỉnh Bắc Giang.
1.2.2. Thực tiễn sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử
Việt Nam giai đoạn 1919 - 1975 ở trường Trung học phổ thông tỉnh Bắc Giang.
Để có được nhận xét khách quan, khoa học về thực trạng sử dụng tài liệu
LSĐP trong dạy học LSVN (1919 - 1975) ở trường THPT hiện nay, chúng tôi
tiến hành điều tra cơ bản đối với giáo viên (thông qua hệ thống phiếu điều tra) ở
các trường THPT ở trong tỉnh. Tiến hành trao đổi với các cán bộ quản lý chuyên

10


11

Thứ ba, lựa chọn và sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT phải quán
triệt phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường THPT.
Thứ tư, trên cơ sở tài liệu LSĐP đã được lựa chọn, chúng tôi sẽ tiến hành
thực nghiệm sư phạm. Qua xử lý kết quả kiểm tra, để xem xét tính khả thi. Căn
cứ vào kết quả, chúng tôi sẽ đề xuất các biện pháp, cách thức sử dụng nguồn tài
liệu LSĐP trong dạy học LSDT một cách có hiệu quả.
Thứ năm, phải chú trọng việc tạo điều kiện, phương tiện để thực hiện tốt
việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, chúng tôi sẽ
tiến hành lựa chọn nội dung tài liệu LSĐP dự định sử dụng trong dạy học
LSVN. Trên cơ sở kết quả TNSP, chúng tôi sẽ rút ra những kết luận, khái quát
lý luận về các biện pháp sử dụng tài liệu LSĐP có tính khả thi trong dạy học
LSDT. 12

CHƯƠNG II
KHAI THÁC TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 - 1975
Ở TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG

với SGK, các nguồn sử liệu (trong đó có tài liệu LSĐP); phát triển các thao tác tư
duy cần thiết đối với việc học tập lịch sử như: so sánh, tổng hợp, phân tích, vận
dụng kiến thức để đặt vấn đề, để vận dụng kiến thức đã học vào thực tế đời sống và
tiếp thu kiến thức mới Mặt khác, thông qua việc dạy học khóa trình lịch sử nói
trên, GV bồi dưỡng cho HS tình cảm, tư tưởng, thái độ đúng đắn, như tình yêu quê
hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, biết trân trọng quá khứ và truyền thống tốt
đẹp của dân tộc; niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào CNXH, vào sự thắng lợi
trong công cuộc đổi mới; những phẩm chất cần thiết cho công dân, như thái độ,
trách nhiệm đối với cộng đồng, tôn trọng pháp luật, đoàn kết dân tộc

2.1.2. Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1975 ở
trường Trung học phổ thông
Phần LSVN (1919 - 1975) trong SGK lịch sử lớp 12, gồm 04 chương với
12 bài (từ bài 12 đến bài 23). Cụ thể:
Chương I: Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930
Chương II: Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945
Chương III: Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954
Chương IV: Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 - 1975 có vị trí vô cùng quan trọng trong
chương trình môn Lịch sử ở trường THPT. Đây là giai đoạn đầy biến động, thử
thách cam go của LSDT. Nhìn chung, khóa trình này đã đề cập đến những nội
dung lớn sau đây:
Thứ nhất, tình hình Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các phong
trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng tư sản, vô sản và sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930)
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù là nước thắng trận nhưng Pháp
phải chịu những thiệt hại hết sức nặng nề. Để bù đắp thiệt hại và khôi phục địa
vị của mình trong thế giới tư bản, Pháp thực hiện cuộc khai thác thuộc địa lần

14

và giữ chính quyền Sau thất bại của phong trào, trong những năm 1932 - 1935,

15

ta kiên trì đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào; ra sức khôi phục tổ
chức, cơ sở Đảng trong và ngoài nước, tiếp tục tập dượt quần chúng đấu tranh và
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất được tiến hành tại Ma Cao - Trung Quốc
(3/1935)
Khủng hoảng kinh tế thế giới đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa phát xít ở
một số nước, đe dọa an ninh toàn cầu. Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản đã kêu gọi
thành lập mặt trận nhân dân ở các nước để tập trung mũi nhọn chống chủ nghĩa
phát xít và nguy cơ chiến tranh đế quốc. Cũng lúc này, Mặt trận nhân dân do Đảng
Cộng sản Pháp làm nòng cốt lên nắm quyền ở Pháp, hứa thi hành một số cải cách
có lợi cho thuộc địa. ở trong nước, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
tiếp tục đề nặng lên đầu dân chúng Việt Nam, yêu cầu cải thiện đời sống đặt ra bức
thiết. Mặt khác, với chính sách tiến bộ của Mặt trận nhân dân Pháp, nhiều tù chính
trị được ân xá, tìm cách hoạt động trở lại. Trước tình hình đó, Đảng ta đã thay đổi
chủ trương, khẩu hiệu, mục tiêu trước mắt, phương pháp đấu tranh phù hợp nên đã
dấy lên một phong trào đấu tranh rộng lớn trong Cuộc vận động dân chủ. Nhưng,
từ cuối năm 1938, khi Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp thiên sang hữu, bọn
phản động Pháp bắt đầu phản công cách mạng. Cuộc vận động dân chủ bị thu hẹp
dần và chấm dứt. Mặc dù vậy, có thể xem đây là cuộc diễn tập thứ hai, chuẩn bị
cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám về sau.
Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở châu Âu, Pari thất thủ
(6/1940). Nhật đẩy mạnh xâm lược Trung Quốc, áp sát biện giới Việt Trung.
Trước tình hình đó, Hội nghị TƯ lần thứ 6 (11/1939) đã quyết định chuyển
hướng đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương. Với chủ trương mới của Đảng, đã làm bùng nổ
cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, binh biến Đô Lương, là những phát súng
đầu tiên báo hiệu thời kỳ tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Tháng

Pháp và can thiệp Mỹ của nhân dân ta đã giành thắng lợi.
Thứ tư, Công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam(1954 - 1975).
Từ 1954 - 1975, đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền với 2 chế độ
chính trị khác nhau. Miền Bắc bắt tay vào khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương
chiến tranh, tiến hành cải cách ruộng đất, xây dựng CNXH. Trong quá trình đó,
miền Bắc đã phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh phá hoại, nỗ lực xây dựng

17

và bảo vệ miền Bắc XHCN và chi viện có hiệu quả cho chiến trường miền Nam.
Trong khi đó, ở miền Nam, do âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô
Đình Diệm, chúng tìm cách phá hoại Hiệp định, cho lập quốc gia riêng từ vĩ
tuyến 17 trở vào, gây nên tình trạng chia cắt. Nhưng nhân dân miền Nam, được
sự chi viện sức người, sức của từ miền Bắc đã từng bước đập tan các chiến lược
chiến tranh xâm lược của Mỹ và tay sai, như Chiến tranh đơn phương, Chiến
tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh. Mỹ phải ngồi vào
bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Pari - 1973, rút quân về nước. “Mỹ cút”,
nhưng “Ngụy chưa nhào”, toàn Đảng, toàn dân hai miền Nam Bắc tiếp tục chiến
đấu để hoàn thành thống nhất đất nước. Bằng đấu tranh anh dũng, sáng tạo của
nhân dân cả nước, ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi,
giang sơn thu về một mối. Từ đây, cả nước bước vào thời kỳ chung tay xây
dựng CNXH.
Trên đây là những nội dung cơ bản mà HS lớp 12 khi học phần lịch sử Việt
Nam từ năm 1919 đến năm 1975 cần phải nắm vững.

2.2. Khai thác tài liệu lịch sử địa phương để dạy học Lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1919 - 1975 ở trường Trung học phổ thông tỉnh Bắc Giang.
Để có nguồn tài liệu LSĐP hợp lý, phát huy tác dụng trong dạy học, cần
phải định tiêu chí khi lựa chọn tài liệu, đó là:

thức truyền thống của chế độ phong kiến như thuế đinh, thuế điền, binh
dịch…nhưng với mức độ khắc nghiệt hơn và những thủ đoạn thâm hiểm hơn.
Sưu cao, thuế nặng, phu phen tạp dịch, thiên tai lũ lụt làm cho đời sống người
nông dân vô cùng cực khổ. Tên toàn quyền Đờ lanétxăng cũng phải thú nhận :
‘‘ …chính mắt tôi trông thấy con đường Phủ Lạng Thương nhiều lãng xã tan tác
và những di tích của những đồng ruộng mênh mông bị bỏ hoang thành ao
vũng’’.
Thông qua những tư liệu ấy, GV giúp HS nhận thức được của cuộc khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của
nhân dân, người dân Bắc Giang đói nghèo thiếu thốn về vật chất, lạc hậu, u tối
về văn hoá tinh thần. Từ trong tối tăm và cảnh sống ngục tù ấy, nhiều người con
yêu quý của quê hương Bắc Giang đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, quyết chí
dấn thân vào con đường cách mạng để giành độc lập cho Tổ quốc, quê hương. 19

Bài 13. (SGK Lịch sử 12- Ban cơ bản)
Khi nói đến Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và sự thành lập 3 tổ
chức cộng sản trong năm 1929, ngoài những vấn đề chung, GV có thể sử dụng
tài liệu LSĐP để nói về ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi tới Bắc Giang
và những cơ sở cách mạng đầu tiên được thành lập. Tháng 6/1925, Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập. Đầu năm 1927, tổ chức này đã bắt
mối vào tầng lớp thanh niên học sinh Bắc Giang. Một số thanh niên tiêu biểu
của tỉnh đã được cử đi dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu do đồng chí
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy.
Đầu năm 1928, ở Thùng Đấu ( Phủ Lạng Thương), Chi hội Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Bắc Giang ra đời. Cuối năm 1928, Chi hội
ấp Tam Sơn (phủ Lạng Giang) thành lập. Ngoài hai Chi hội trên đây, tại làng
Thổ Hà và làng Đạo Ngạn (huyện Việt Yên), mỗi làng có một hội viên ghép với

động. Những chính sách trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh đòi
tự do dân chủ, cải thiện đời sống, tạo cơ hội cho nhiều cán bộ đảng viên thoát
khỏi cảnh tù đày nhanh chóng tìm cách hoạt động trở lại.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Giang sau một
thời gian lắng xuống, nay bắt đầu phục hồi. Từ cuối năm 1936, các đảng viên
cộng sản của tỉnh Bắc Giang từ các nhà tù đế quốc lần lượt trở về được tập hợp
lại ở Phủ Lạng Thương.
Những tài liệu trên, khi dạy học, GV có thể dùng để thông báo và đặt câu
hỏi giúp HS hiểu được với chính sách tích cực của Chính phủ Mặt trận Nhân
dân Pháp, một số tù chính trị đã có cơ hội trở về với hàng ngũ của mình, đây là
điều hết sức thuận lợi và họ trở thành những hạt nhân nòng cốt cho việc lãnh đạo
cách mạng về sau.
Đầu năm 1937, tỉnh ta cử một đoàn đại biểu về Hà Nội tham gia cuộc mít
tinh đón Gôđa. Nhân dân Bắc Giang đã quyên góp ủng hộ cuộc đình công của
công nhân nhà máy sợi Nam Định, nhà máy chai Hải Phòng…Phong trào quyên
tiền ủng hộ các báo chí tiến bộ như Dân chúng, Tin tức, Lao động…đều là
những cuộc đấu tranh hợp pháp, sôi nổi, thu hút hàng nghìn quần chúng tham
gia.

21

Thắng lợi của cuộc vận động dân chủ ở Bắc Giang đã nâng cao ảnh hưởng
của Đảng và góp phần vào việc xây dựng phong trào quần chúng chuẩn bị cho
thời kỳ vận động giải phóng dân tộc trong những năm 1939 - 1945.

Bài 16. (SGK Lịch sử 12- Ban cơ bản)
Tháng 9 năm 1939, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, bọn phản
động Pháp ở Đông Dương trở mặt khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng.
Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thư VI (11/1939), xách định mục tiêu
chiến lược của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai, giải

bộ Việt Minh đã lên diễn thuyết, nêu bật tinh thần chiến đấu dũng cảm của các
chiến sĩ Bắc Sơn và hô hào quần chúng nhanh chóng gia nhập Mặt trận Việt
Minh, sắm sửa vũ khí, luyện tập quân sự, chuẩn bi lực lượng đón thời cơ khởi
nghĩa.
Đầu năm 1944, Ban Thường vụ Trung ương và Xứ uỷ chủ trương xây dựng
Khu an toàn ở hai bên sông Cầu gồm cả ba huyện : Hiệp Hoà, Phổ Yên, Thái
Bình. Có những xóm nhà nào cũng có cơ sở cách mạng. Lực lượng tự vệ chiến
đấu đã được xây dựng ở nhiều làng…
Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp độc chiếm Đông Dương. Đảng
ta ra chỉ thị ‘‘ Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta’’, phát động
cao trào kháng Nhật cứu nước. Nhân dân Bắc Giang đã nổi dạy phá hàng chục
kho thóc của địch như Chàng (Việt Yên), Gió (Hiệp Hoà), Bến Lò (Lục Ngạn),
Nhã Nam (Yên Thế)…
Giữa tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, Đảng ta đã phát lệnh tổng khởi
nghĩa trong toàn quốc. Ngay khi chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa nhưng
trên cơ sở vận dụng chỉ thị ‘‘ Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta’’ của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, nhân dân Bắc Giang đã nổi dậy khởi
nghĩa giành chính quyền.
Để làm rõ không khí Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Bắc Giang, GV
có thể hướng dẫn cho HS tham khảo thêm đoạn tư liệu:
Khoảng 4 giờ sáng ngày 18-8-1945, hai đồng chí Hồ Công Dự và Ninh
Văn Phan cùng một đội khoảng 6, 7 người trang bị dao găm, súng ngắn xuất
phát từ đình làng Song Khê vượt cầu sông Thương vào tỉnh Lỵ, đột nhập vào

23

dinh tỉnh trưởng lúc 6 giờ sáng, Vốn đã hoang mang, lại ở tình thế không thể
chống cự được, tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải đầu hàng, nộp toàn bộ vũ
khí và ra lệnh cho viên chánh án bảo an giao trại bảo an binh cho Việt Minh.
Lực lượng bảo vệ chiếm trại bảo an binh, thu được gần 200 khẩu súng. Viên

hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc.
Thực hiện Sắc lệnh trên, từ ngày 17 đến 29-9-1945, ở tỉnh ta “Tuần lễ
vàng” và “Quỹ độc lập” được chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh tổ
chức phát động rộng rãi trong nhân dân. Cán bộ của tỉnh được cử về các địa
phương tuyên truyền vận động nhân dân tự nguyện ủng hộ Chính phủ để xây
dựng và bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Nhiều hình thức tổ chức quyên
góp được nhân dân tích cực hưởng ứng. Nhiều người góp cả những chiếc vòng,
khuyên tai, nhẫn vàng, vật kỉ niệm quý nhất của đời mình cho cách mạng. Nhân
dân xã Song Vân (Yên Thế nay thuộc Tân Yên ) góp 5 đồng cân vàng, 20 cân
bạc trắng; Tân Dĩnh (Lạng Giang) góp 4,5 lạng vàng, Hoàng An (Hiệp Hoà)
góp một số khuyên vàng, xà tích và một số mâm thau bạc trắng. Ngoài ra nhân
dân còn góp hàng tấn đồng gồm nhiều mâm thau, nồi, đỉnh, chuông, tượng đồng
đen, v.v Ở một số nơi, nhân dân dùng kiệu rước vàng, bạc,…đến trụ sở Uỷ ban
nhân dân cách mạng để ủng hộ Chính phủ.
Với đoạn tư liệu đó, GV gợi mở để HS suy nghĩ về truyền thống của Bắc
Giang nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, trách nhiệm của bản thân trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Bài 18. (SGK Lịch sử 12- Ban cơ bản)
Trước những hành động khiêu khích của Pháp ở Hải phòng (11/1946), Hà
Nội (12/1946), trong hai ngày 18 và 19/12/1946, Thường vụ TƯ Đảng đã họp
quyết định phát động toàn quốc kháng chiến và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ra
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Để cụ thể hóa sự kiện này ở Bắc Giang, cần
sử dụng tài liệu LSĐP giúp HS hiểu rằng, Bắc Giang là địa bàn quan trọng
trong cuộc chiến đấu kìm chân địch trong đô thị. Ngay từ đầu, quân dân Bắc
Giang đã anh dũng chiến đấu, xông pha dưới làn mưa đạn, bất chấp cái chết để
giữ thành phố. Đây là những hình ảnh đẹp, tác động không nhỏ đến tình cảm
HS.

Trích đoạn TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG THỰC NGHIỆM SƯ PHAM VÀ KHÁI QUÁT Sử dụng các đoạn miêu tả phản ánh trong tài liệu LSĐP để góp phần tạo biểu tượng về các sự kiện LSDT cho HS. Sử dụng số liệu từ tài liệu lịch sử địa phương để tạo biểu tượng cụ thể về các sự kiện LSDT. Biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương để tổ chức cho HS thảo luận. Biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương để liên hệ thực tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status