skkn đề tài tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1954-1975 - Pdf 24

TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1954-1975
I. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
Đổi mới nội dung sách giáo khoa và phương pháp dạy học lịch sử hiện nay để nâng
cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng kết quả các kỳ thi tốt nghiệp THPT và
Đại học, cao đẳng, đồng thời khơi dậy niềm say mê đối với môn sử ở học sinh đang là
vấn đề được cả xã hội quan tâm. Từ những giáo sư đầu ngành Lịch sử, nhà biên soạn
sách giáo khoa và sách tham khảo cho đến khoa Sư phạm Lịch sử ở các trường Đại
học, các thầy cô trực tiếp dạy học ở các cấp trường đều đang nỗ lực cố gắng tìm
phương pháp để đưa môn Lịch sử trở lại với vị trí quan trọng trước đây trong học sinh
và xã hội, nhưng tìm ra giải pháp nào là tối ưu và phù hợp với xu thế phát triển hiện
tại của cách mạng khoa học công nghệ đang bùng nổ hiện nay là một thách thức lớn.
Hơn nữa do đặc trưng riêng của bộ môn Lịch sử: học tập lịch sử không bắt đầu từ trực
quan sinh động mà từ nắm sự kiện và qua tạo biểu tượng lịch sử, tạo biểu tượng lịch
sử là giai đoạn nhận thức đầu tiên của quá trình học tập lịch sử. Tuy nhiên trên thực tế
trong sách giáo khoa, sách giáo viên và cả sách tham khảo hiện nay vẫn chưa thực sự
gắn liền sự kiện, hiện tượng lịch sử với biểu tượng lịch sử, hạn chế đó là do giới hạn
số câu, số chữ trong một cuốn sách, trong khi đó để tạo biểu tượng lịch sử thì cần số
câu, số chữ dài kết hợp với hình ảnh và lời nói sinh động, hấp dẫn. Từ đó dẫn đến lịch
sử trở nên khó hiểu, khó nhớ, khô khan, không hấp dẫn đối với học sinh hiện nay. Tạo
biểu tượng lịch sử để tạo nên hứng thú học tập, khơi dậy những xúc cảm đúng đắn,
hình thành nên nhân cách cho học sinh, đồng thời phát huy năng lực độc lập nhận thức
học sinh đặc biệt là trí tưởng tượng, khả năng quan sát, so sánh và đánh giá nhân vật,
sự kiện , hiện tượng lịch sử.
2. Lịch sử vấn đề:
1
Biểu tượng lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong học tập lịch sử ở trường THPT
hiện nay nhưng tạo biểu tượng lịch sử lại rất khó và không phải GV nào cũng thực
hiện được vì dạy học học lịch sử là tái tạo lại sự kiện, hiện tượng lịch sử đúng như nó
đã tồn tại, đã xảy ra nhưng sự kiện đó, hiện tượng đó cả GV và HS đều không trực

- Mục đích: Nghiên cứu một số vấn đề lí luận tạo biểu tượng lịch sử , từ đó vận
dụng có hiệu quả vào dạy học phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 trong SGK
Lịch sử 12.
- Phương pháp:
+ Nghiên cứu các tài liệu về “phương pháp dạy học lịch sử”, tài liệu về “tâm lí học”
+ Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy
+ Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử 11,12.
+ Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh để từ đó điều chỉnh và bổ sung hợp
lí.
- Những đóng góp mới của đề tài:
Đề tài góp phần bổ sung về mặt lí luận tác dụng và phương pháp tạo biểu tượng lịch
sử, cụ thể hóa một số phương pháp tạo một số biểu tượng lịch sử cụ thể trong dạy học
lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH
SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
3
• Cơ sở lí luận của tạo biểu tượng lịch sử:
Đai-ri nhà giáo dục Liên Xô cũ đã từng nói: Dạy học lịch sử cũng như bất cứ dạy
cái gì đòi hỏi người thầy khêu gợi cái thông minh chứ không phải là bắt buộc các trí
nhớ làm việc, bắt ghi chép rồi trả lời. Như vậy mục đích của việc dạy học lịch sử là
người giáo viên không chỉ giúp cho học sinh hình dung được những kết quả của quá
khứ biết và ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà quan trọng hơn là hiểu được
lịch sử tức là phải nắm được bản chất của sự kiện Biểu tưởng lịch sử là “Biểu
tượng của trí tưởng tượng” ,với những quan niệm trên, có thể định nghĩa biểu tượng
lịch sử “Là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí vv
được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [8; tr
189].Cũng như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc trưng cơ
bản nhất của sự kiện,hiện tượng lịch sử. Tuy nhiên, việc tạo biểu tượng lịch sử cho
học sinh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự

học lịch sử ở nhà trường phổ thông trung học.
2a. Các loại biểu tượng lịch sử:
2.1.Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý:
Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định. Không
gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn, chẳng hạn như chiến trường Châu Âu
trong chiến tranh thế giới thứ 2, hoặc diễn ra trong phạm vi hẹp như địa điểm của một
trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa. Vì vậy, tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lý là yêu
cầu bắt buộc trong dạy học lịch sử để xác định chính xác không gian diễn ra sự kiện
lịch sử. Nếu như học sinh không có những hình ảnh về hoàn cảnh địa lý nơi xảy ra sự
kiện lịch sử thì những những hiểu biết về sự kiện lịch sử đó trở nên mơ hồ và không
5
thể khắc sâu trong đầu óc của học sinh. Nghĩa là việc tạo biểu tượng đã không thành
công.
2.2.Biểu tượng về nền văn hóa vật chất:
Đó là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong việc chế ngự thiên
nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần
của xã hội loài người. Chẳng hạn, khi nói về Kim Tự Tháp, một công trình kiến trúc
vô tiền khoáng hậu của lịch sử loài người thì giáo viên cần phải tạo cho học sinh
những biểu tượng về sự hùng vĩ của công trình này, về tinh thần lao động sáng tạo và
trình độ kiến trúc của các nhà khoa học cổ đại và sự hi sinh đổ máu của hàng chục vạn
người.
2.3.Biểu tượng nhân vật lịch sử:
Nhân vật lịch sử gồm có nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, họ là những
đại biểu điển hình của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, là những nhân vật có ảnh
hưởng đặc biệt đối với lịch sử thế giới cũng như lịch sử Việt Nam. Do đó, việc tạo
biểu tượng về nhân vật lịch sử cho học sinh cũng là một vấn đề quan trọng trong dạy
học lịch sử. Cách tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử trong chương trình phổ thông
trung học nói chung là dễ làm, chỉ có điều mất nhiều thời gian để chuẩn bị vì có quá
nhiều nhân vật tiêu biểu xuất hiện trong chương trình.
2.4.Biểu tượng lịch sử về thời gian:

7
Lênin đã từng nói "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn" [6; 42]. Qúa trình nhận thức hiện nói chung, nhận thức
lịch sử nói riêng đều tuân thủ theo quy luật này; tức là đi từ cảm tính đến lý tính:
từ cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm đến phán đoán và suy luật. Trong đó,
biểu tượng lịch sử có quan hệ hữu cơ với tất cả các qúa trình nhận thức trên. Nó đóng
góp vai trò quan trọng trong qúa trình tri giác. Nếu không có biểu tượng xuất hiện
bằng việc liên kết với các hình ảnh của tri giác thì các hình ảnh lịch sử này sẽ nghèo
nàn và khô cứng. Quá trình tri giác trở thành biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình thành
khái niệm, từ đó phát triển óc phán đoán suy luận của con người. Học tập lịch sử
cũng tuân theo qúa trình nhận thức hiện thực khách quan. Tuy nhiên, do đặc
trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học lịch sử phải trên cơ sở nắm bắt sự
kiện và tạo biểu tượng lịch sử từ đó tiến tới hình thành khái niệm, rút ra quy
luật và bài học lịch sử cho HS. Vì vậy, biểu tượng lịch sử chính là giai đoạn nhận
thức cảm tính của qúa trình học tập lịch sử. Nếu như không tạo biểu tượng thì hình
ảnh lịch sử mà HS thu nhận. Ý nghĩa to lớn của tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử là
cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử.Tạo biểu tượng lịch sử sống động giúp học sinh
khôi phục các bức tranh của quá khứ sinh động đúng như nó tồn tại. Mặt khác, tạo
biểu tượng về lịch sử còn giúp cho học sinh tránh được những sai lầm về “hiện đại
hóa” lịch sử, những nhận thức thiếu chủ quan, phiến diện và đánh giá, nhận định tình
hình thiếu cơ sở khoa học.
3.2 Về thái độ
Trong dạy học phổ thông, bộ môn lịch sử có vai trò giáo dục tư tưởng,
đạo đức, tình cảm cho học sinh rất lớn. Đặc biệt việc tạo biểu tượng sinh động, hấp
dẫn về các sự kiện, hiện tượng; nhất là về các nhân vật lịch sử sẽ có tác động sâu sắc
đến tư tưởng tình cảm các em. Các em không chỉ tri giác mà còn có những rung
động, xóc cảm và sự nhập thân vào lịch sử Và “ khi biểu tượng tham gia vào
hoạt động tư duy thì tư duy trở nên sinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn
trương”[17; tr76-77]. Biểu tượng lịch sử tác động không những lên trí tuệ mà cả về
8

chiến lược 1972, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 thì GV tạo biểu tượng như
sau: Những thắng lợi quân sự tiêu biểu diễn ra vào thời điểm mùa Xuân trong lịch sử
dân tộc trong giai đoạn 1954-1975. Tương tự như vậy GV có thể mở rộng hơn Những
thắng lợi quân sự tiêu biểu diễn ra vào thời điểm mùa Xuân trong lịch sử dân tộc từ
khi có Đảng lãnh đạo cho đến năm 1975: Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao Điện Biên
Phủ 1954, Đông Xuân 1964-1965 tiêu biểu trận Bình Giã, Mậu Thân 1968, Tiến công
chiến lược 1972 và Đại thắng mùa Xuân 1975.
Ví dụ 2: Tạo biểu tượng lịch sử bằng cụ thể hóa thời điểm diễn ra sự kiện bằng
cách nêu đặc trưng như sau: Trong kháng chiến chống Mỹ đây là hai sự kiện mở ra hai
bước ngoặt của cuộc kháng chiến, HS sẽ ghi nhớ đó là Mậu Thân 1968 bước ngoặt
đầu tiên buộc Mỹ tuyên bố “phi Mĩ hóa chiến tranh” thừa nhận thất bại “chiến lược
chiến tranh cục bộ”, buộc Mĩ phải đến bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari; Hiệp định
Pari 1973 là bước ngoặt thứ hai của cuộc kháng chiến: Mĩ phải tôn trọng các quyền
dân tộc cơ bản của Việt Nam, phải rút quân về nước, Mĩ cút tạo điều kiện để ta đánh
cho ‘ngụy nhào”.
-Tạo biểu tượng lịch sử bằng cách nêu chính xác niên đại một sự kiện hay một biến
cố lịch sử. Ví dụ: đó là sự kiện Bác Hồ qua đời 2/9/1969 sự ra đi của Bác là một tổn
thất đau đớn không gì bù đắp nổi đối với toàn thể dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng
chống Mỹ cứu nước đang trên đà thắng lợi. Cả đất trời như vỡ tung bởi tiếng
khóc thương Bác của dân tộc: "Suốt mấy hôm rồi đau tiễn đưa, Đời tôi nước mắt trời
tuôn mưa" Tất cả mọi người, không ai muốn tin vào sự thật đau lòng này:"Bác đã đi
rồi sao Bác ơi
Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng vui ngày hội
10
Rước Bác vào thăm thấy Bác cười"
Qua việc GV sử dụng những câu thơ trên của nhà thơ Tố Hữu đã khơi dậy
được trong mỗi HS sự xúc cảm mạnh mẽ. Các em cảm nhận được nỗi đau của dân tộc
khi mất đi Bác, vị cha già kính yêu của dân tộc. Từ đó hiểu được di nguyện của
Bác đối với đất nước, đối với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ ngày càng khốc

dậy là thế trận chiến tranh nhân dân, từ Quảng Trị qua Tây Nguyên đến Sài Gòn, thế
trận từ Tây sang Đông, đánh cắt giao thông, kết hợp vùng, miền và sự nổi dậy quần
chúng. Xây dựng thế trận chiến lược buộc địch bị động phân tán để đối phó, với ta,
ngược lại ta có điều kiện tập trung đánh đòn chiến lược Tây Nguyên đã phá vỡ thế
chiến lược địch, đánh Huế-Đà Nẵng làm đảo lộn thế chiến lược địch, gây đột biến
chiến tranh, mở chiến dịch Hồ Chí Minh đêt kết thúc chiến tranh.
4.3.Tạo biểu tượng lịch sử bằng sử dụng tài liệu, hiện vật
Tác dụng: giúp Hs tránh rơi vào tình trạng hình dung lịch sử theo một công thức
tránh hiện đại hóa lịch sử, đồng thời giúp Hs có biểu tượng đúng về đời sống vật chất,
đời sống tinh thần của thời đại.
Ví dụ: khi dạy về chính sách tàn bạo của Mĩ-ngụy không thể nói chug chung mà
cần tạo tượng lịch sử cụ thể gắn liền tội ác, đó chính là nhà tù Côn Đảo: Di tích lịch sử
Nhà tù Côn Đảo được xem là bàn thờ lớn và thiêng liêng của Tổ quốc, là nơi biểu hiện
cho sự đấu tranh khổ cực, hy sinh xương máu, là trường học cộng sản lớn, là nơi thể
hiện khát vọng hòa bình của các thế hệ cha, anh trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ
quyền của đất nước. Những mất mát, hy sinh to lớn ấy với mục đích giữ gìn sự hòa
bình cho đất nước, cho sự toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam. Những sự hy sinh thầm
lặng đó rất đáng được thế hệ hôm nay, mai sau ghi nhớ và vinh danh. Nhà tù Côn Đảo
12
là nơi mà nước, không khí, ánh sáng không mất tiền mua, không tốn công quỹ nhưng
được bố thí nhỏ giọt. Thiếu đạm, thiếu rau xanh, sinh tố, không khí ánh sáng, thiêú
điều kiện vệ sinh tối thiểu, bị đánh đập triền miên và bệnh tật.Nhưng ghê gớm hơn,
khủng khiếp hơn vẫn là Chuồng Cọp kiểu Mỹ. Bị giam ở đó người tù không có một
chút không khí để thở, lối đi giữa hai dãy buồng giam chỉ đủ cho một người đi, mái
che kín, thiếu không khí trầm trọng, trong phòng giam không có bệ nằm, người tù phải
nằm dưới nền xi măng ẩm thấp. Và hầm phân bò sâu 3m để ngâm những người tù
xuống đó tra tấn cực kỳ dã man và bí mật. Hệ thống nhà tù Côn Đảo với những nhà
giam, hầm xay lúa, khu biệt lập chuồng bò chính là những bằng chứng lịch sử hùng
hồn về tội ác mà thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai đã giành cho chúng ta. Gắn liền
Côn Đảo là những hình thức đấu tranh đặc biệt, toát lên khí phách kiên cường của dân

Chiến tranh xâm lược Triều
Tiên
36 54 136,9
Chiến tranh thế giới thứ hai 42 341 962,4
Chiến tranh thế giới thứ nhất 16 25 257,4
Chiến tranh giành độc lập ở Mĩ 13 0,8 10,6
Theo tính toán của Lầu Năm Góc, chi phí cho chiến tranh Việt Nam gấp 2,6 lần giá
trị toàn bộ hệ thống đường sá giữa các bang Hoa Kỳ (số liệu năm 1972), gấp 2,5 lần
tiền Mỹ viện trợ cho tất cả các nước kém phát triển trong 25 năm, ngốn 70% tiền
chuẩn chi cho quốc phòng Mỹ từ 1967 đến 1972. Như vậy, có thể thấy chi phí cho
chiến tranh Việt Nam là một con số “rợn người” và chính nó đã đẩy nền kinh tế Mỹ
lâm vào một cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc.
4.5.Tạo biểu tượng lịch sử bằng sử dụng tài liệu văn học:
Tác dụng: Việc vận dụng thơ ca trong dạy học lịch sử cũng góp phần quan trọng
nhằm phát huy tích tích cực chủ động nắm bắt tri thức lịch sử như địa danh, tinh thần
ý thức độc lập dân tộc, tinh thần lao động, chiến đấu bất khuất của cha ông, góp phần
bồi dưỡng học sinh lòng tự hào về dân tộc.
Ví dụ 1: Bài 21 Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống Đế Quốc
Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam ( với chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo
luật 10/59 của Mĩ Diệm) .Qua khổ thơ tạo biểu tượng cho học sinh về tội ác của Mĩ-
Ngụy.
Có những ông già chúng khảo tra
Chẳng khai nó chém giữa sân nhà
14
Có chị gần sinh không chịu nhục
Lấy vồ nó đập vọt thai ra (Tố Hữu)
Ví dụ 2: Bài 22 Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống Đế Quốc Mĩ xâm
lược. nhân dân miền bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất( chiến tranh phá hoại lần 2 của
Mĩ với 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng…)
Chúng muốn biến ta thành tro bụi

Ai về Sơn Tịnh quê ta,
Đừng quên chiến thắng Ba Gia lẫy lừng.”
“Dân mình như hòn đá trên non,
Trời lay không chuyển, gió lòn không xê.
Nó xúc bên ni, nó đổ bên tê,
Phá rào, vượt lối, ta về làng ta”
(Phong trào phá “Ấp chiến lược”)
Công tác binh vận trong cuộc chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”:
“Cùng nhau máu mủ, ruột rà,
16
Nỡ theo Mĩ – Diệm, đốt nhà hại dân.”
“Anh em binh sĩ có hay,
Hai chữ “US” in đầy quân trang.
Ngồi xe “US” đi càn,
Cầm súng “US” bắt làng, hại dân”.
Khi tạo biểu tượng cho HS về tinh thần gắn bó ruột thịt của nhân dân hai miền Nam-
Bắc có thể sử dụng câu ca dao sau: Nghĩa tình Bắc – Nam:
“ Bắc Nam là con một nhà,
Là gà một mẹ, là hoa một cành.
Nguyện cùng biển thẳm non xanh
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền”
Ví dụ 4: Tạo biểu tượng về niềm vui chiến thắng khi chiến dịch Hồ Chí Minh kết
thúc thì GV có thể sử dụng đoạn thơ sau: Bài 23– “Khôi phục và phát triển kinh tế xã
hội miền Bắc giải phóng hoàn toàn miền Nam 1973-1975”Với chiến dịch Hồ Chí
Minh, toàn thắng đã về ta, trong giờ phút thiêng liêng ấy lòng mỗi người dân đều rạo
rực muốn dâng chiến công lên Bác:
Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa

công trình giao thông. Ngã ba Đồng Lộc - một vùng đồi nhỏ hẹp, mặt đất không còn
18
màu xanh cỏ cây, hố bom chồng chất hố bom. Âm mưu chốt chặn chi viện của đế
quốc Mỹ tại “tọa độ lửa” bị thất bại hoàn toàn. Trên trọng điểm ác liệt, tàn khốc ở Ngã
ba Đồng Lộc, đường vẫn thông, các đoàn xe vẫn nối đuôi nhau ra tiền tuyến góp phần
chi viện kịp thời cho quân và dân miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.Lực lượng
bộ đội với Trung đoàn pháo cao xạ 210 thuộc Sư đoàn 304, Tiểu đoàn 8 pháo cao xạ
bộ đội địa phương Hà Tĩnh và các đại đội trực chiến súng bộ binh của dân quân tại
chỗ đã bám trụ chiến đấu kiên cường giữa bom đạn ác liệt, gió Lào nắng nóng, đánh
hơn 1.076 trận. Trên trọng điểm ác liệt Ngã ba Đồng Lộc, hầu như ngày nào các đơn
vị cũng có thương vong tổn thất Hồi 17h ngày 24/7/1968 tiểu đội 4 thanh niên xung
phong được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lập hố bom sửa chữa
đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo
để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Tiểu đội 4 hôm ấy có 10 cô gái trẻ: Nhận
nhiệm vụ xong, các cô đến tại hiện trường gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui
được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi. Họ làm việc không
ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý ới gọi nhau. Bỗng một tốp máy bay phản lực từ h
ướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm. Tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống
đường. Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc. Bất ngờ tốp máy bay phản
lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái. Các tiểu
đội thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy
cũng lao ra gọi tên từng người. Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu
hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe
thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái trẻ ấy đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ từ 17 đến
22 tuổi Những tập thể, cá nhân được phong tặng anh hung: Đại đội 551 TNXP; tập
thể 10 cô gái Tiểu đội 4 thuộc Đại đội 552, Tổng đội 55TNXP do Võ Thị Tần làm tiểu
đội trưởng cùng Hồ Thị Cúc, Trần Thị Hường, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn
Thị Nhỏ, Võ Thị Hà, Dương Thị Xuân, Nguyễn Thị Xuân và Võ Thị Hợi đã bám trụ
kiên cường ở Ngã ba Đồng Lộc trong những ngày bom đạn ác liệt nhất và cả 10 cô
anh dũng hy sinh cùng một lúc giữa tuổi đời 18-20 trong một trận mưa bom của giặc

viện và lưu trữ văn thư trung ương ở Hà Nội; nhưng sau đó y bỏ trốn sang Lào vào
năm 1948 về sống ẩn dật ở Đà Lạt. Về phía Diệm, năm 1950 y sang Mỹ sống
và học ở đại học Michêgan - Hoa Kỳ. Năm 1954 y được Bảo Đại mời làm thủ
tướng, năm 1955 đảo chính lật đổ Bảo Đại. Từ đó hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô
Đình Nhu trực tiếp dối đầu với cách mạng Việt Nam. Được nuôi dưỡng từ thế lực
ngoại bang qua bàn tay tên trùm gián điệp Hồng Y Spellman, Diệm và gia đình y là
tiêu biểu cho tầng lớp đại tư sản, đại địa chủ phản động đội lốt thiên chúa giáo. Nên
để duy trì chính quyền, y cùng em trai đã thi hành chính sách khủng bố, diệt chủng đi
ngược truyền thống dân tộc, ra sức phá hoại cách mạng Việt Nam. Ngày 1/11/1963
do hết giá trị lợi dụng, anh em Diệm - Nhu đã bị các thế lực khác do Mỹ dàn dựng, tổ
chức giết chết trong cuộc đảo chính Diệm. Qua những nét tiểu sử cơ bản trên, HS có
biểu tượng chính xác về hai anh em Diệm - Nhu, những kẻ phản bội dân téc, giống
nòi cuối cùng đã bị lịch sử lên án và chõng trị. Các em hiểu được bản chất phản động
của Diệm - Nhu, đánh giá được tội ác của chúng đối với dân tộc, căm ghét
những hành động tàn bạo của chúng với quần chúng nhân dân.
Ví dụ 2: Khi tạo biểu tượng về nhân vật Nguyễn Văn Trỗi trong dạy học bài 25:
Mục II: Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mĩ
(1961 - 1965) .Tiêu biểu là chiến sĩ biệt đồng Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi. Tìm đến
với cách mạng, hoạt động của anh chiến đấu chống kẻ thù là rất nhiều, nhưng tạo
biểu tượng về nhân vật này không thể không khắc sâu sự kiện ngày 9/5/1964: anh
được giao nhiệm vụ giết tên bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mácnamara – một tên trùm tội
ác chiến tranh. Sau khi nghiên cứu quy luật đi về của Mácnamara, anh quyết định
dùng cách đánh đặt mìn điểm hỏa bằng điện ở cầu Công Lý, đón tên
Mácnamara trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh bị bại lộ, anh đã
bị bắt. Giặc giam giữ và dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man hòng khuất
phục anh nhưng không lay chuyển được tấm lòng kiên trung của anh đối với Tổ quốc.
Chúng đã kết án tử hình và hèn hạ giết anh (10/1964). Những phút cuối cùng trên
21
pháp trường anh đã hiên ngang vạch tội quân thù, khẳng định cách mạng Việt Nam sẽ
thắng lợi. Trước làn đạn của quân thù, anh dõng dạc hô to: "Hồ Chí Minh

Tác dụng: Phương pháp hình tượng hóa một hiện tượng lịch sử thường gắn liền
với những hiện tượng và mối quan hệ phức tạp, giải thích lí luận và hình thành khái
niệm bình thường thì HS không có biểu tượng cụ thể. Hình tượng hóa một hiện tượng
lịch sử giúp các em dễ tiếp thu nội dung và hiểu rõ bản chất hiện tượng.
Ví dụ: Khi dạy về Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước phân
tích đây là thất bại nặng nề nhất trong lịch sử nước Mĩ, GV cần tạo cho HS hình tượng
Hội chứng VN : Người ta có thể gặp lại những ký ức nhức nhối khi tới thăm Bức
tường Chiến tranh Việt Nam tại Washington DC - một trong những địa điểm thu hút
nhiều du khách nhất khi tới thủ đô của Mỹ. Chỉ cao so với mặt đất vài mét, bức tường
dài 75m gồm 72 tấm đá hoa cương đen quý hiếm ghép lại, tấm thấp nhất 20cm, cao
nhất 3m, được đánh số thứ tự rất khoa học. Họ tên của hơn 58.000 lính Mỹ tử trận tại
cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc lên đá hoa cương. Không có những biểu tượng
của chủ nghĩa anh hùng, niềm vinh quang, lòng yêu nước hay bài học đạo đức thường
thấy ở các đài tưởng niệm chiến tranh, Bức tường Chiến tranh Việt Nam chỉ là ký ức
buồn đau của quá nhiều người Mỹ thời trai trẻ
III. PHẦN KẾT LUẬN
Mặc dù thời gian rất hạn chế nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào
các tiết dạy và đã đạt được kết quả khả quan. Trước hết bản thân đã nhận thấy rằng
những kinh nghiệm này rất phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với
những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ
động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực
hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ
nhàng và học sinh yêu thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài
23
này học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích
môn học này hơn.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status