A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, giáo dục và
đào tạo ngày càng được coi trọng và trở thành vấn đề bức thiết trước sù
bùng nổ thông tin của thế giới hiện đại. Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục
tiêu giáo dục hiện nay và quán triệt việc thực hiện tốt nhiệm vô đào tạo ra
các thế hệ người phát triển toàn diện về mọi mặt Đức-Trí-Thể-Mỹ và Lao
động. Bởi nguồn lực con người là vốn quý giá nhất của bất cứ một quốc gia
nào.
Trên tinh thần phát triển con người chung, sự nghiệp giáo dục ngày
càng được đẩy mạnh và phát triển toàn diện. Đặc biệt, việc đổi mới về nội
dung, phương pháp dạy học đối với chương trình giáo dục nói chung, trong
đó có bộ môn Lịch sử đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy
nhiên, cải cách giáo dục là cả một quá trình cần phải luôn luôn được tăng
cường có hiệu quả.
Do đặc trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử
phải dùa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử. Vì vậy, trong
dạy học lịch sử, việc tạo biểu tượng có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt là
tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, vì sự liện là cơ sở của tri thức lịch sử,
mà nhân vật lịch sử là những con người làm lên sự kiện đó. Tuy nhiên,
trong dạy học lịch sử một bộ phận giáo viên chưa gắn liền sự kiện lịch sử
với nhân vật lịch sử, chưa khắc họa sinh động về chân dung nhân vật. Vì
vậy, thực tế cho thấy hiện tượng học sinh nhầm lẫn hoặc không hiểu về
nhân vật là phổ biến.
Ví dụ: Các em nhầm lẫn Bà Trưng, Bà Triệu là hai chị em. Hay khẳng
định rằng Lưu Vĩnh Phóc là kẻ cầm đầu bọn loạn đảng cờ đen, nổi dậy
chống giặc Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Như vậy, là không hiểu đúng
về lịch sử.
Dạy và học bộ môn lịch sử được xem là một nội dung quan trọng trong
việc giáo dục đạo đức, tình cảm cho học sinh trong nhà trường hiện nay.
Tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử về những tấm gương người thật việc
Trong các tác phẩm lý luận dạy học của M. N. Sácđacôp “Tư duy
của học sinh” Nxb Giáo dục Hà Nội 1970 và Hồ Ngọc Đại “Tâm lý dạy
học” Nxb Giáo dục 1983 đã đề cập đến việc tạo biểu tượng lịch sử như là
một trong các khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức lịch sử. Tác giả
Hồ Ngọc Đại đã nêu lên vai trò của việc tạo biểu tượng thông qua việc
khẳng định quá trình tri giác để tạo biểu tượng “sẽ trở thành chỗ dùa khi
lĩnh hội tri thức”. Tuy nhiên, với việc đưa ra các lý luận quan trọng trong
dạy học nói chung, hai tác phẩm trên chưa đề cập đến các biện pháp sư
phạm tạo biểu tượng lịch sử cũng như tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1, Giáo sư Phan
Ngọc Liên chủ biên, Nxb Đại học sư phạm 2002. Phần viết của Phó giáo
sư. TS Trịnh Đình Tùng về biểu tượng lịch sử đã nêu lên những vấn đề
khái quát nhất về biểu tượng lịch sử. Giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu
tượng lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm
biểu tượng lịch sử.
Về việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử đã được đề cập khá rõ
trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc
Liên - Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi - Trần Vĩnh Tường đồng chủ
biên. Bài viết của TS Đặng Văn Hồ - Khoa lịch sử - Đại học sư phạm - Đại
học Huế với nhan đề “tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư
tưởng, tình cảm cho học sinh” đã nêu lên những lí luận cơ bản về tạo biểu
tượng nhân vật lịch sử, vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng các nhân vật
lịch sử, các nguyên tắc và một số biện pháp cụ thể. Bên cạnh đó, bài viết
của TS Đặng Thanh Toán “Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí
Minh trong giáo dục lịch sử để giáo dục cho học sinh tinh thần quốc tế
chân chính” là một ví dụ làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về tạo biểu
tượng nhân vật.
Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử
THCS phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở
trường THPT” tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là quá trình tạo biểu
tượng các nhân vật lịch sử giai đoạn 1954 – 1975.
- Mục đích của đề tài:
Trong phạm vi đề tài một bài tập lớn năm ba chúng tôi muốn trên cơ
sở nghiên cứu tài liệu tham khảo, đưa ra một số vấn đề lí luận của việc tạo
biểu tượng các nhân vật trong dạy học lịch sử và vận dụng có hiệu quả vào
giảng dạy hệ thống nhân vật trong bộ môn lịch sử Việt Nam líp 12 giai
đoạn 1954 – 1975.
- Nhiệm vụ của đề tài:
Nghiên cứu đề tài này, bài tập nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu một số vấn đề lí luân của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch
sử.
Kết hợp lí luận và thực tiễn, đưa ra một số biện pháp sư phạm về tạo
biểu tượng các nhân vật trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 –
1975.
Điều tra phạm vi hẹp tiếp xúc thực tế của đợt thực tập lần mét, đưa ra
được những nhận xét cần thiết trong dạy học về tạo biểu tượng nhân vật
trong bộ môn lịch sử Việt Nam ở trường THPT Kim Bảng A – Hà Nam.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận:
Với đề tài nghiên cứu thuộc nhóm ngành khoa học giáo dục – khoa
học xã hội, chúng tôi đứng trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục nói chung và
dạy học lịch sử nói riêng. Về mặt nội dung được nghiên cứu trong đề tài
còng đảm bảo được tính khoa học và tính Đảng Mácxít – Lêninnít.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở đề tài thuộc chuyên ngành “Phương pháp dạy học lịch
sử” chúng tôi tiến hành nghiên cứu giải quyết các vấn đề của bài tập bằng
các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
ảnh trực quan đó luôn tác động lên các cơ quan thụ cảm khác nhau của hệ
thần kinh con người và được duy trì một khoảng thời gian nhất định trong ý
thức của họ. Với quan niệm trên P. A. Ruđích cho rằng biểu tượng là
“Những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được
giữ lại trong ý thức và hình thành trên cơ sở các tri giác và các cảm giác
xảy ra trước đó”.[16;tr 180] Tuy nhiên, trong thực tế các biểu tượng thường
mê nhát hơn các tri giác và những dấu hiệu về các sự vật, hiện tượng đã tri
giác được có thể không có trong biểu tượng. Quá trình tri giác luôn mang
tính trực quan cụ thể. Các hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc
điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Và trong những trường hợp khác nó
phản ánh cả những đặc điểm bên trong của sự vật. Đó là sự nhận thức của
hoạt động tư duy. Như vậy, theo tâm lí học biểu tượng là những hình ảnh
trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật và hiện tượng đã được
tri giác trước đây.
Do đặc trưng của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt
đầu từ trực quan sinh động. Vì lịch sử là những cái đã qua, không thể trực
tiếp quan sát quá khứ cũng như tái tạo lại nó trong phòng thí nghiệm như
toán học, hoá học hay vật lí. Bởi vậy, việc học lịch sử phải bắt đầu từ việc
nắm các sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử. Trong học tập lịch sử không có
biểu tượng nảy sinh từ những trực giác đối với các sự kiện, hiên tượng lịch
sử. Mà việc hình thành nên những biểu tượng lịch sử phải dùa trên những
sự kiện, hiện tượng đã được con người nhận thức từ trước để nhằm tái tạo
lại một cách chính xác và sinh đông.
Ví dô: Khi tạo biểu tượng lịch sử về không gian địa lí là thung lòng
Điện Biên Phủ trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Chóng ta không
được trực tiếp quan sát trận địa Điện Biên Phủ tại thời điểm đó được bè trí
giữa ta và địch như thế nào. Muốn tạo được biểu tượng, chóng ta phải sử
dụng những hình ảnh, ghi chép của các phóng viên, nhà báo hay nhà kí sự
chiến tranh đã từng được chứng kiến hay nghe kể. Khi đó, biểu tượng lịch
sử được hình thành dùa trên cơ sở của sự truy giác gián tiếp. Vì vậy,
phát xít khủng khiếp trong lịch sử nhân loại; đưa thế giới vào vòng một
cuộc chiến tranh tàn bạo, ác liệt, huỷ diệt lớn nhất trong lịch sử loài người.
Việc tạo biểu tượng các nhân vật cho học sinh trong dạy học lịch sử
chính là việc khắc hoạ những hình ảnh, chi tiết đặc trưng nhất, điển hình
nhất về các nhân vật đó. Bất cứ một sự kiện, hiện tượng nào còng đều gắn
liền với một nhân vật lịch sử nhất định; và sự xuất hiện của nhân vật đó có
tác động, ảnh hưởng nhất định tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò của họ trong một
thời kỳ lịch sử. Chúng ta biết rằng lịch sử xã hội chính là lịch sử của con
người. Tất cả những thành tựu từ xưa đến nay đều do con người sáng tạo
nên. Vì vậy việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử chính là góp phần cụ thể
hoá các sự kiện, hiên tượng lịch sử. Con người với hoạt động phong phú và
đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nên việc tạo biểu tượng nhân vật
lịch sử còng được chia thành nhiều nhóm hoạt động trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá Mỗi một nhân vật hoạt động trong một
hoặc nhiều lĩnh vực, vì vậy trong dạy học lịch sử, người giáo viên cần nhận
thức đúng vai trò của họ trên từng lĩnh vực cụ thể, từ đó có thể phân loại
các nhân vật để tạo biểu tượng sâu sắc, điển hình nhất cho học sinh.
Ví dụ: Về nhân vật Hồ Chí Minh, Người hoạt động chủ yếu trên lĩnh
vực quân sự- cách mạng, nhưng đồng thời người còng là một nhà văn, nhà
thơ, mét danh nhân văn hoá thế giới. Giáo viên cần khai thác tư liệu để tạo
biểu tượng chân dung Người chân xác và sinh động nhất, phù hợp với nội
dung từng bài học yêu cầu. Tóm lại, việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
trên lĩnh vực nào là do nội dung của kiến thức bài học quy định.
Mặt khác, theo quan điểm của triết học Mac, con người bao gồm
quần chúng nhân dân và cá nhân tiêu biểu. Vì vậy, việc tạo biểu tượng
nhân vật lịch sử cũng bao gồm cả hai đối tượng đó. Quần chúng nhân dân
và cá nhân tiêu biểu luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Cá nhân là
những lãnh tụ, người đứng đầu của một tổ chức, giai cấp nhất định. Họ là
đại diện tiêu biểu nhất cho một bộ phận quần chúng, có tài năng xuất
chóng, đứng ra tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện các yêu
cứng. Quá trình tri giác trở thành biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình thành
khái niệm, từ đó phát triển óc phán đoán suy luận của con người. Học tập
lịch sử cũng tuân theo qúa trình nhận thức hiện thực khách quan. Tuy
nhiên, do đặc trưng riêng biệt của nhận thức lịch sử, việc học lịch sử phải
trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử từ đó tiến tới hình
thành khái niệm, rót ra quy luật và bài học lịch sử cho HS. Vì vậy, biểu
tượng lịch sử chính là giai đoạn nhận thức cảm tính của qúa trình học tập
lịch sử. Nếu như không tạo biểu tượng thì hình ảnh lịch sử mà HS thu nhận
sẽ nghèo nàn, hiểu biết lịch sử không sâu sắc, không phát triển tư duy và
không có cơ sở hình thành khái niệm.
Sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm trong học
tập lịch sử là một trong những đặc điểm chung của phát triển tư duy. Hai
qúa trình này vừa tiến hành một cách độc lập, vừa hòa vào nhau trong một
thể thống nhất. Với ý nghĩa này, Sácđacốp đã diễn đạt lại ý của Avarông:
"Không có khái niệm nào dù là trừu tượng đến mấy mà không chứa đựng
trong nó nội dung cảm tính nào đó và không có hình tượng nào dù là cụ thể
đến mấy mà không hướng vào từ" [14; 43-44]. Biểu tượng là sự minh họa
cụ thể cho khái niệm bằng những hình ảnh sinh động. Nội dung của các
hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phó bao nhiêu thì hệ
thống khái niệm mà HS thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu. Bởi vậy,
biểu tượng rất gần với khái niệm sơ đẳng.
2.2. Ý nghĩa
2.2.1. Về nhận thức
Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật nói riêng chân
thực, sống động giúp học sinh khôi phục các bức tranh của quá khứ sinh
động đúng như nã tồn tại. Mỗi nhân vật lịch sử đều đại diện cho mét giai
cấp nhất định. Nhiều đặc điểm cá nhân tiêu biểu sẽ là đặc trưng chung cho
giai cấp mà họ phục vô. Điều này giúp học sinh hiểu được mét cách tương
đối và đầy đủ bản chất của từng giai cấp hay tầng líp xã hội nhất định. Từ
đó lí giải các mối quan hệ xã hội của cá nhân, hình thành cho học sinh các
Ví dụ: Tạo biểu tượng về nhân vật Crôm-oen, giáo viên khắc hoạ sâu
về “Đội quân sườn sắt” do ông lập nên. Chính đội quân này đã giúp cho
ông chiến thắng được quân đội của nhà vua trong cuộc nội chiến. Đây cũng
là vai trò của ông trong cuộc cách mạng tư sản Anh.
2.2.2 Về thái độ
Trong dạy học phổ thông, bộ môn lịch sử có vai trò giáo dục tư
tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh rất lớn. Đặc biệt việc tạo biểu tượng
sinh động, hấp dẫn về các sự kiện, hiện tượng; nhất là về các nhân vật lịch
sử sẽ có tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm các em. Bởi vì đó là những
biểu tượng về con người thực trong quá khứ. Trong một hoàn cảnh cụ thể,
hành động của họ có tác động mạnh đến tư tưởng, tình cảm ở các em. Các
em không chỉ tri giác mà còn có những rung động, xóc cảm và sự nhập
thân vào lịch sử. Biểu tượng các nhân vật lịch sử “thường biểu thị tình cảm
đạo đức và là yếu tố kích thích những cảm xóc đạo đức, hành vi đạo đức”.
Và “ khi biểu tượng tham gia vào hoạt động tư duy thì tư duy trở nên sinh
động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp và khẩn trương”[17; tr76-77]. Biểu tượng
nhân vật lịch sử tác động không những lên trí tuệ mà cả về tâm hồn và tình
cảm, là yếu tố hình thành nên nhân cách của hoc sinh.
Thông qua các bài học lịch sử, những hành động đấu tranh, hi sinh
anh dũng quên mình Tổ quốc, vì sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động
có sức hấp dẫn lôi cuốn cực kỳ đối với học sinh. Vì ở độ tuổi các em tình
cảm dễ rung động và có những xúc cảm lịch sử sâu sắc. Từ đó hình thành ở
các em lòng khâm phạuc, biết ơn đối với các anh hùng, vĩ nhân trong lịch
sử. Đồng thời có ý thức tự giác về trách nhiệm của mình trong cuộc sống
hôm nay. Ngược lại, các hành động xấu xa, tàn bạo sẽ hình thành ở các em
thái độ căm ghét. Biểu tượng về nhân vật lịch sử phong phú sẽ giúp các em
nhận thức được cái đep, cái xấu để chọn lọc học tập.
Ví dô: Khi dạy bài 18: Phong trào giải phóng dân téc 1939-1945, đến
mục I.2: Tình hình kinh tế, xã hội. Giáo viên tạo biểu tượng cho học sinh
về hình ảnh của hơn 2 triệu người dân bị chết trong nạn đói cuối 1944 đầu
hình nhất, có đóng góp lớn cho nội dung bài học để đảm bảo xây dựng hiệu
quả của bài.
3.4. Đảm bảo mục đích giáo dục cho HS
Việc dạy học có tính giáo dục giúp cho HS củng cố được kiến thức,
kỹ năng còng như nắm được cơ sở lý luận và hành vi đạo đức. Đảm bảo
tính giáo dục khi tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử có nghĩa là chú ý đến
hiệu quả giáo dục khi lùa chọn phác họa, giảng dạy cho HS. Lùa chọn
những chi tiết, sự kiện ở nhân vật có thể gây ở HS sù rung dộng mạnh mẽ,
sâu sắc. Tạo biểu tượng các nhân vật anh hùng phải khơi dậy trong các em
lòng khâm phục và sự kính trọng, biết ơn; từ đó bồi dưỡng đạo đức, hình
thành nhân cách tốt đẹp ở các em, thúc đẩy hành động đúng đắn. Ngược
lại, tạo biểu tượng các nhân vật phản diện phải hình thành ở các em thái độ
căm ghét, bảc bỏ, phê phán hành động tàn bạo xấu xa. Đó là yêu cầu giáo
dục tư tưởng rất quan trọng cho HS trong việc tạo biểu tượng nhân vật lịch
sử. Đặc biệt, yêu cầu đó càng được thúc đẩy quan trọng hơn trong thời đại
ngày nay khi nhiều luồng thông tin cùng tồn tại, các em cần phân biệt được
cái tốt, cái xấu, nắm vững và bảo vệ được giá trị lịch sử to lớn của dân téc.
Ví dô: khi tạo biểu tượng về những hoạt động của Nguyễn Tất Thành
trong buổi đầu quá trình đi tìm đường cứu nước, GV giảng giải: Người đã
phải bôn bao qua nhiều nước, sống cùng với nhân dân lao động bị áp bức
trên thế giới, làm nhiều nghề kiếm sống vất vả, cực khổ:
"…Người đi tìm khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi.
Những đất tự do, những trời nô lệ
Và sương mù thành Luân Đôn ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya
Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng Bác sưởi cả một mùa băng giá?"
Qua đoạn thơ trong bài "Người đi tìm hình của nước" của Chế Lan
Viên, GV có thể giáo dục cho HS càng thêm lòng kính trọng Bác khi hiểu
được cuộc đời vất vả vì nước, vì dân của Người.
bộ môn cũng như việc giảng dạy nhân vật lịch sử bằng biện pháp tạo biểu
tượng. Nhiều GV đã có những sự tìm tòi tư liệu phong phú, chuẩn bị đồ
dùng trực quan, kết hợp với các phương pháp sư phạm tạo nên các biểu
tượng về chân dung nhân vật lịch sử sinh động, hấp dẫn. Từ đó thúc đẩy
HS học tập tích cực, hoàn thành các mục tiêu giáo dục đề ra.
Qua một tháng thực tập lần 1 ở trường phổ thông, em đã có sự tìm
hiểu và trực tiếp tiếp xúc ở mức độ nhất định trong việc giảng dạy lịch sử ở
trường THPT Kim Bảng A - Hà Nam. Trên cơ sở đó rót ra được những
nhận xét có thể ở trường thực tập về vấn đề tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
như sau:
Các thầy cô đều đã nhận thức được vai trò của vấn đề tạo biểu tượng
nhân vật lịch sử và tác dụng của nó trong giê học. Đồng thời, trong quá
trình giảng dạy tới nội dung kiến thức lịch sử của bài có nhân vật, GV đều
tìm các truyền đạt đến HS bằng những biểu tượng sâu sắc nhất. Một số thầy
cô đã tạo được không khí giê học hứng thó cho HS, kích thích được trí
thông minh của các em.
- Về phía HS:
Một bộ phận các em đã thực sự hứng thó với giê học lịch sử với
niềm đam mê nghiêm tóc. Chất lượng của các kỳ thi tốt nnghiệp, kì thi đại
học, kỳ thi học sinh giỏi quốc gia môn lịch sử có nhiều bài thi đạt chất
lượng khá, giỏi. Trong nội dung tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử còng đã
thu hót được các em say mê tìm tòi kiến thức về nhân vật lịch sử, hình
thành biểu tượng. Ở trường phổ thông Kim Bảng A, một bộ phận tương đối
lớn các HS khi được hỏi đều trình bày thích thó với việc học nhân vật lịch
sử, đặc biệt thông qua tạo biểu tượng sinh động về các nhân vật đó. Song,
bên cạnh những việc tích cực nói trên còn tồn tại nhiều điểm bất cập trong
nội dung tạo biểu tượng nhân vật lịch sử. Trong phạm vi một bài tập năm
thứ 3, bài viết chỉ dừng lại ở việc trình bày những vấn đề thực tiễn của việc
tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trên cơ sở những tổng kết của các nhà giáo
dục lịch sử mà chưa có kinh nghiệm bản thân.
giáo dục càng tác động to lớn đến chất lượng dạy học; Mà tác động tiêu cực
của nó là việc một số thầy cô chưa trau dồi nghề nghiệp của mình thật tốt.
Mặt khác, về chủ quan, nhận thức của giáo viên và học sinh về vị trí
và tác động của bộ môn lịch sử đều chưa sâu sắc. Dẫn đến việc thiếu trau
dồi nội dung kiến thức của giáo viên, trong đó có tạo biểu tượng nhân vật
lịch sử; nên truyền đạt không gây được hứng thó học tập ở các em. Vì vậy,
hệ thống phương pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử để GV vận dụng có
hiệu quả vào giảng dạy là vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
tổng kết thực tiễn của các nhà giáo dục, chúng tôi đưa ra một số biện pháp
nhằm tạo biểu tượng nhân vật cho HS qua giai đoạn lịch sử Việt Nam 1954
- 1975 líp 12 THPT.
Chương II
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG CÁC NHÂN VẬT
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 -1972
LÍP 12 THPT
I. Vị trí, mục đích, nghiên cứu cơ bản của giao đoạn lịch sử Việt Nam
1954 - 1975 líp 12 THPT
1. Vị trí
Giai đoạn lịch sử Việt Nam 1954 - 1975 thuộc chương IV "Việt Nam
từ năm 1954 đến năm 1975" SGK líp 12 - Ban KHXH&NV. Khóa trình
này bao gồm 5 bài, từ bài 24 "Miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế
xã hội, miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm gìn giữ hòa bình
(1954 - 1960)" đến bài 28 "Khôi phục và phát triển kinh tế xã hội miền
Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)". Đây là chương có vị
trí rất quan trọng với toàn bộ tiến trình lịch sử dân téc, nã thể hiện cuộc đấu
tranh trường kỳ gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của một đất nước vừa
trải qua ách thống trị của thực dân Pháp nay lại phải chống tên đế quốc đầu
xỏ là Mỹ và tay sai. Đó là quá trình đấu tranh lâu dài suốt 21 năm, trong đó
không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, làm nghĩa vụ hậu phương lớn cho
miền Nam; có vai trò quyết định nhất đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước. Trong khi đó miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân téc, dân
chủ nhân dân, từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, có
vai trò quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc kháng chiến. giải phóng
miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là do đường lối
chủ đạo độc lập, sáng tạo về chính trị và quân sự của Đảng. Đó là đường lối
tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng XHCN ở miền Bắc,
cách mạng dân téc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Nhờ đó, Đảng ta đã kết
hợp và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân téc vào cuộc chiến đấu.
- Về mặt giáo dục:
Việc học giai đoạn lịch sử này giáo dục cho HS lòng căm thù quân
xâm lược, căm ghét chiến tranh, quý trọng nền hòa bình, độc lập màc các
em đang sống.
Bên cạnh đó, giáo dục cho HS thái độ khâm phục và biết ơn các anh
hùng dân téc đã hi sinh quên mình để bảo vệ Tổ quốc vì lý tưởng độc lập
dân téc. Đồng thời, kính trọng quần chúng nhân dân trong lao động và sản
xuất. Đặc biệt là nhân dân miền Bắc với tinh thần hăng say sản xuất và xây
dựng CNXH chi viện sức người sức của cho miền Nam. Tù hào về truyền
thống đoàn kết đánh giặc cứu nước của dân téc. Từ đó giáo dục cho HS
nhận thấy trách nhiệm của mình đối với quê hương đất nước, hình thành ý
thức biết ơn và hành động trả ơn đối với thế hệ đi trước, biết giúp đỡ những
người cô đơn tàn tật.
- Về mặt phát triển:
Nội dung lịch sử giai đoạn 1954 - 1975 rất phong phú và đa dạng. Vì
vậy, việc kết hợp các đồ dùng trực quan, phương tiện dạy học phù hợp với
từng nội dung lịch sử sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phát triển toàn diện
HS về trí tưởng tượng, óc tư duy, sự phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá.
Đặc biệt, phát triển kỹ năng thực hành bộ môn như vẽ và sử dụng bản đồ,