Luận văn thạc sĩ: Sử dụng Bảo tàng Phòng không - không quân trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội - Pdf 30

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI VNG TH NG
"Sử dụng Bảo tàng Phòng không - Không quân
trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975)
ở trờng Trung học cơ sở tại Hà Nội"
CHUYấN NGNH: PHNG PHP DY HC LCH S
M S:
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Trnh ỡnh Tựng
H NI - 2014
MỤC LỤC
KẾT LUẬN 97
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với bất cứ quốc gia nào, thời đại nào, giáo dục cũng có vị trí quan
trọng trong sự phát triển xã hội. Xưa kia cha ông ta đã có câu: "Quy trí tất
hưng" (Chăm lo cho giáo dục thì đất nước hưng thịnh). Ngày nay, giáo dục là
phát triển. Năm 2004, UNESCO khẳng định: "Không có một sự tiến bộ nào,
sự thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo
dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ
tri thức và khả năng cần thiết tiến hành sự nghiệp giáo dục một cách hiệu
quả thì số phận quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả
sự phá sản".
Như vậy. vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời đại mới. Tháng 4/2006,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Đổi
mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung,
phương pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo bước chuyển

kiến thức, mà phải đặt trọng tâm vào khơi dậy đam mê của học sinh, kích thích
tò mò, hứng thú, sáng tạo để các em có thể tự tìm kiếm những gì không chỉ
trong phạm vi kiến thức ở nhà trường, mà cả kiến thức ngoài xã hội, để các em
thấy rằng, mỗi ngày đến trường, mỗi một bài học lịch sử đều có ích. Một giờ
học lịch sử mà khơi dậy được đam mê, khởi dậy hứng thú để các em chủ động
lĩnh hội kiến thức, giúp các em nhận ra những năng lực, trí tuệ của mình, qua
đó giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em – đó chính là một bài học hiệu quả.
Việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài liệu ngoài sách giáo khoa, đặc biệt
là các tư liệu "sống" khiến cho các giờ học lịch sử vốn bị coi là khô cứng và
2
giáo điều trở nên "mềm" hơn, dễ hiểu và gần gũi với học sinh. Giờ học lịch sử
sẽ được học sinh đón đợi hơn, học sinh cũng dễ nhớ, dễ thuộc kiến thức hơn.
Bảo tàng Phòng không – Không quân với hàng nghìn hiện vật được
trưng bày đã tái tạo lại những trang sử oai hùng của dân tộc ta trong cuộc
chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Mỗi hiện vật, hình ảnh
trong hệ thống trưng bày là huyền thoại về những chiến công xuất sắc của bộ
đội Phòng không – Không quân qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ, lập nên những kỳ tích anh hùng đánh thắng không quân nhà nghề của
một nước có nền khoa học kỹ thuật hiện đại nhất từ trước đến nay.
Qua những hình ảnh đó, học sinh như được tận mắt chứng kiến cuộc
sống, chiến đấu của quân dân ta, những tấm gương anh dũng hy sinh của các
anh hùng … sẽ gợi cho học sinh nhiều cảm xúc. Bài học vì thế có tác dụng,
hiệu quả hơn nhiều so với việc ngồi nghe thuyết trình trong lớp.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tế nêu trên, chúng tôi chọn đề
tài: "Sử dụng Bảo tàng Phòng không- Không quân trong dạy học lịch sử
Việt Nam (1954 – 1975) ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội" làm đề tài
luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sử dụng bảo tàng trong dạy học nói chung, trong dạy học lịch sử
nói riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới.

Cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông trung học” của tác giả Nguyễn Thị Côi, xuất bản năm 1998 đã trình bày
các vấn đề, như: Vai trò và ý nghĩa của bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông trung học; Nội dung các vật trưng bày của bảo
tàng lịch sử, cách mạng và khả năng sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường
4
phổ thông trung học; Các hình thức, phương pháp sử dụng tư liệu bảo tàng
trong dạy học lịch sử.
Tác giả khẳng định “Tư liệu ở bảo tàng là phương tiện trực quan, quan
trọng góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực và chính xác cho học
sinh ”. [21; 12] Việc khai thác, sử dụng, tư liệu của bảo tàng đảm bảo cho quá
trình nhận thức của học sinh diễn ra hợp với quy luật nhận thức và đảm bảo
nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử.
Trong cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc
Liên và Trần Văn Trị chủ biên, xuất bản năm 2003, chương IX “Hoạt động
ngoại khóa trong dạy học lịch sử” [50] đã nêu lên tầm quan trọng của việc
khai thác và sử dụng tư liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử.
Đặc biệt trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”, tập II do Phan Ngọc
Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, xuất bản năm 2005, ở chương XI
“Cơ sở lý luận về bài học lịch sử ở trường phổ thông, phần III. Các loại bài
học ở trường phổ thông: thì bài học thực địa, trong nhà bảo tàng lịch sử cách
mạng “Là những bài học nội khóa, một mắt xích trong toàn bộ khóa trình, có
liên quan tới bài học lịch sử khác, việc học tập những bài học này là bắt buộc
đối với toàn bộ học sinh” [54; 81]. Trong chương XV: “Vị trí ý nghĩa và các
hình thức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ” các tác giả cũng nêu
rõ vai trò, vị trí của bảo tàng trong dạy học lịch sử: “ Tham quan lịch sử có vị
trí quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, những dấu vết của
quá khứ những vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức
mà còn để lại ấn tượng mạnh mẽ nâng cao kiến thức học tập và còn rèn luyện
khả năng quan sát, phân tích của học sinh ” [54; 235]

hữu hiệu để góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ
6
thông” của Nguyễn Văn Sơn… đã đề cập đến tầm quan trọng, ý nghĩa của
việc sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử, và một số hình thức, phương
pháp sử dụng có thể tham khảo.
Trong bài viết “Khai thác hệ thống bảo tàng trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của Trần Văn Giáp có đề cập có nhiều biện pháp sư phạm
để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, trong đó sử dụng các nguồn tài liệu
hiện vật có ưu thế hơn cả. Nguồn tài liệu hiện vật này rất phong phú và đa
dạng ở các bảo tàng trung ương và địa phương. Nó có vai trò ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Việc khai thác và sử dụng tư liệu Bảo tàng trong dạy học lịch sử còn
được nghiên cứu trong các luận văn, luận án và khóa luận tốt nghiệp của sinh
viên, học viên sư phạm như:
Trong thời gian gần đây, một số sinh viên khoa lịch sử trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã làm khóa luận tốt nghiệp về vấn đề này. Năm học 1996 -
1997, sinh viên Nguyễn Thị Châm thực hiện đề tài: "Khai thác, sử dụng
những của bảo tàng Quân đội để dạy, học chương trình lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1946 - 1975 trong sách giáo khoa lớp 12 THPT (không chuyên
ban)". Khóa luận này đã đề cập đến những vấn đề lí luận cơ bản của việc sử
dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng nói chung, bảo tàng lịch sử Quân sự nói
riêng trong dạy học lịch sử. Tác giả bước đầu đã tìm hiểu nội dung của Bảo
tàng Quân đội và nêu một số hình thức khai thác các tài liệu, hiện vật của bảo
tàng.
Năm học 1995 - 1996, viện Bảo tàng Cách mạng Việt nam kết hợp với
một số giáo viên ở hai trường THPT Kim Liên và Minh Khai (Hà Nội) nghiên
cứu đề tài cấp viện: "Bảo tàng Cách mạng Việt Nam với việc dạy học lịch
sử ở trường THPT Kim Liên và Minh Khai" nhằm các mục tiêu sau:
+ Nội dung sách giáo khoa lịch sử THPT (phần lịch sử việt nam) có quan hệ
7

hoàn thiện nhân cách con người", một lần nữa các nhà giáo dục lịch sử và
các nhà bảo tàng học tiếp tục khẳng định vai trò, mối quan hệ của bảo tàng
với việc giáo dục thế hệ trẻ, trong đó dặc biệt chú trọng đến đối tượng học
sinh phổ thông. Tuy nhiên trong khuôn khổ hội thảo các nhà nghiên cứu
không đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng và khai thác bảo
tàng trong dạy học lịch sử mà chỉ dừng ở việc khẳng định vai trò, vị thế của
bảo tàng trong giáo dục nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng.
Trên đây là một số công tình nghiên cứ, luận văn đã nghiên cứ về vấn đề
sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung; tác
giả cần kế thừa các lý luận trên xong phải áp dụng một cách sáng tạo, phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh các trường THCS tại Hà Nội để đạt kết quả cao nhất.
Trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước, như Tạp chí Giáo
dục, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí khoa học trường ĐHSP Hà Nội
đăng tải một số bài nghiên cứu như: "DTLS và việc tích cực hóa hoạt động
nhận thức của HS ” [74]; "Sử dụng DTLS - CM trong dạy học lịch sử tại thực
địa” [74]; "Tổ chức hướng dẫn cho HSPT tham gia lễ hội xuân tại DTLS”
[75] đã khái quát một số vấn đề lý luận về sử dụng DTLS - VH, bảo tàng
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Như vậy, có thể nói rằng, trong lý luận dạy học lịch sử thì vấn đề khai
thác và sử dụng tài liệu hiện vật của bảo tàng trong dạy học lịch sử ngày càng
trở thành hình thức dạy học cơ bản của bộ môn.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học và lý luận dạy học
bộ môn nêu trên đã nêu lên những cơ sở khoa học cho việc đổi mới PPDH
lịch sử nói chung, cho việc xác định những nguyên tắc, phương pháp, hình
9
thức tổ chức cho HS học tập tại bảo tàng nói riêng.
Các công trình trên đã khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của việc sử
dụng bảo tàng nói chung, Bảo tàng Phòng không – Không quân nói riêng
trong dạy học lịch sử và một số hình thức phương pháp sử dụng có thể tham
khảo nhưng mới ở việc sử dụng Bảo tàng trung ương mà chưa có một đề tài

1975 lớp 9
- về hình thức tổ chức dạy học: các loại bài nội khóa và ngoại khóa, trọng
tâm là các bài nội khóa.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
5.1. Cơ sở phương pháp luận: Là cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
công tác giáo dục nói chung, giáo dục lịch sử ở nhà trường THCS nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng các phương pháp
nghiên cứu bộ môn:
+ Nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, các tài liệu giáo dục
lịch sử, tài liệu lịch sử văn hóa, khảo cổ học có liên quan đến đề tài.
+ Điều tra cơ bản: Tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu đối với giáo
viên lịch sử và học sinh lớp 9 một số trường THCS trên địa bàn tại Hà Nội.
+ Nghiên cứu kĩ chương trình lớp 9 phần lịch sử Việt Nam để lựa chọn
các bài có nội dung trong giai đoạn 1954-1975 để sử dụng trong quá trình tổ
chức dạy học.
+ Soạn một số bài lịch sử trong chương trình nội khóa, ngoại khóa, tiến
hành thực nghiệm sư phạm để rút ra những kết luận về việc sử dụng Bảo tàng
Phòng không- Không quân trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THCS
trên địa bàn Hà Nội.
11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn :
Việc giảng dạy lịch sử ở các trường THCS tại Hà Nộivẫn còn những vấn
đề hạn chế, trong đó có nguyên nhân từ việc chưa thực sự đổi mới phương
pháp dạy - học của giáo viên; Có sự nghiên cứu một cách hợp lý, khoa học và
áp dụng linh hoạt, sáng tạo nguồn sử liệu ( Bảo tàng Phòng không - Không
quân) thì học sinh sẽ hứng thú hơn với bộ môn Lịch sử, chất lượng dạy - học
môn Lịch sử sẽ được nâng cao.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,

- Theo wikipedia.org: “Bảo tàng” (viện bảo tàng, nhà bảo tàng) là
nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều
lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào
đó. Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn
trí tò mò tìm hiểu về quá khứ
- Tổ chức ICOM (Hội đồng bảo tàng quốc tế) vào năm 1996 đưa ra khái
13
niệm: “Bảo tàng là thiết chế tồn tại lâu dài, không vụ lợi nhằm phục vụ cho
xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa phục vụ công chúng và tiến hành
nghiên cứu liên quan đến di sản của con người và môi trường xung quanh”.
- Ở các nước Đông Âu: Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến
hành nghiên cứu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện
vật gốc tiêu biểu của lịch sử, tự nhiên và xã hội, phù hợp với nội dung và loại
hình bảo tàng. Bảo tàng dành để phục vụ cho công chúng vì mục đích nghiên
cứu và sưu tầm.
Trong luật Di sản văn hóa ở nước ta, ban hành năm 2002, ghi rõ: “Bảo
tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử, tự nhiên, xã hội
nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn
hóa của nhân dân” [Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành;tr. 42]
Trong bách khoa toàn thư: “Bảo tàng là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu,
hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của
một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó. Mục đích của bảo tàng là giáo
dục, học tập, nghiên cứu và thõa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ”. [Hội đồng
Quốc gia (2002), Từ điển bách khoa toàn thư, Nxb Từ điển Bách khoa.;tr. 151]
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: “Bảo tàng là cơ quan sưu
tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đầu
tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, về lịch sử của
cuộc đấu tranh cách mạng.” [Nguyễn Thị Côi (1998), Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.tr.8]
Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc đã xây dựng một số bảo tàng lớn như:

15
nước. Nó có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày
nhằm phát huy tác dụng của những di tích lịch sử.
Các nhà bảo tàng học cho rằng: Bảo tàng có hai chức năng cơ bản: chức
năng nghiên cứu khoa học và chức năng giáo dục. Hai chức năng này có mối
quan hệ biện chứng, thực hiện tốt cả hai chức năng trên thì Bảo tàng mới đáp
ứng được nhiệm vụ do xã hội đặt ra.
Thứ nhất, chức năng nghiên cứu khoa học: mọi hoạt động trong công tác
nghiên cứu khoa học của Bảo tàng đều phải xoay quanh các hiện vật gốc phù
hợp với loại hình của bảo tàng. Đó là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tác
nghiên cứu khoa học của bảo tàng. Hay nói cách khác, chức năng này được
biểu hiện ở hai hoạt động sau:
+ Những hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm không ngừng bổ sung
cho khâu bảo quản cơ sở của Bảo tàng, di tích có giá trị tiêu biểu về các mặt
lịch sử, khoa học, thẩm mỹ.
+ Những hoạt động có liên quan tới việc chỉnh lý, hệ thống hóa và bảo
quản một cách khoa học các di tích của Bảo tàng nhằm biến các di tích đó
thành nguồn tư liệu đáng tin cậy phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học
của các ngành khác. Đồng thời nâng cao trình độ văn hóa của đông đảo quần
chúng nhân dân.
Thứ hai, chức năng giáo dục của Bảo tàng: các tư liệu, hiện vật trong bảo
tàng được sắp xếp, trưng bày có hệ thống để khách tham quan trong và ngoài
nước hiểu, hình dung được tiến trình lịch sử Việt Nam, song khác với công
tác giáo dục của các cơ quan, các phương tiện thông tin đại chúng ở chỗ công
tác này phải dựa trên cơ sở nghiên cứu của các hiện vật gốc. Bởi vì, thông qua
các tư liệu và hiện vật gốc được trưng bày ở bảo tàng nhằm gợi dậy những tư
tưởng, tình cảm tốt đẹp cho người xem chứ không phải thông qua sách vở.
Bảo tàng thực hiện chức năng giáo dục khoa học của mình bằng cách tuyên
16
truyền, phổ biến kiến thức và thông qua các hoạt động của mình, Bảo tàng

nói lên sự phát triển, phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thân
ngành đó và quần chúng nhân dân.
Bốn là, Bảo tàng lịch sử tự nhiên gồm các bảo tàng cùng loại hình với
các ngành khoa học. Đối tượng nghiên cứu là các mặt khác nhau của thế giới
tự nhiên, như Bảo tàng động vật học, Bảo tàng thực vật học, Bảo tàng hải
dương học
Năm là, các bảo tàng lưu niệm nhằm lưu giữ lại trong quần chúng
nhân dân những sự kiện, những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi
mặt của đời sống xã hội, chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật Loại bảo
tàng này giới thiệu một cách hệ thống diễn biến những sự kiện, hoạt động
của các nhân vật lịch sử. Ví như, bảo tàng ở di tích lịch sử số 5 Hàm Long,
48 Hàng Ngang (Hà Nội), di tích Kim Liên (Nghệ An), Pác Bó (Cao Bằng),
Tân Trào (Tuyên Quang)
Sáu là, các bảo tàng ở địa phương: cũng là cơ quan thực hiện chức năng
nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảo
quản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất,
tinh thần cũng như tự nhiên của địa phương đó. Hiện nay, các loại bảo tàng
này và các nhà lưu niệm, truyền thống của địa phương đang phát triển rất
mạnh mẽ ở các địa phương trong nước. [ tr.10-11]
Những bảo tàng, nhà lưu niệm địa phương có vai trò quan trọng trong
việc giáo dục truyền thống của địa phương, của dân tộc cho đông đảo quần
chúng nhân dân.
1.1.3. Mối quan hệ giữa bảo tàng với kiến thức lịch sử.
Bảo tàng với mục đích sưu tầm, lưu giữ bảo vệ các di sản văn hóa, lịch
18
sử, tự nhiên và thông qua các hoạt động phong phú của mình như trưng bày,
giới thiệu, giáo dục và xuất bản sách báo. Bảo tàng còn được xem như là một
thiết chế văn hóa đặc biệt, đóng vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân.
Bảo tàng có mối quan hệ mật thiết với lịch sử.
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, việc tăng cường cho

Mặt khác, việc sử dụng tư liệu của bảo tàng còn giúp cho học sinh “trực
quan sinh động” quá khứ lịch sử dân tộc, làm cho quá khứ xích lại gần với
nhận thức của học sinh, biến những kiến thức trên sách vở thành những hiểu
biết cụ thể, sâu sắc về cuộc sống hiện thực. Sử dụng nguồn tư liệu của bảo
tàng trong dạy học lịch sử còn giúp học sinh hiểu một cách tự nhiên, sinh
động quá khứ lịch sử, khắc sâu kiến thức cơ bản bài học, giúp các em nhớ lâu
kiến thức, nâng cao hiểu biết lịch sử.
Trong đời sống xã hội, việc giáo dục thế hệ trẻ thông qua giáo dục lịch
sử không chỉ có tác dụng về trí lực mà cả về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ. So
với các bộ môn khác, môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng đạo
đức cho HS. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thị trường với những mặt
tích cực đã đem lại kết quả khả quan trong bước đường đổi mới toàn diện của
đất nước. Tuy nhiên, do tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường nên
phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân
cách và bồi dưỡng niềm tin cho các em trong dạy học lịch sử. Tư liệu ở bảo
tàng còn là một trong những nguồn tài liệu quan trọng làm phong phú nguồn
tri thức của học sinh về quê hương mình, giáo dục cho các em lòng yêu quê
hương, hình thành những khái niệm nghĩa vụ đối với quê hương. Điều đó có
tác động to lớn đến tư tưởng, tình cảm của HS, nuôi dưỡng lòng tự hào, biết
ơn và yêu quý hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đây cũng là cội nguồn của
20
lòng yêu nước. Từ đó, giúp các em hình thành thái độ đúng đắn và xác định
nghĩa vụ của mình đối với quê hương cũng như đất nước. Sử dụng tư liệu bảo
tàng trong dạy học lịch sử góp phần giáo dục cho các em lòng kính yêu quần
chúng nhân dân, những người sáng tạo ra lịch sử, là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội.
Bảo tàng còn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, truyền bá văn hoá Việt
Nam, gợi lên những vấn đề về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc. Bởi
vì khi tham quan học tập tại bảo tàng sẽ để lại những dấu ấn tốt đẹp và khơi
dậy lòng tự hào dân tộc. Bảo tàng còn giáo dục cho thế hệ trẻ Việt Nam lòng

phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng học tập và mức độ hứng thú
của các em với đối tượng đó” [Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc Lan, Lê Văn Thăng
(1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.; tr.23]. Như vậy ở
bậc THCS tư duy của các em chủ yếu là gắn liền với nhận thức cảm tính, cụ
thể. “Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của học
tập” [Lê Văn Hồng (chủ biên), PTS Lê Ngọc Lan, Lê Văn Thăng (1995), Tâm lý học lứa tuổi và
tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Tr. 25]. Và những thao tác của tư duy như
tích cực, độc lập ngày càng bộc lộ rõ nét, học sinh đã có thể chủ động lĩnh hội
kiến thức.
Học sinh THCS là lứa tuổi hiếu động, tò mò, ham hiểu biết những tri
thức mới nhưng cũng dễ nhàm chán trước việc giáo viên trình bày sự kiện
theo cách thông báo khô khan những vấn đề lý thuyết nặng nề, những kết luận
chung chung, không có những thông tin mới, thiếu hấp dẫn. Các nhà tâm lý
đã khẳng định hứng thú là động lực thúc đẩy sự say sưa, tò mò, tích cực tìm
hiểu tri thức mới của học sinh, sự hứng thú sẽ tạo ra “thái độ tích cực đối với
học tập, là điều kiện rất cần thiết để lĩnh hội tài liệu đạt kết quả cao ” [VA.
22
Cruchetxki (1988), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.;tr. 76]. Trong
dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, để bài học thành công, mang lại
hiệu quả cao thì giáo viên phải tạo ra và duy trì niềm hưng phấn, sự hứng thú
của học sinh. Sử dụng các tài liệu hiện vật ở bảo tàng là một biện pháp cho sự
thành công của bài học lịch sử. Cùng với sự phát triển về trình độ so với học
sinh đầu cấp THCS (lớp 6) năng lực tư duy lịch sử ở những học sinh cuối cấp
(lớp 9) sẽ được nâng cao hơn khi tiếp xúc với tư liệu, hiện vật ở bảo tàng.
Về quá trình nhận thức: quá trình nhận thức của HS trong học tập nói
riêng cũng như quá trình nhận thức của loài người nói chung bao giờ cũng đi
từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính, từ cụ thể, trực tiếp đến khái quát,
từ đơn giản đến phức tạp. Những hình ảnh này đều thông qua quá trình cảm
giác, tri giác của con người phản ánh vào sự nhận thức tư duy. Bởi vì “cảm
giác là viên gạch xây nên toàn bộ lâu đài nhận thức” và tất cả hiểu biết đều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status