ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----- KHOA LỊCH SỬ-----
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: SỬ DỤNG CA KHÚC CÁCH MẠNG TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 - 1975) (LỚP 12 – THPT) ĐỂ
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
Giảng viên hướng dẫn
: TS. Nguyễn Thị Phương Thanh
Sinh viên thực hiện
: Lê Thùy Dương
Mã sinh viên
: 645602009
HÀ NỘI – 2018
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DHLS
GV
HS
HTHT
THPT
PPDH
Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đã
triển khai trong những năm gần đây như: phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục
trải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM,… việc đổi mới phương pháp dạy học cần
được thực hiện trên cơ sở phân hoá đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình
năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học. Từ đó lựa chọn các hình thức tổ
chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng
công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chức dạy học thông qua việc sử dụng
các mô hình học tập kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớp học trực tuyến;
cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, coi
3
trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường; đẩy
mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học; tăng cường mô hình học tập gắn với thực
tiễn, xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học, phát triển văn hóa đọc gắn với hoạt
động của các câu lạc bộ khoa học trong nhà trường; tăng cường hoạt động giao lưu,
hợp tác nhằm thúc đẩy hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng sống, nâng cao hiểu
biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới…
Hứng thú học tập có vai trò quan trọng trong quá trình DHLS ở trường phổ
thông. Có hứng thú, HS nhanh chóng tiếp thu bài, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức.
Hứng thú học tập còn kích thích các em tích cực, say mê học tập để tiếp thu những
kiến thức mới, tự giác nắm vững kiến thức lịch sử và biết vận dụng những kiến
thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Hứng thú học tập giúp HS phát triển toàn diện, ý
thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong cuộc sống.
Các ca khúc cách mạng, bằng phương thức phản ánh độc đáo của mình, đã
tái hiện lại lịch sử dân tộc, thể hiện cảm xúc của người nghệ sĩ và của nhân dân đối
với quê hương, đất nước, thời đại. Không ít nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, ca
khúc cách mạng là một pho sử bằng âm thanh phản ánh những diễn biến trong đấu
tranh cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc ta ở
thế kỷ XX. Bản chất xã hội của các ca khúc cách mạng không phải ở chỗ phương
nhau, trong đó ông đã chú ý đến lứa tuổi HS. Tác giả cho rằng hứng thú được biểu
hiện ra trong xu thế của con người có mong muốn học được một số điều nhất định,
thích một vài hoạt động và định hướng tính tích cực nhất định vào những hoạt
động đó [20; 55-62]. Tuy nhiên, ông chưa đi sâu phân tích những biểu hiện, tác
động của hứng thú đối với hoạt động học tập ở HS.
Tiếp đó, năm 1938, Ch.Buhler, nhà tâm lý học người Đức đã tìm hiểu khái
niệm hứng thú trong tác phẩm “Phát triển hứng thú ở trẻ em”. Ông coi hứng thú là
nguồn gốc tinh thần của tính tích cực biểu đạt tâm lý, đổi mới tâm lý. Tuy nhiên,
ông mới dừng ở khái niệm chung chung về hứng thú, chưa đề cập đến vai trò của
giáo dục đối với việc hình thành và phát triển hứng thú.
Trong cuốn "Tâm lý học cá nhân" (1971), A.G. Côvaliôp, nhà tâm lý học
người Nga đã đưa ra khái niệm về hứng thú: “Hứng thú là một thái độ đặc thù của
cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp
5
dẫn về tình cảm của nó” [1; 228]. Tác giả coi hứng thú là một thái độ đặc thù của
một cá nhân đối với một đối tượng nào đó, trên cơ sở đó đề ra những phương pháp
giáo dục tích cực. Còn A.A. Liublinxkaia, nhà tâm lý học người Nga, tác giả cuốn
sách “Tâm lý học trẻ em” lại định nghĩa: “Hứng thú là thái độ nhận thức của con
người đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh
vực nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn” [14; 28].
Năm 1980, nhà tâm lý học P.A. Ruđich trong tác phẩm "Tâm lí học" đã đề
cập đến khái niệm hứng thú và đặc điểm tiêu biểu của hứng thú. Theo Ruđich
“hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thức những hiện
tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương
đối cố định của con người đối với các hoạt động nhất định” [18; 350]. Tuy nhiên,
trong tác phẩm này, Ruđich chỉ phân tích vai trò của hứng thú trong vận động.
Trong cuốn "Từ hứng thú đến tài năng" (năm 1975), nhà tâm lý học người
Nga L.X. Xlôvaytrich đã nghiên cứu một cách cụ thể về hứng thú và cho rằng đây
dục học và giáo dục lịch sử ở các nước đã rất quan tâm nghiên cứu vấn đề hứng
thú, hứng thú nhận thức và hứng thú học tập các môn học của HS ở trường phổ
thông, trong một số nghiên cứu đã đề cập đến biện pháp gây hứng thú học tập cho
HS.
b. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
* Các công trình giáo dục học, tâm lý học
Ở trong nước, vấn đề hứng thú, hứng thú học tập của HS nói chung cũng
nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học. Cụ thể:
Năm 1975, trong “Một số vấn đề tâm lý học sư phạm và lứa tuổi học sinh
Việt Nam”, tác giả Đức Minh đã nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hứng
thú.
Trong “Đề cương bài giảng tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm”
(năm 1975), các tác giả đã định nghĩa: “Hứng thú là sự định hướng có lựa chọn
của cá nhân vào những sự vật, hiện tượng của thực tế xung quanh. Sự định hướng
đó được đặc trưng bởi sự vươn lên thường trực tới sự nhận thức, tới những kiến
thức mới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn” [10; 101]. Định nghĩa này nhấn mạnh
hứng thú như là một thái độ đặc biệt của cá nhân và cá nhân đó có xu hướng hoạt
7
động để vươn lên hiểu sâu đối tượng nhận thức và sẽ nhận thức đầy đủ, sâu sắc
hơn.
Trong “Tâm lý học đại cương” (xuất bản năm 2003), NXB Đại học Sư
Phạm, tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy cũng đã nghiên cứu khái niệm
hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối
tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại xúc
cảm cho cá nhân trong quá trình nhận thức” [24; 187]
Lê Nguyên Long trong “Một số vấn đề về giáo dục học” và “Thử đi tìm
những phương pháp dạy học hiệu quả” (năm 2002), NXB Giáo dục, đã đề cập đến
pháp, tác giả đã đề cập đến “phát triển tính tích cực, độc lập trong nhận thức đặc
biệt trong tư duy là phương tiện tốt để hình thành kiến thức, gợi dậy những xúc
cảm lịch sử, kích thích hứng thú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, đạo đức,
tình cảm học sinh” [7; 69]
Mặc dù không phân tích cụ thể về gây hứng thú học tập cho học sinh, song
trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong dạy học lịch sử ở
THCS”, các tác giả Trịnh Đình Tùng, Phan Ngọc Liên đã đưa ra những biện pháp
sư phạm góp phần gây hứng thú học tập cho học sinh.
Vấn đề hứng thú học tập còn được một số Nghiên cứu sinh, nhiều học viên
Cao học lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của mình: Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu
đặc điểm hứng thú học môn toán của học sinh tiểu học và biện pháp tâm lí sư
phạm nâng cao hứng thú học môn toán ở các em” (năm 2008), Đại học Sư phạm
Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Thu Cúc. Luận văn Thạc sĩ "Bước đầu tìm hiểu
nguyên nhân gây hứng thú học tập bộ môn Tâm lý học của sinh viên khoa tự nhiên
của trường Đại học Sư phạm I" của tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Bên cạnh các giáo trình, sách tham khảo về PPDH Lịch sử, vấn đề hứng thú
học tập Lịch sử cũng được nhiều học viên cao học lựa chọn làm Luận văn Thạc sĩ
và được các tác giả công bố trên tạp chí chuyên ngành.
Luận văn Thạc sỹ của Đặng Thị Yên "Gây hứng thú học tập lịch sử cho
học sinh miền núi tỉnh Lai Châu qua dạy học khoá trình lịch sử lớp 6 THCS"
9
(1999), tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về hứng thú và hứng thú học
tập, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm gây hứng thú học tập lịch sử cho
học sinh lớp 6 THCS.
Nguyễn Thị Thơm trong luận văn Thạc sĩ "Sử dụng câu chuyện về nhân vật
nhằm gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 19451954 trường THPT" đã đề cập đến sự cần thiết của việc sử dụng câu chuyện nhằm
gây hứng thú học tập cho học sinh. Tác giả đã đưa ra một số biện pháp sư phạm
nhằm gây hứng thú cho học sinh khi sử dụng câu chuyện trong dạy học lịch sử Việt
+ Khẳng định vai trò, ý nghĩa của các ca khúc cách mạng trong dạy học để
tạo hứng thú cho học sinh, trên cơ sở đó đề xuất hướng sử dụng trong DHLS Việt
Nam 1954 - 1975, lớp 12 THPT.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận của việc tạo hứng thú
học lịch sử nói chung, việc sử dụng các ca khúc cách mạng nhằm tạo hứng thú cho
học sinh nói riêng.
+ Khảo sát thực tiễn việc sử dụng các ca khúc cách mạng trong dạy học môn
Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. Từ đó hệ thống các nhạc phẩm có thể sử
dụng nhằm tạo hứng thú cho HS trong học tập lịch sử.
+ Nghiên cứu chương trình và SGK Lịch sử 12 phần từ năm 1954 - 1975 và
xác định những nội dung có thể chú trọng nhằm giáo dục lịch sử cũng như tạo
hứng thú cho học sinh trong quá trình dạy học.
+ Nghiên cứu và đưa ra đề xuất một số biện pháp nhằm tạo hứng thú cho
học sinh thông qua việc sử dụng các ca khúc cách mạng trong dạy học lịch sử từ
Việt Nam 1954 – 1975.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm phương pháp luận sử học mácxít, đảm bảo tính
đúng đắn, khoa học, tính logic, tính hệ thống.
11
Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu lí luận các bộ môn như Tâm lí học, Tâm lí
lứa tuổi và Tâm lí sư phạm, Giáo dục học, Phương pháp DHLS… phục vụ cho
những nội dung có liên quan của đề tài.
Ngoài hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp
logic, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác, trong đó coi trọng hai phương
pháp đặc trưng của chuyên ngành là điều tra, khảo sát và thực nghiệm sư phạm. Cụ
thể là:
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC
CA KHÚC CÁCH MẠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG ĐỂ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
• Hứng thú
“Hứng thú” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như
trong đời sống xã hội loài người. Nó là một hiện tượng tâm lý phức tạp, vì vậy, vấn
đề này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi
“hứng thú là gì?” thì lại có nhiều quan niệm khác nhau dựa trên những cách tiếp
cận khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hứng thú là sự ham thích”, “cảm thấy có hứng
thú, hào hứng” [23; 457].
Trong tâm lý học, có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu.
Nhưng tựu chung lại, những ý kiến đều có điểm chung rằng hứng thú là một trạng
thái tâm lý phức tạp, phản ánh nhiều giai đoạn từ đơn lẻ (tri giác, ghi nhớ...) tới tổ
hợp nhiều quá trình tâm lý (tình cảm, ý thức, nhận thức) của con người. Hứng thú
là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa
trong cuộc sống, vừa có khả năng mang lại cho nó một khoái cảm. Hứng thú làm
tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành
động sáng tạo làm tăng sức làm việc. Dựa vào những nghiên cứu của các nhà tâm
13
lý học rút ra khái niệm: Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với
đối tượng nào đó khi hiểu được ý nghĩa, tác dụng của đối tượng đó đối với cuộc
sống và nó mang đến sự khoái cảm cho bản thân.
Để phân biệt hứng thú với những khái niệm gần giống với nó cần phân tích
cấu trúc của hứng thú, các giai đoạn khác nhau của hứng thú để thấy được ở giai
nhân cách, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, là nguồn gốc của sự sáng tạo.
- Căn cứ vào khối lượng của hứng thú, có thể chia thành: hứng thú rộng;
hứng thú hẹp. Hai loại hứng thú này có mối quan hệ với nhau vì nếu chỉ có hứng
thú hẹp mà không có hứng thú rộng thì nhân cách sẽ không phát triển toàn diện,
còn nếu chỉ có hứng thú rộng thì sự phát triển nhân cách sẽ dừng ở mức độ hời hợt,
không sâu sắc.
- Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú có thể chia thành hứng thú sâu sắc,
hứng thú hời hợt. Trong đó, những người có hứng thú sâu sắc thường có khuynh
hướng đi sâu tìm hiểu đối tượng nhận thức, mong muốn hiểu sâu sắc đối tượng
đang tìm hiểu.
- Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú có thể chia thành các loại: hứng thú
bền vững, hứng thú không bền vững, hứng thú ổn định, hứng thú không ổn định.
Theo các nhà tâm lý học nước ngoài và trong nước, hứng thú được biểu
hiện:
- Xu hướng lựa chọn của quá trình tâm lý của con người nhằm vào các đối
tượng cụ thể của thế giới xung quanh
- Xu thế, nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân khi mong muốn hiểu được một
lĩnh vực cụ thể, một hành động xác định mang lại sự thoải mái cho cá nhân.
- Nguồn kích thích mạnh mẽ tới tính tích cực cá nhân, do ảnh hưởng của
nguồn kích thích này mà tất cả các quá trình tâm lý diễn ra khẩn trương, còn hoạt
động thì trở nên say mê và đem lại hiệu quả.
- Thái độ lựa chọn đặc biệt (khi đó con người không thờ ơ, bàng quan mà
tràn đầy những ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, ý chí tập trung) đối với
các đối tượng, các hiện tượng xung quanh.
15
Hứng thú của HS trong học tập lịch sử, mối quan hệ giữa hứng thú với việc
học tập lịch sử
* Hứng thú của HS trong học tập lịch sử
Ngoài ra, HS cũng cần phải có nhu cầu, tính ham hiểu biết, sự nỗ lực học tập mới
có thể hình thành và duy trì được hứng thú một cách bền vững.
Từ những nghiên cứu của các nhà giáo dục LS, định nghĩa sau được coi là
phổ biến nhất: “Hứng thú học tập lịch sử là một thái độ say mê tự giác tích cực
đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể” [30; 16].
Hiện nay học sinh THPT hầu như không có hứng thú học tập bộ môn LS,
một số các em tỏ ra yêu thích bộ môn nhưng niềm yêu thích ấy chưa bền vững, có
thể mới chỉ là sự thích thú bên ngoài, không phải hứng thú thực sự, hứng thú bên
trong. Như vậy, tạo hứng thú học tập LS cho HS là làm cho HS có thái độ say mê,
tích cực với nội dung LS cụ thể và duy trì niềm say mê, tích cực ấy.
* Mối quan hệ giữa hứng thú với việc học tập lịch sử
Với quan niệm về hứng thú nói chung, hứng thú học tập LS nói riêng có thể
thấy hứng thú có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người. Vì
vậy, tạo hứng thú học tập cho HS có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong DH.
Hứng thú sẽ khiến con người “cảm thấy khoái cảm khi lao động vì thấy nó
là trò chơi về thể lực và trí tuệ” [2; 230]. Trong học tập cũng vậy, hứng thú giúp
HS học một cách say mê, khi thu được kết quả học tập cao sẽ trở thành động lực để
tiếp tục duy trì hứng thú. Hứng thú đóng vai trò là động lực mạnh nhất thúc đẩy
hoạt động học của HS. “Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, hứng thú
sâu sắc tạo ra nhu cầu gay gắt của cá nhân, cá nhân thấy cần phải hành động để
thoả mãn hứng thú” [28; 21]. Hứng thú học tập tạo ra động cơ thúc đẩy việc học
tập của HS, giúp HS tiến hành việc học đạt hiệu quả cao, bởi lẽ hứng thú là động
cơ cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của các kĩ xảo, tri thức và trí tuệ... Trong
DHLS, hứng thú làm nảy sinh khát vọng học tập, là mong muốn được tìm hiểu và
lý giải về các sự kiện, hiện tượng LS. Có hứng thú HS sẽ say mê học hỏi, khám
phá những chân trời kiến thức mới để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Hứng thú
17
được thoả mãn, HS sẽ cảm thấy dễ chịu, vuimừng và mong muốn duy trì cảm giác
• Nhạc cách mạng
Khái niệm
“Nhạc cách mạng” thường được gọi nhạc đỏ, là một dòng của tân nhạc Việt
Nam gồm những bài hát sáng tác trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương, ở miền
Bắc Việt Nam và vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh
Việt Nam và sau năm 1975 khi Việt Nam thống nhất. Khái niệm "nhạc đỏ" chỉ hay
dùng trong nhân dân (để phân biệt với "nhạc xanh", "nhạc vàng"...) và chỉ có từ
khoảng đầu thập niên 1990 trở đi, còn các văn bản nhà nước gọi đây là nhạc cách
mạng, nhạc truyền thống hay nhạc chính thống. Tuy nhiên biểu tượng của cách
mạng trong quang phổ chính trị là màu đỏ, nên gọi nhạc đỏ cũng như nhạc cách
mạng vậy.
Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục
vụ kháng chiến, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu
lý tưởng cộng sản, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và những bài hát trữ tình cách mạng,
thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng, tinh thần lạc
quan, yêu đời, cống hiến và có tính cộng đồng. Các ca khúc nhạc đỏ thường ít tính
hiện thực hóa mà mang tính lý tưởng hóa hay lãng mạn hóa cao, nhưng khác với
các ca khúc thời tiền chiến có tính lãng mạn tách rời đời sống, thường không có
không gian hoặc thời gian cụ thể, nhạc đỏ đặt tính lãng mạn, lý tưởng hóa gắn với
cuộc sống xã hội, có không gian và thời gian cụ thể, và thực tế hóa.
Các bài hát nhạc đỏ phần lớn thuộc dòng thính phòng, được hát bởi các
giọng tenor và soprano, dàn hợp xướng, và âm hưởng dân ca, giai điệu phức tạp
nhưng lời nhiều bài bình dị đi vào quần chúng số đông. Không kể các bài hành
khúc, tổ khúc, hợp xướng thường hát tốp ca hay hợp xướng, phần lớn các bài nhạc
đỏ hát bằng giọng trưởng quãng âm cao và rộng, sáng, đôi khi kèm hợp xướng.
Nhạc đỏ thường theo điệu March (hành khúc), Valse, Slow Waltz hay Boston, Slow
Ballad, Slow Surf, Blues, đến Chachacha, Disco, một số là các trường ca giai điệu
19
kể cả phê phán thói hư tật xấu của xã hội, các tệ nạn nhưng chưa nhiều và chưa có
những tác phẩm lớn có giá trị cao.
Một số nhạc sĩ nhạc đỏ tiêu biểu như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Nguyễn
Xuân Khoát, Phạm Duy, Văn Cao, Tô Hải, Nguyễn Văn Tý, Phạm Tuyên, Huy Du,
Hoàng Việt, Hoàng Vân, Phan Huỳnh Điểu, Diệp Minh Tuyền, Chu Minh, Hoàng
Hiệp, Hoàng Hà, Trần Kiết Tường, Lư Nhất Vũ, Trần Long Ẩn, Phạm Minh Tuấn,
Văn Chung, Xuân Hồng, Thuận Yến, Trần Hoàn, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Văn
Thương,...
Những ca sĩ nổi tiếng của nhạc đỏ (cũng thường là các ca sĩ dòng thính
phòng) có thể kể đến như: Quốc Hương, Trần Khánh, Trần Thụ, Trần Chất, Trung
Kiên, Quý Dương, Trần Hiếu, Tiến Thành, Hữu Nội, Kiều Hưng, Thanh Huyền,
Thương Huyền, Bích Liên, Tường Vi, Tân Nhân, Kim Nhớ, Kim Ngọc, Diệu Thúy,
Mỹ Bình, Vũ Dậu, Lê Dung, Tiến Thành, Quang Thọ, Doãn Tần, Thúy Hà, Thanh
Hoa, Thu Hiền, Trung Đức, Tuấn Phong, Quang Lý, Bích Việt, Trọng Tấn, Đăng
Dương, Việt Hoàn, Tạ Minh Tâm, Quang Hưng, Thanh Thúy, Cao Minh, Anh Thơ,
Phạm Phương Thảo, Lan Anh, Tân Nhàn... Do nhạc đỏ nhiều bài rất nhiều người
hát kể cả các ca sĩ không chuyên dòng nhạc này, nên trừ số rất ít, mỗi ca sĩ nổi bật
ở một vài bài.
Trước 1945 cũng có những ca khúc vẫn được xếp vào dòng nhạc đỏ như bài
“Cùng nhau đi Hồng binh” của Đinh Nhu, một số bài hát của Đỗ Nhuận, Lưu Hữu
Phước... Nhưng phải đến khi xảy ra cuộc Chiến tranh Việt - Pháp, nhiều nhạc sĩ
lãng mạn đi theo kháng chiến sáng tác những ca khúc mới thì nhạc đỏ mới thực sự
hình thành.
Những ca khúc cách mạng là những ca khúc được gắn liền với thời kỳ chiến
tranh và xây dựng đất nước. Đặc biệt, những ca khúc được ra đời trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã trở thành những bài ca đi cùng năm
tháng, là những dấu ấn lịch sử không phai trong tâm thức mỗi người con đất Việt.
Các giai đoạn của nhạc cách mạng
sáng tác dựa trên tình yêu nước thương nòi, lấy chất liệu từ hiện thực, hơn là từ lý
22
tưởng cách mạng. Cho đến khi các cuộc hội nghị quan trọng về văn nghệ vào năm
1949 và sau đó là hội nghị Việt Bắc 1950, đưa ra chủ trương, khuôn khổ cho các
nhạc sĩ sáng tác theo đường lối tư tưởng của Đảng, thì dòng nhạc cách mạng cũng
chuẩn bị bước thay đổi rõ rệt. Nhiều nhạc sĩ nổi bật của phong trào do không chấp
nhận thay đổi, đã rời bỏ kháng chiến như Phạm Duy, Ngọc Bích, Phạm Đình
Chương... Đồng thời có những nhạc sĩ ở lại tiếp tục sáng tác như Hoàng Việt, Đỗ
Nhuận, Tô Hải, Nguyễn Văn Tý...sẽ trở thành những tác giả chủ lực của nền tân
nhạc cách mạng ở giai đoạn tiếp theo, giai đoạn sau khi hiệp định Geneve chia cắt
đất nước ra làm hai miền.
- Giai đoạn 1954-1975
Trong giai đoạn này, nhạc đỏ cùng với nhạc dân ca, truyền thống là những
thể loại âm nhạc duy nhất phát thanh trên đài phát thanh Việt Nam ở miền bắc.
Những bài dân ca cũng được cải biến hoặc viết thêm lời để truyền đạt các chính
sách của nhà nước. Nhiều bài nhạc đỏ trong thời kỳ này còn tính đấu tranh rất cao
với ca từ mạnh như “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”, “Giải phóng miền Nam”, “Chào
em cô gái Lam Hồng”, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”, “Bác vẫn cùng
chúng cháu hành quân”,…
- Giai đoạn sau 1975
Sau 1975, một số nhạc sĩ trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe như
Tôn Thất Lập sau khi ra Bắc học ở Nhạc viện Hà Nội, cũng sáng tác một số bài hát
có nội dung cổ vũ lao động, xây dựng, và cũng được xem là nhạc đỏ.
Đến thời kỳ Đổi mới, những dòng nhạc khác được phép lưu hành song song,
nhưng nhạc đỏ vẫn được ưu tiên nâng đỡ và lưu truyền tại các đoàn thể thanh niên,
sinh viên, học sinh và tại các nhà hát, tụ điểm ca nhạc thuộc các đoàn thể trên hoặc
của nhà nước. Những bài nhạc đỏ được phổ biến trong thời kỳ này ôn hòa hơn,
không thể hiện tính chiến đấu và diệt địch nữa, mà thay vào đó là ca ngời tinh thần