Tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử nhằm giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh lớp 12 qua phần Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975 - Pdf 50

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ GIANG
TRƯỜNG THPT HÙNG AN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:

TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ
NHẰM GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG TÌNH CẢM CHO HỌC SINH
LỚP 12 QUA PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM 1954 - 1975

Người thực hiện: Lã Thị Lan Hương
Bộ môn: Lịch sử
Đơn vị công tác: Tổ Sử - Địa
Trường THPT Hùng An - Bắc Quang - Hà Giang

Hùng An, năm 2017
1


MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………………....………Trang 4
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………… 4
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...6
3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………….….6
4. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………….…6
5. Thời gian nghiên cứu…………………………………………………….. 6
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….....6
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ…………………………….......……......7
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài………………………........………….……..…7
2.1.1. Cơ sở lý luận chung về tạo biểu tượng nhân vật lịch sử…….…….…...7
2.1.2. Tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử ...............8

học sinh.
Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều
kiện địa lý,… được phản ánh trong nhận thức của học sinh với những nét chung
nhất, điển hình nhất. Ý nghĩa to lớn của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch
sử trước tiên là ở chỗ nó là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử. Nội dung của
các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ
thống khái niệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu. Việc tạo
biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài mà còn
đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện. Đồng thời, việc
tạo biểu tượng lịch sử có giáo dục lớn đối với học sinh vì chỉ thông qua những
hình ảnh cụ thể, sinh động, có sức gợi cảm mới tác động mạnh mẽ đến tư tưởng
tình cảm của các em. Cụ thể:
Qua các bài học lịch sử, những hành động anh hùng của những người đấu
tranh quên mình vì sự nghiệp giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức nô lệ, vì
hạnh phúc và hòa bình cho nhân dân lao động, có sức lôi cuốn hùng hồn, sôi nổi
đối với học sinh, gây cho các em cảm xúc lịch sử sâu đậm. Từ những xúc cảm
lịch sử đó góp phần hình thành ở các em sự kính phục, lòng tự hào đối với các vĩ
nhân và trong những hoàn cảnh nhất định nó thổi những ngọn lửa cách mạng
3


vào tuổi trẻ. Bởi vì, trẻ thường biểu hiện cảm xúc trong khi tri giác trực tiếp các
sự vật, hiện tượng cụ thể, hấp dẫn,… Trái lại, những biểu tượng phản ánh hoạt
động của các nhân vật đại diện cho giai cấp thống trị đã hết vai trò tiến bộ, trở
thành phản động, đi ngược lại quyền lợi của quần chúng lao động, hành động
của họ nếu không là nguyên nhân gây ra thảm cảnh cho nhân dân lao động thì
cũng ảnh hưởng tiêu cực đến xu hướng phát triển của xã hội, sẽ gây ra phản ứng
ngược lại từ phía học sinh, sẽ khởi dậy ở các em sự căm ghét hành vi hung bạo,
độc ác của các nhân vật đó. Rõ ràng, việc tạo biểu tượng về các nhân vật lịch sử,
đã làm cho những tình cảm yêu, ghét của các em được xác định rõ rệt. Vì vậy,

Việt Nam 1954 – 1975 nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em học sinh.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tôi chủ yếu nghiên
cứu những vấn đề lý luận chung của việc tạo biểu tượng về nhân vật trong dạy
học lịch sử ở trường phổ thông. Trên cơ sở đó, tôi đề xuất một số biện pháp sư
phạm nhằm tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử thông qua việc tìm hiểu một số
nhân vật lịch sử tiêu biểu trong giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975 của
chương trình lịch sử lớp 12, nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em học sinh.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử thông
qua việc lấy dẫn chứng từ một số nhân vật lịch sử trong trong giai đoạn Lịch sử
Việt Nam 1954 – 1975 của chương trình lịch sử lớp 12 nhằm giáo dục tư tưởng,
tình cảm cho các em.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các loại tài liệu thành văn, tìm hiểu những cơ sở lý luận của
nâng cao hiệu quả dạy học ở nhà trường;
- Khảo sát tình hình dạy và học bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông, nghiên
cứu các đặc điểm đối tượng, điều kiện mọi mặt trong nhà trường, qua đó nắm
được chất lượng dạy học bộ môn, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất những biện pháp sư phạm phù hợp tiến hành dạy học bộ môn
Lịch sử ở trường phổ thông trung học.
5


- Thực nghiệm để kiểm chứng những biện pháp sư phạm mà đề tài nêu ra.
Từ đó rút ra kết luận khoa học, nêu những đề xuất từ việc nghiên cứu vấn đề này.
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận chung về tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử nhằm
giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh

tổ chức các hoạt động học tập, giúp cho học sinh có định hướng trong nghiên
cứu các nguồn tư liệu, sử dụng đồ dùng trực quan, để từng bước xây dựng nội
dung biểu tượng, làm cơ sở cho việc hình thành các khái niệm lịch sử.
Do đó, quá trình tạo biểu tượng không phải là quá trình giáo viên độc thoại, đem
lại hình ảnh về sự kiện, nhân vật để học sinh ghi nhớ mà cần phải phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh.
Tóm lại, việc nhận thức đúng đắn về nhân vật trong dạy học Lịch sử sẽ
giúp cho giáo viên biết lựa chọn những nhân vật hợp lí để tạo biểu tượng cho
học sinh. Những biểu tượng sinh động về sự kiện, nhân vật được hình thành
trong học tập bộ môn thực sự là những minh chứng cụ thể về người thực, việc
thực, tiêu biểu cho những giá trị truyền thống, tinh thần của con người Việt Nam.
2.1.2. Tầm quan trọng của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử
nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh
2.1.2.1. Về nhận thức
Tạo biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật nói riêng, chân thực,
sống động giúp học sinh khôi phục các bức tranh của quá khứ sinh động đúng
như nó tồn tại. Mỗi nhân vật lịch sử đều đại diện cho một giai cấp nhất định.
Nhiều đặc điểm cá nhân tiêu biểu sẽ là đặc trưng chung cho giai cấp mà họ phục
vụ. Điều này giúp học sinh hiểu được một cách tương đối đầy đủ bản chất của
từng giai cấp hay tầng lớp xã hội nhất định. Từ đó lý giải các mối quan hệ xã hội
của cá nhân, hình thành cho học sinh các khái niệm về giai cấp và đấu tranh
cách mạng. Mặt khác, hoạt động của một nhân vật lịch sử, nhất là nhân vật đại
diện cho quyền lợi dân tộc, đều phản ánh lịch sử của dân tộc, của quần chúng
nhân dân ở một mức độ nhất định. Vì vậy, tạo biểu tượng về các nhân vật lịch sử
có tác dụng cụ thể hóa một số sự kiện lịch sử, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản
của lịch sử.
7


Mặt khác, tạo biểu tượng về nhân vật còn giúp cho học sinh tránh được


Biểu tượng nhân vật lịch sử là một trong những biện pháp quan trọng làm
cho hoạt động trí tuệ của học sinh không ngừng phát triển. Thông qua việc giáo
viên sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan, tư liệu lịch sử, học sinh phải huy
động trí óc quan sát, tư duy và tưởng tượng để có được biểu tượng lịch sử đúng
đắn nhất.
Việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử là cơ sở để tiến tới sự nhận thức lý tính
của hiện tượng lịch sử, là điều kiện để cho học sinh nhận thức lịch sử đúng đắn,
tiến tới hình thành khái niệm.
Tạo biểu tượng các nhân vật phản diện phải hình thành ở các em thái độ
căm ghét, bác bỏ, phê phán hành động tàn bạo, xấu xa. Đó là yêu cầu giáo dục
tư tưởng rất quan trọng cho học sinh trong việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử.
Đặc biệt, yêu cầu đó càng được thúc đẩy quan trọng hơn trong thời đại ngày nay
khi nhiều luồng thông tin cùng tồn tại, các em cần phải phân biệt được cái tốt,
cái xấu, nắm vững và bảo vệ được giá trị lịch sử to lớn của dân tộc.
2.2. Thực trạng của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử nhằm giáo
dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh
2.2.1. Những thuận lợi và khó khăn
Một bộ phận các em đã thực sự hứng thú với giờ học lịch sử với niềm đam
mê nghiêm túc. Chất lượng của các kỳ thi tốt nghiệp, kỳ thi đại học, kỳ thi học
sinh giỏi quốc gia môn Lịch sử có nhiều bài thi đạt chất lượng khá, giỏi. Trong
nội dung tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử cũng đã thu hút được các em say mê
tìm tòi kiến thức về nhân vật lịch sử, hình thành biểu tượng. Song, bên cạnh
những tích cực nói trên, còn tồn tại nhiều điểm bất cập trong nội dung tạo biểu
tượng các nhân vật lịch sử:
Về phía giáo viên: Một bộ phận giáo viên chưa nhận thức đúng vai trò, vị
trí bộ môn Lịch sử nên chưa thực sự tích cực trong việc giảng dạy. Các bài giảng
chỉ mang tính chất cung cấp sự kiện, tóm tắt kiến thức lịch sử ở sách giáo khoa.
Với việc tăng kênh hình, giảm kênh chữ trong sách giáo khoa đổi mới hiện nay
buộc người giáo viên phải có chuyên môn sâu, tư liệu kiến thức phong phú để

giảng dạy là vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn.
2.3. Những biện pháp cụ thể
2.3.1 Nội dung cơ bản của giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1954 - 1975
10


Giai đoạn lịch sử Việt Nam 1954 – 1975 trong chương trình sách giáo khoa
Lịch sử lớp 12 hiện hành gồm 3 bài, từ bài 21 “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam
(1954 – 1965)” đến bài 23 “Khôi phục và phát triển kinh tế xã hội miền
Bắc, giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973 - 1975)” . Đây là chương có vị trí
rất quan trọng với toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc, nó thể hiện cuộc đấu tranh
trường kỳ gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của một đất nước vừa trải qua ách
thống trị của thực dân Pháp nay lại phải chống tên đế quốc đầu xỏ là Mĩ và tay
sai. Đó là quá trình đấu tranh lâu dài suốt 21 năm, trong đó miền Bắc thực hiện
những nhiệm vụ của cuộc cách mạng trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chiến đấu
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời làm nghĩa vụ hậu phương
lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam. Nhân dân miền Nam trực tiếp tiến hành cuộc
đấu tranh chống xâm lược Mĩ và tay sai, từng bước đánh bại những âm mưu, thủ
đoạn của Mỹ; hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới
thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã
đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử dân tộc ta và nó mang tầm vóc của
thời đại. Nó mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và
đi lên chủ nghĩa xã hội.
2.3.2. Các nhân vật lịch sử cần tạo biểu tượng cho học sinh giai đoạn
1954 - 1975

Với nội dung phong phú của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 1975, hệ thống các nhân vật cần tạo biểu tượng cho học sinh c ũng r ất đa
dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

đối dựa vào vai trò chủ yếu của họ trong lĩnh vực mà họ đóng góp lớn nhất. Tuy
nhiên, cũng có những nhân vật mà việc phân loại nhóm không thực hiện được rõ
ràng , ví dụ như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ đóng góp trên lĩnh vực
chính trị, quân sự, cách mạng, Người còn là một nhà văn, nhà thơ, một danh
nhân văn hóa thế giới.
Vì vậy, trong phạm vi đề tài này tôi lựa chọn một số nhân vật lịch sử tiêu
biểu trong từng phần, từng nội dung, từng lĩnh vực để đưa ra một số biện pháp

12


về việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm cho
học sinh lớp 12 mà thôi.
2.3.3. Một số biện pháp tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử nhằm giáo
dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh lớp 12
2.3.3.1. Những yêu cầu để tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử nhằm
giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh lớp 12
Thứ nhất, đối với những nhân vật mà cuộc đời và sự nghiệp của họ gắn với
quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, như Hồ Chí Minh đối với cách
mạng Việt Nam, phải tạo các biểu tượng cụ thể phản ánh từng hoạt động cụ thể
của nhân vật, trên cơ sở đó, liên kết các biểu tượng cụ thể để rút ra kết luận khái
quát về hoạt động của nhân vật.
Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta.
Vai trò của Người trong lịch sử đất nước gắn liền với quá trình đấu tranh gi ải
phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Dưới sự chỉ đạo của Người dân tộc ta đã làm
nên thắng lợi anh hùng từ Cách mạng tháng Tám 1945, rồi đến chiến thắng “trấn
động địa cầu, lừng lẫy năm châu” Điện Biên Phủ 1954, kết thúc cu ộc kháng
chiến chống thực dân Pháp. Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mĩ, với đường
lối đúng đắn, sáng tạo phù hợp với tình hình đất nước, đã đưa cuộc kháng chi ến
của dân tộc ta đến thắng lợi cuối cùng…

của nhân vật. Đây là tình huống xuất hiện của nhân vật. Trong tình huống đó
phải nêu rõ đặc điểm của thời đại, không phải chỉ nêu khái quát mà phải bằng
những số liệu cụ thể, sự kiện cụ thể.
Ví dụ: khi dạy bài 22, tìm hiểu về cuộc chiến đấu chống chiến lược

“Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá ho ại miền Bắc l ần th ứ
nhất của đế quốc Mĩ (1965 – 1968), giáo viên tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
như: hình ảnh “O du kích dũng sĩ” Ngô Thị Tuyết – 11 tuổi đã tham gia vào

trung đội du kích hợp pháp Bình Đông (Quảng Ngãi) – một trung đội thép đã
từng

uy hiếp giặc Mỹ rất lớn ở Quảng Ngãi. Bằng trí thông minh, cách đánh

tỉa nhanh nhẹn, cô bé 11 tuổi này đã lần lượt đánh hạ gục 4 tên lính Mĩ, được
phong danh hiệu "dũng sĩ diệt Mỹ" khi chưa tròn 12 tuổi. Đặc biệt, Ngô Thị
Tuyết là người đã có vinh dự được 7 lần gặp Bác Hồ.
14


Hay hình ảnh của anh hùng Nguyễn Viết Xuân trong trận đánh máy bay
phản lực Mỹ bảo vệ con đường phía tây Quảng Bình- con đường huyết mạch
của cuộc kháng chiến. Anh đã hết sức bình tĩnh yêu c ầu y tá c ắt đứt m ột ph ần
chân đã bị đạn giặc xuyên nát. Ngay sau đó, anh tiếp tục động viên đồng đội
"nhằm thẳng quân thù mà bắn". Anh đã hi sinh nhưng khẩu hiệu đó thì còn
mãi với cuộc kháng chiến. Đó còn là hình ảnh chiến đấu và hi sinh anh dũng
của rất nhiều các anh hùng dân tộc trong cuộc chiếu đấu chống chiến lược
chiến tranh tàn ác của đế quốc Mỹ trong những năm 1965-1968.
Thứ tư, phải nắm vững tính cách riêng của nhân vật để chọn hành động
lịch sử cần nêu lên của họ.

chống lại sự đàn áp, kì thị tôn giáo của chính quyền Diệm, phản đối s ự xâm
lược của Mĩ có các tấm gương hi sinh anh dũng biến thân mình thành ng ọn
đuốc sống, kêu gọi kẻ thù tàn bạo dừng tay giết người: năm 1963, Hòa
thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn (11/6/1963) trước

sự

chứng

kiến của hàng nghìn các tăng ni, Phật tử cùng nhiều quan sát viên, báo chí
quốc tế. Sự kiện này đã gây tác động rất lớn trong phong trào đấu tranh của
quần chúng, đặc biệt là phong trào đấu tranh của các Phật tử, tăng ni.
Biện pháp thứ hai: tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử bằng cách kết hợp
lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên với các phương tiện trực quan.
Theo lối dạy học truyền thống (thầy đọc, trò chép) lời nói của giáo viên là
phương tiện chính, gần như duy nhất, cung cấp thông tin. Ngày nay, theo quan
niệm dạy học hiện đại, các nhà nghiên cứu đã nêu một nguyên tắc sư phạm
chung “Thầy nói ít, trò làm việc nhiều”. Điều đó chứng tỏ lời nói của giáo viên
vẫn có vai trò quan trọng trong dạy học, song cần rút gọn hơn, giành thời gian
vào việc phát triển hoạt động tích cực của học sinh.
Ví dụ: khi dạy về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kì
1961 – 1965, hình ảnh những con người mới theo tiếng gọi của Tổ quốc

lên vùng Tây Bắc khai phá đất đai, lập ra những nông trường hợp tác xã sản
xuất với niềm vui phấn khởi vì nền hòa bình đã có ở miền Bắc, quyết tâm vì
miền Nam ruột thịt. Tất cả những hình ảnh lao động sản xuất đó được
hiện
Tiêu

lên chân thực, sôi động trong các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ.

sở đó tạo cho các em cảm xúc lịch sử mạnh mẽ, sâu sắc.
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã phổ biến
và có nhiều thuận lợi, đặc biệt là trong việc sưu tầm tư liệu lịch sử, khai thác
tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu…qua việc trình chiếu trên Power Point rất thuận
lợi trong việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh.
Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều trường phổ thông, việc sử dụng tranh, ảnh,
phim tư liệu trong dạy học lịch sử còn rất hạn chế. Có giáo viên chưa hiểu hết
giá trị của tranh, ảnh lịch sử còn rất lúng túng khi sử dụng tranh, ảnh (hoặc để
17


học sinh tự quan sát và suy ngẫm mà không hướng dẫn, hoặc chỉ đưa tranh và và
giới thiệu tên bức tranh mà không đề cập đến nội dung), hay khi sử dụng phim
tư liệu để minh họa thì chỉ trình chiếu cho học sinh xem chứ không thuyết minh
nội dung phim, nếu phim có thuyết minh thì chỉ cho học sinh xem chứ không
đưa ra nhận xét, mà để học sinh tự suy nghĩ. Như vậy, việc sử dụng tranh, ảnh
lịch sử, phim tư liệu chỉ là hình thức, không làm cho giờ học sinh động, phong
phú. Để khắc phục tình trạng đó, khi sử dụng tranh, ảnh lịch sử, phim tư liệu để
tạo biểu tượng giáo viên cần đạt được yêu cầu sau:
- Chọn tranh, ảnh lịch sử, phim tư liệu phản ánh trung thực nội dung sự
kiện để có tác dụng cao nhất trong việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử
- Chuẩn bị tốt phương án sử dụng tranh (sử dụng khi nào? Đặt ở vị trí nào?
Minh họa, thuyết trình ra sao?). Khi sử dụng cần chú ý: Giải thích xuất xứ tranh
ảnh; Miêu tả tranh; Rút ra kết luận khái quát. Còn đối với phim tư liệu cũng cần
chuẩn bị tốt phương án sử dụng ( sử dụng khi nào?, thuyết minh ra sao?).
Loại tranh ảnh có giá trị khắc họa biểu tượng cần tạo theo nội dung bài học. Tùy
nội dung của bài mà sử dụng tranh, ảnh, phim tư liệu để giới thiệu, khai thác nội
dung, hoặc củng cố bài; tùy theo mục đích sử dụng mà giới thiệu các vấn đề để
học sinh hiểu rõ.
Ví dụ: khi dạy bài 22, mục 2. Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa

0
0
7

Giỏi
%
14,81
10,71
0
0
7,29

SL
14
13
5
3
35

Khá
%
51,85
46,43
25
14,29
36,47

SL
9
12

0
0
0
0
0
0
0
0
0

PHẦN 3: KẾT LUẬN
Như vậy, việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử có vai trò to lớn trong
quá trình nhận thức nói chung, nhận thức lịch sử nói riêng. Việc cung cấp cho
học sinh những sự kiện lịch sử cụ thể sinh động để tạo biểu tượng là bước đầu
20


quan trọng của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Nó là những điều kiện
cơ bản để hình thành khái niệm lịch sử. Đồng thời, việc tạo biểu tượng lịch sử có
ý nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh, vì thông qua những hình ảnh cụ thể, sinh
động, có sức gợi cảm mới tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của các em.
Với vai trò ý nghĩa đó, biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật lịch sử
nói riêng là khâu không thể thiếu trong quá trình nhận thức lịch sử.
Sử dụng các biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong chương trình lịch
sử lớp 12 sẽ giúp cho việc học tập của học sinh lớp 12 thêm sinh động, hấp dẫn
và thu hút hơn. Trên cơ sở nội dung phần Lịch sử Việt Nam 1954 – 1975 của
chương trình lịch sử lớp 12, tôi nghiên cứu về lý luận và thực tiễn một số các
biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lich sử nhằm giáo dục tư tưởng tình cảm cho
học sinh.
Tóm lại, không thể phủ nhận vai trò của tạo biểu tượng trong dạy học lịch





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status