Sửa lỗi câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

AN THANH NGỮ

SỬA LỖI CÂU VỀ MẶT CẤU TẠO NGỮ PHÁP
CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN
LUYỆN TỪ VÀ CÂU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. KHUẤT THỊ LAN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu khóa luận này, tôi gặp rất nhiều
khó khăn và bỡ ngỡ. Nhƣng với sự giúp tận tình của TS.Khuất Thị Lan tôi
đã từng bƣớc tiến hành và hoàn thành khóa luận này.Tôi xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cô!
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa
Giáo dục Tiểu học và các thầy cô trong trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2,
cùng các thầy cô, tập thể lớp 4A, 4B, 4C, 4D trƣờng Tiểu học Minh Lƣơng,
xã Minh Lƣơng, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày



DT

: Danh từ

SL

: Số lƣợng

TL%

: Tỉ lệ phần trăm

CN

: Chủ ngữ

VN

: Vị ngữ

TN

: Trạng ngữ

TN1

: Trạng ngữ 1

TN2


2.1.3. Kết quả khảo sát ................................................................................. 35
2.2. Khảo sát tình hình mắc lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 qua
phân môn Luyện từ và câu ........................................................................... 37
2.2.1. Mục đích khảo sát............................................................................... 37
2.2.2. Nội dung khảo sát ............................................................................... 37
2.2.3. Kết quả khảo sát ................................................................................. 37
2.3. Mô tả các lỗi xét về mặt cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4................ 40
2.3.1. Câu không đủ thành phần ................................................................... 40
2.3.2. Câu thừa thành phần .......................................................................... 43
2.3.3. Câu không phân định rõ thành phần ................................................... 43
CHƢƠNG III. BIỆN PHÁP SỬA LỖI CÂU VỀ CẤU TẠO NGỮ PHÁP
CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU ........... 46
3.1. Dạy phân tích thành phần câu ................................................................ 46
3.1.1. Dạy kiến thức về thành phần câu cho học sinh ................................... 46
3.1.2. Thực hành làm bài tập ........................................................................ 51
3.2.Dạy chữa các lỗi câu xét về mặt cấu tạo ngữ pháp .................................. 58
3.2.1. Câu thiếu thành phần ......................................................................... 58
3.2.2. Câu thừa thành phần .......................................................................... 62
3.2.3. Câu không phân định rõ thành phần ................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 66
PHỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt có 7 phân môn nhƣ: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập
đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện giúp học sinh hình thành và
phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết)

câu, các thành phần câu, kỹ năng phân tích thành phần câu, kiến thức và kỹ
năng phân loại, viết các kiểu câu theo cấu tạo; Kiến thức về dấu câu, kỹ năng
dùng dấu câu... trên cơ sở ngữ pháp, học sinh nắm đƣợc các quy tắc chính tả,
dấu câu, liên kết câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói.
Nhƣ vậy, dạy ngữ pháp ở tiểu học là giúp cho học sinh nhận diện, phân
loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này
trong hoạt động giao tiếp của mình. Tuy nhiên hiện nay có nhiều nguyên
nhân, học sinh tiểu học nắm kiến thức ngữ pháp còn chƣa chắc nên trong quá
trình nói, viết còn mắc nhiều lỗi về ngữ pháp nhƣ: Các lỗi về dùng từ, các lỗi
về câu, các lỗi về liên kết câu và các lỗi về phong cách... nếu không nói đúng,
viết đúng thì không thể nói hay viết hay. Do vậy, việc phát hiện và chữa các
lỗi về ngữ pháp cho học sinh là vô cùng cần thiết.
Vậy việc học sinh tiểu học mắc các lỗi về cấu tạo ngữ pháp là do đâu?
Do hạn chế của chƣơng trình và sách giáo khoa, do trình độ của giáo viên hay
do những khó khăn đặc trƣng khi dạy ngữ pháp? Đây là câu hỏi đặt ra khiến
các nhà chuyên môn cũng nhƣ các giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn phải trăn
trở tìm câu trả lời.
Qua việc nghiên cứu, điều tra thực tế học ngữ pháp học sinh tiểu học
mà đối tƣợng là học sinh lớp 4, chúng tôi nhận thấy khả năng nắm bắt kiến
thức ngữ pháp cũng nhƣ trong thực hành luyện tập của học sinh còn thấp .Có
thể nói trong các bài của học sinh, các lỗi về cấu tạo ngữ pháp còn xuất hiện
rất nhiều và vô cùng đa dạng. Chính vì thế, chúng tôi chọn vấn đề: “Sửa lỗi
câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và
câu”.Chúng tôi mong muốn thông qua việc nghiên cứu đề tài góp phần tìm ra

8


nguyên nhân và biện pháp khắc phục các lỗi câu sai về cấu tạo ngữ pháp cho
học sinh lớp 4 để nâng cao chất lƣợng dạy và học phân môn Luyện từ và câu

cách khắc phục. Tuy nhiên, tác giả chỉ khảo sát các lỗi câu trên phƣơng tiện
truyền thông ở thành phố Hồ Chí Minh chƣa thật phù hợp với bậc Tiểu học.
Vấn đề về lỗi câu ở Tiểu học cũng đƣợc đƣa ra trong các bài tập nghiên
cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp.
Trong khóa luận “Tìm hiểu kỹ năng viết câu của học sinh lớp 4” của
Đặng Thị Thu Hà đã nêu ra các loại lỗi câu mà học sinh mắc phải và cách
chữa. Các loại lỗi này tập trung nghiên cứu trong phạm vi lớp 4.
Trong khóa luận “Khảo sát lỗi câu của học sinh Tiểu học” của Nguyễn
Thị Kim Huệ đã khảo sát, phân loại các lỗi câu và cách chữa. Tuy nhiên
những lỗi này còn chung chung chƣa ở một phân môn cụ thể.
Trong khóa luận “Các biện pháp sửa lỗi dùng từ, đặt câu trong bài Tập
làm văn của học sinh lớp 4,5” của Đào Thị Thanh đã đƣa ra các loại lỗi câu
rất cụ thể nhƣng chỉ ở phân môn tập làm văn.
Nhƣ vậy, chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu chỉ riêng lỗi về cấu
tạo ngữ pháp của học sinh tiểu học. Đây cũng chính là một trong những lí do
cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài“Sửa lỗi câu về mặt cấu tạo ngữ pháp cho
học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu”. Trên cở sở tìm và phân loại
đƣợc các lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
cho học sinh cho học sinh lớp 4, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học
phân môn Luyện từ và câu trong môn tiếng Việt ở Tiểu học.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Sửa lỗi câu về cấu tạo ngữ pháp cho học sinh lớp 4 qua phân
môn Luyện từ và câu”, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tƣợng học sinh lớp
4, bởi ở giai đoạn này học sinh mới đƣợc trang bị những kiến thức ngữ pháp
cơ bản. Do vậy, chúng tôi mới có cơ sở để tìm hiểu, đánh giá lỗi về cấu tạo
ngữ pháp của học sinh khối lớp 4.

10


11


- Hệ thống lại những kiến thức ngữ pháp đƣợc dạy và học ở tiểu học
trong chƣơng trình, SGK tiếng Việt lớp 4.
- Khảo sát tình hình thực tế việc nắm kiến thức ngữ pháp của học sinh
thuộc trƣờng tiểu học Minh Lƣơng, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai để làm cơ
sở cho việc nghiên cứu.
- Phát hiện và hệ thống hoá các lỗi về cấu tạo ngữ pháp mà học sinh lớp
4 thƣờng hay mắc hiện nay.
- Đề xuất những biện pháp khắc phục lỗi về cấu tạo ngữ pháp cho học
sinh lớp 4 nói riêng nhằm nâng cao chất lƣợng dạy - học ngữ pháp ở tiểu học nói
chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài một cách có cơ sở, chúng tôi đã vận
dụng các phƣơng pháp sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tổng hợp lí luận
Nghiên cứu tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu, sách báo về ngữ
pháp tiếng Việt và phƣơng pháp dạy học tiếng Việt, chƣơng trình, SGK tiếng
Việt lớp 4, sách giáo viên tiếng Việt lớp 4 , lí luận dạy học tiểu học...
5.2. Phương pháp phân tích
Từ những tài liệu đã thu thập đƣợc, chúng tôi vận dụng phƣơng pháp
phân tích nhằm làm rõ các lỗi về cấu tạo ngữ pháp của học sinh lớp 4 để đề ra
những biện pháp khắc phục hợp lí.
5.3. Phương pháp khảo sát, thống kê
- Khảo sát việc nắm kiến thức ngữ pháp cũng nhƣ kỹ năng thực hành
ngữ pháp học sinh.
- Thống kê, phân loại, nhận xét kết quả, trên cơ sở đó xây dựng các
biện pháp nhằm khắc phục lỗi về cấu ngữ pháp của học sinh.
- Tiếp xúc trao đổi với những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy để

dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một
hành động nói” [ 9, 16].
Tác giả Hoàng Trọng Phiến cũng đƣa ra định nghĩa về câu: “Câu là
đơn vị ngữ pháp có cấu tạo ngữ pháp (bên trong, bên ngoài) tự lập và có ngữ
điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm theo thái độ của
người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư
cách là đơn vị thông báo ngôn ngữ nhỏ nhất” [8].
Tác giả Diệp Quang Ban đƣa ra định nghĩa về câu nhƣ sau: “Câu là
đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có câu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên
ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay
thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt
tư tưởng tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn
ngữ” [5, 107].
Trong khóa luận này chúng tôi thống nhất chọn định nghĩa về câu của
Diệp Quang Ban rất cụ thể, ngắn gọn nhƣng mang tính khái quát cao: “Câu là

14


đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp ( bên trong và bên
ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay
thái độ, sự đánh giá của người nó, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá
của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm.
Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [ 5, 107].
1.1.2. Các thành phần câu tiếng Việt
Câu của Tiếng Việt có thể chia ra các thành phần nhƣ sau: Thành phần
chính (hay còn gọi là thành phần nòng cốt của câu) và thành phần phụ của câu.
1.1.2.1. Thành phần chính
a. Chủ ngữ
a1. Khái niệm

ra sau vị ngữ nhờ có chỉ tố phân đoạn thực từ thực tại “là” [19, 187-188].
- Cấu tạo của chủ ngữ.
+ Về mặt từ loại: Chủ ngữ thƣờng đƣợc biểu hiện bằng danh từ và đại
từ nhân xƣng. Ngoài ra, động từ, tính từ, số từ cũng có thể làm chủ ngữ .
+ Về cấu tạo: Chủ ngữ thƣờng đƣợc cấu tạo từ một từ, một cụm từ
chính phụ, một cụm từ đẳng lập hoặc một cụm chủ vị. Ngoài ra, nó còn có
một số kiểu cấu trúc khác.
Ví dụ: Trước mặt là một con đường.
Trong ví dụ trên, chủ ngữ đƣợc cấu tạo từ QHT + DT. Đây là một giới ngữ.
Tóm lại, sau khi tổng kết các quan điểm của các nhà ngữ pháp học,
theo chúng tôi, chủ ngữ có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:
- Về khái niệm: Chủ ngữ là thành phần chính của câu thể hiện đối tƣợng
đƣợc thông báo trong câu, cùng với vị ngữ tạo thành nòng cốt câu.
- Về vị trí: Chủ ngữ thƣờng đứng trƣớc vị ngữ theo trật tự C - V nhƣng
khi cần nhấn mạnh nội dung thông báo hay biểu thị tình cảm, cảm xúc,...
ngƣời ta có thể đặt vị ngữ trƣớc chủ ngữ.
- Về cách xác định chủ ngữ: Chủ ngữ có thể đƣợc xác định bằng cách
xác định nòng cốt câu, xác định thành phần chính của câu( sử dụng phép lƣợc

16


câu, tìm thành phần cấu tạo tối thiểu của câu), cuối cùng tìm những từ, ngữ
nêu đối tƣợng thông báo của câu.
- Về cấu tạo của chủ ngữ: Chủ ngữ có thể đƣợc làm từ một từ, một cụm
từ (cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ cố định), một cụm C - V hay
một giới ngữ.
b. Vị ngữ
b1. Khái niệm
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) khẳng định vị ngữ là

“thế nào” của chủ ngữ [17, 178].
Vị ngữ là bộ phận quan trọng nhất trong câu song phần, nó là trung tâm
tổ chức của câu, không thể lƣợc bỏ khi câu tách khỏi ngữ cảnh [29, 181], [23,
115], [31, 69]. Vị ngữ đóng vai trò chủ yếu và là hạt nhân của câu [32, 190].
- Vị trí của vị ngữ trong câu.
Vị ngữ thƣờng đứng sau chủ ngữ theo trật tự C - V. Tuy nhiên, vị ngữ
cũng có thể đứng trƣớc chủ ngữ (trƣờng hợp ngoại lệ) thuộc mặt dụng pháp
[38,185]. Việc đảo vị ngữ lên trƣớc chủ ngữ sẽ tạo nên một trật tự không bình
thƣờng nhằm đạt hiệu quả tu từ, biểu cảm [31, 70].
- Cấu tạo của vị ngữ
Về mặt từ loại: Phần lớn các nhà nghiên cứu ngữ pháp cho rằng động
từ, tính từ (vị từ) thƣờng làm vị ngữ, ngoài ra danh từ, đại từ, số từ cũng có
thể làm vị ngữ.
Về mặt cấu trúc: Vị ngữ có thể đƣợc tạo nên bởi một từ, một cụm từ,
một cụm từ chính phụ, một cụm từ đẳng lập, một giới ngữ, một kết cấu C-V
và những đơn vị đặc biệt nhƣ :
+ Từ “đang” + danh từ chỉ thời gian. Ví dụ: “Nó đang tuổi ăn tuổi ngủ”.
+ Các từ sao, vậy, thế nào. Ví dụ: “Anh sao thế ?” [22, 30].
+ Là sự lặp lại một tổ hợp từ về mặt ý nghĩa vốn là trọng tâm của nội
dung thông báo ở câu trƣớc.

18


Ví dụ:
-“Vài bữa nữa bố đưa con đi thăm bà nội”.
-“Con không vài bữa nữa”.
+ Là một tổ hợp quan hệ từ + danh từ, ví dụ: “Mẹ tôi ngoài vườn”
[12,150].
Về mặt nối kết với chủ ngữ: Vị ngữ có thể kết hợp trực tiếp với chủ ngữ

Xét về mặt kết cấu ngữ pháp của câu, trạng ngữ là thành phần phụ của
câu, có thể bỏ đi mà câu không sai ngữ pháp [9, 33], [5, 115],…
Xét về mặt ý nghĩa trạng ngữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với nòng
cốt câu, là thành phần bổ sung ý nghĩa cho câu. Trạng ngữ có khi là phần
ngƣời nghe mong đợi [9, 33]. Nội dung thông báo của câu chủ yếu ở thành
phần trạng ngữ [20, 193]. Trạng ngữ xác định hoàn cảnh, điều kiện diễn ra sự
việc nêu trong câu, góp phần làm nội dung đƣợc đầy đủ chính xác, trạng ngữ
nối kết các câu, các đoạn với nhau, góp phần làm cho đoạn văn, bài văn mạch
lạc [13,12,46]. Trạng ngữ làm cho nội dung phản ánh hiện thực khách quan
đƣợc cụ thể hơn, đầy đủ hơn [16, 78]. Trạng ngữ bổ sung cho những thông tin
về tình huống, tức nó thuộc vai chủ tố của sự tình đƣợc biểu thị trong câu.
Trạng ngữ cũng có thể đảm nhận chức năng liên kết văn bản nhờ vào đặc
điểm nào đó trong nội dung ngữ nghĩa mà nó biểu thị [17, 348 -349].
- Vị trí của trạng ngữ trong câu.
Trạng ngữ của Tiếng Việt có thể đứng ở ba vị trí khác nhau trong cấu
trúc câu là đứng đầu câu (trƣớc nòng cốt chủ - vị), đứng xen giữa chủ ngữ, vị
ngữ hoặc cuối câu (sau nòng cốt chủ - vị). Nhƣng đặc điểm ngữ pháp
củatrạng ngữ thƣờng đặt trƣớc phần nòng cốt câu [13, 50]. Đồng quan điểm
trên có rất nhiều ngƣời [16, 79], [4, 168].
Vị trí thƣờng gặp của trạng ngữ thƣờng đứng ở đầu câu. Khi trạng ngữ
chuyển vị trí đứng sau nòng cốt câu hoặc xen giữa chủ ngữ và vị ngữ phải có
điều kiện. Theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004), sự thay đổi

20


của trạng ngữ trong câu có liên quan đến vai trò của nó trong cấu trúc phân
đoạn thực tại của câu. Khi nó đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ,
vị ngữ, trạng ngữ có khả năng tham gia vào phần thuật đề [17,345]. Diệp
Quang Ban (2005) cho rằng trạng ngữ, khi ở cuối nòng cốt hoặc xen giữa chủ

định thành phần chính của câu (nòng cốt câu) sau đó xác định thành phần phụ
của câu và dựa vào dấu phẩy tách nó với nòng cốt câu kết hợp với ý nghĩa chỉ
thời gian, nơi chốn, mục đích,… của trạng ngữ để phân biệt nó với đề ngữ.
- Về cấu tạo của trạng ngữ: Trạng ngữ có thể đƣợc làm từ một từ, một
cụm từ, một giới ngữ.
+ Trạng ngữ có thể đƣợc tạo từ một từ:
Lễ phép, mẹ con chị Dậu cúi đầu chào.
+ Trạng ngữ có thể đƣợc tạo từ một cụm từ:
Một ngày cuối thu, tôi và Trũi lên đƣờng.
+ Trạng ngữ có thể đƣợc tạo từ một giới ngữ:
Đối với mẹ tôi, tôi vẫn có lý và đáng yêu.
Ở ngoại thành, nông dân trồng nhiều loại rau.
b. Đề ngữ
Theo chúng tôi, đề ngữ (khởi ngữ) đƣợc hiểu nhƣ sau:
- Về khái niệm: Đề ngữ là thành phần câu biểu thị chủ đề của câu biểu
thị chủ đề của câu biểu thị, có quan hệ chính phụ với toàn bộ nòng cốt câu và
có vị trí đặc thù là đứng đầu câu.
- Về cách xác định đề ngữ: Đề ngữ có thể đƣợc xác định bằng cách thử:
thêm vào nó các quan hệ từ nhƣ: về, đối với, với; thêm vào sau nó các từ mà,
thì, là.
- Về cấu tạo của đề ngữ: Đề ngữ có thể đƣợc cấu tạo từ một từ, một
cụm từ (chính phụ, đẳng lập), một cụm C -V hay một cụm giới ngữ.
Ví dụ:
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một từ:

22


Hoa, tôi để trên bàn.
+ Đề ngữ đƣợc cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:

một chuỗi gồm nhiều câu.
e. Liên ngữ
Liên ngữ đƣợc dùng để nối ý của câu chứa nó với ý của câu đứng trƣớc
hoặc đứng sau câu ấy, với ý cả cụm gồm nhiều câu đứng trƣớc hoặc sau câu
ấy.
Liên ngữ đứng đầu câu, cũng có khi liên ngữ đứng sau chủ ngữ.
1.1.3. Phân loại câu tiếng Việt
Xét về mặt cấu tạo câu đƣợc chia thành câu đơn và câu phức.
1.1.3.1. Câu đơn
Câu đơn là một câu đƣợc cấu tạo từ một cụm chủ - vị duy nhất làm
thành nong cốt câu.
Ví dụ: Trời mưa.
Căn cứ vào ngữ pháp có thể chia câu đơn thành hai kiểu:
- Câu đơn hai thành phần.
- Câu đơn đặc biệt (hay câu đơn không xác định thành phần).
(1) Câu đơn hai thành phần.
Câu đơn hai thành phần là câu có một cụm chủ vị duy nhất làm thành
nòng cốt câu.
Câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu trong việc
miêu tả ngữ pháp về câu.
2) Câu đơn đặc biệt.
Câu đơn đặc biệt là kiểu câu có một trung tâm ngữ pháp chính , không
chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó nhƣ
là quan hệ giũa chủ ngữ với vị ngữ. Ví dụ: Mưa! Tạnh!
Câu đơn đặc biệt chia ra hai loại lớn là câu đơn đặc biệt - danh từ và
câu đơn đậc biệt - vị từ.

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status