Phòng giáo duc-Đào tạo Mĩ Đức,thành phố Hà Nội .
Trường tiểu học Mĩ Thành.
Sáng kiến kinh nghiệm lớp 4:
Môn Tiếng Việt.
Đề tài: MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA
PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Họ và tên:Nguyễn Thị Thu Hiền.
Công việc được giao:Chủ tịch công đoàn - Dạy lớp 4.
Trình độ chuyên môn: Đại học
1
MỤC LỤC
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
2.Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu
3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu
4.Phương pháp nghiên cứu
PHẦN 2:NỘI DUNG
Chương I: Những vấn đề lí luận cơ sở cho vịêc dạy mở rộng vốn từ
1.1.cơ sở ngôn ngữ học và việc dạy tiếng việt ở trường tiêủ học
1.2.Từ vựng ngữ nghĩa học và ứng dụng vào daỵ mở rộng vốn từ ở tiểu học
1.3.Từ của tiếng việt và ứng dụng vào dạy mở rộng vốn từ ở tiểu học
1.4.Những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt
Chương II: Cơ sở thực tiễn của việc dạy mở rông vốn từ qua phân môn
luyện từ và câu ở lớp 4
2.1 Mục tiêu của môn tiếng việt ở lớp 4
2.2 Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng
2.3 Nội dung giảng dạy mở rộng vố từ cho học sinh lớp 4
2.4 Phương pháp dạy mở rông vốn từ cho học sinh tiểu học
2.5 Các phương pháp dạy học từ ngữ
2.6 Biện pháp quy trình dạy mở rộng vốn từ cho học sih lớp 4 trong phân
Trong hệ thống ngôn ngữ thì từ có vai trò đặc biệt quan trọng.Từ là đơn vị
trung tam của ngôn ngữ.Do đó ngoài việc giúp học sinh biết độc ,biết viết còn phải
cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ làm giầu vốn từ ngữ cho học sinh để học sinh có
vốn từ ngày càng phong phú ,do đó khả năng lựa chọn sử dụng tri thức của học
sinh ngày càng lớn,càng chính sác và đặc sắc .
Chính vì vậy mà việc dạy mở mang vốn từ cho học sinh ở tiểu học có vị trí,tầm
quan trọng rất lớn.Nó góp phần rèn luyện cho hoc sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học
tập các môn khác của môn tiếng việt,cung cấp cho các em một hệ thống các kiến
thức kĩ năng mở rộng vốn từ tạo điều kiện cho các em biết lựa chọn và sử dụng từ
một cách chính xác,hay để thể hiện các kiến thứic,rèn luyện các kĩ năng một cách
linh hoạt thực tế và có hệ thông hơn .Chính những từ ngữ mà các em sử dụng
trong văn bản nói viết có được từ phân môn tập làm văn,các báo cáo,thuyết
trình… đã thể hiện những hiểu biết thực tế,những kĩ năng sử dụng từ mà các em
3
đã được học ở việc dạy mở rông vốn từ trong phân môn luyện từ và câu và các
môn học khác.
Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thưc tế hiện nay việc dạy các môn học nói
chung và việc dạy mở rộng vốn từ nói riêng còn có rất nhiều hạn chế và chưa đạt
kết quả cao như mong muốn. Lí do của hiện tượng này là do đa số giáo viên chưa
định hình được phương pháp giảng dạy cũng như dạy thế nào cho phù hợp với
mục đích,nội dung của bài học đề ra. Mặt khác học sinh tiểu học là đối tượng mà
năng lực tư duy còn hạn chế,vốn từ của cá em còn nghèo nàn,kĩ năng sử dụng
ngôn ngữ còn chưa cao .Đồng thời do việc thay đổi nội dung chương trình SGK
khiến cho giáo viên còn lúng túng trong việc nắm bắt nội dung ,phương pháp dạy
của giáo viên theo SGK mới .Do đó phải tìm hiểu làm sao nâng cao được chất
luơng dạy học và mở rộng vốn từ cho học sinh ở tiểu học nói chung và lớp 4 nói
riêng . Đây là vấn đề trăn trở của giáo viên dạy tiểu học .Chính bởi vì lí do tôi đã
mạnh dạn nghiên cứu đề tài để dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 qua phân
môn luyện từ và câu.
hoá khỏi bất kỳ một tư tưởng, một cảm xúc và ước muốn cụ thể nào, có thể dễ
dàng nhận thận thấy ngôn ngữ học hay nói cách khác ngôn ngữ học là một khoa
học về ngôn ngữ .
Ngôn ngữ có thể tồn tại ở hai trạng thái , trạng thái động và trạng thái tĩnh.
Trạng thái tĩnh là trạng thái tồn tại của ngôn ngữ trong tiềm năng ngôn ngữ của
mỗi người. Trạng thái động của ngôn ngữ chính là trạng thái khi ngôn ngữ được
sử dụng được hiện thực hoá trong lời nói và lời nói chính là ngôn ngữ đang hành
chức, đang được dùng để giao tiếp giữa người với người. Chính vì vai trò quan
trọng của ngôn ngữ nên ngôn ngữ học cũng chiếm một vị trí xứng đáng trong nhà
trường từ cấp Tiểu học đến cấp Đại học. Trong nhà trường của ta hiện nay những
kiến thức về ngôn ngữ được cung cấp trước hết thông qua môn Tiếng việt là môn
học tiếng mẹ đẻ và sau đó ở môn học Tiếng nước ngoài.
Môn Tiếng việt với tư cách là môn học về ngôn ngữ dân tộc hướng vào các
mục tiêu cơ bản sau.
Cung cấp cho hcọ sinh tri thức nôn ngữ học về Tiếng việt, những tri thức về hệ
thống, cấu trúc và những tri thức về hoạt động ngôn ngữ.
5
-Rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng việt bao hàm, các phương diện sản sinh
lời nói và lĩnh hội lời nói.
-Rèn luyện nâng cao năng lực tư duy và kảh năng thẩm mỹ cho học sinh.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ bao hàm nhiều phương diện , phương diện sản sinh
lời nói ( hoặc bài viết).
Việc sản sinh lời nói lại có thể tiến hành dưới hai dạng nói hoặc viết còn việc
lĩnh hội cũng có thể diễn ra ở hai dạng nghe và đọc, nói và viết cần đạt đến trình
độ thông thạo, còn nghe và đọc cần đạt trình độ thông hiểu, cho nên môn Tiếng
việt có mục tiêu rèn luyện và nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng việt cho học sinh cả
ở bốn phương diện : Nói, Viết, Nghe, Đọc. Chính mục tiêu này của môn Tiếng
Việt gắn môn học này với chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, chức năng
giao tiếp.
Dạy và học Tiếng việt là nhằm sử dụng dược ngày một tốt hơn tiếng mẹ đẻ của
-Người thanh tiếng nói cũng thoát.
-Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng
kêu.
-Trông lợn mà bắt hình dong.
Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon.
Những đổi mới này đã góp phần khẳng định tư cách vị trí của môn học
Tiếng việt trong nhà trường hiện nay.
Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ các nguyên tắc, nội dung và
phương pháp dạy học Tiếng việt.
Ví dụ : Từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ dạy tiếng phải làm cho học sinh
nắm được giá trị cua từng yếu tố của ngôn ngữ, tính hệ thống của ngôn ngữ là cơ
sở để xây dựng các bài tập yêu cầu học sinh tìm các yếu tố khi biết một yếu tố
khác và quan hệ hoặc tìm quan hệ khi biết các yếu tố. nỗ cũng là cơ sơ để cung
cấp từ theo chủ đề ở Tiểu học.
1.2-Từ vựng - ngữ nghĩa học và ứng dụng vào dạy mở rộng vốn từ ở
Tiểu học :
1.2.1-Từ trong ngôn ngữ :
Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ.
Đây là đặc trưng có tính chất bao chùm, đặc trưng nổi bật nhất của từ. Bởi
vì từ được sử dụng để tạo ra câu nói, câu được sử dụng trong giao tiếp, tư duy.
7
Như vậy : Nếu không có từ thì không có các loại ngôn ngữ, từ là đơn vị tồn
tại hiển nhiên và mang tính chất có sẵn. Điều này biểu hiện ở chỗ hầu như người
bản ngữ nào cũng cảm nhận được tự tồn tại của từ trong tiếng mẹ đẻ của mình.
1.2.2-Từ vựng – vai trò của từ vựng trong ngôn ngữ :
Tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ ta được từ vựng của một
ngôn ngữ. Đơn vị từ vựng gồm các từ như (nhà, cây, đi, chạy, tốt xấu, mặt trời, xe
đạp của Tiếng việt) và các đơn vị tương đương từ còn gọi là các cụm từ cố định
như ( các thành ngữ, quán ngữ).
Ví dụ : Một số cụm từ cố định được giới thiệu trong sách giáo khoa Tiếng
1.3-Từ của Tiếng việt và ứng dụng vào dạy MRVT ở Tiểu học :
1.3.1-Từ của Tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định tất cả
ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất, trong Tiếng việt và nhỏ nhất để tạo
câu, mọi quan hệ và chức năng trong câu không thay đổi, bất biến đổi vị trí, từ ở
trong từ điển và từ ở trong câu nói .
Ví dụ : +Trong từ điển : Sách.
+Trong câu nói : Sách này của tôi
Tôi đọc sách.
Không có sách thì không có trí thức.
1.3.2-Nghĩa của từ Tiếng việt là khái niệm về sự vật hiện tượng trong hiện
thực khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ.
*Các hình thành phần ý nghĩa trong từ:
9
NGHĨA TỪ
Ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa ngữ pháp
ý nghĩa
biểu
niệm
ý nghĩa
biểu
cảm
ý nghĩa
biểu vật
-Ý nghĩa biểu niệmlà những hiểu biết mà từ gợi ra về sự vật hiện tượng hoạt
động, tính chất được gọi lên.
-Ý nghĩa biểu vật là những sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan mà
từ gọi lên.
-Ý nghĩa biểu cảm là thành phần ý nghĩa phản ánh tình cảm nhận thức, thái
độ của người sử dụng ngôn ngữ.
phú , sinh động, đa dạng, nhiều màu vẻ, sự giàu có của từ vựng nói riêng. Ngôn
ngữ nói chung nó góp phần tạo ra sức sống luôn luôn xanh tươi cho ngôn ngữ.
1.4-Những vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học Tiếng việt :
Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Tiếng việt, đổi mới
phương pháp dạy học của các môn học nói chung và ở môn Tiếng việt nói riêng
thực chất là tìm cách chyển hoá những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật
và khoa học giáo dục vào trong thực tiễn dạy học . Vì vậy đòi hỏi sự đổi mới
đồng bộ từ nội dung phương pháp dạy học đến phương tiện, hình thức tổ chức dạy
học.
Trong dạy mở rộng vốn từ cho hcọ sinh giáo viên không chỉ quan tâm đến
cung cấp, mở rộng thêm vốn từ cho học sinh mà còn phải quan tâm đến quá trình
học sinh sử dụng từ ngữ đã học trong nói, viết, trong cuộc sống hàng ngày.
CHƯƠNG II
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY MỞ RỘNG VỐN TỪ
QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TIỂU HỌC
2.1-Mục tiêu của môn học Tiếng việt ở Tiểu học là :
-Hình hành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt
(nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học , góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
-Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giảng về Tiếng việt và những
hiểu biết sơ giảng về xã hội tự nhiên và con người , về văn hoá, văn học của
Việt Nam và nước ngoài.
11
-Bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành nhên cách con người Việt Nam.
2.2-Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của việc dạy mở rộng vốn từ ở lớp 4 :
*Về từ vựng :
-Có vốn từ thông dụng về thiên nhiên, xã hội và con người ( bao gồm một
số thành ngữ, tục ngữ và từ Hán Việt).
Tuần 25 và 26
Tài năng, sức khoẻ
Cái đẹp
Dũng cảm
12
Tuần 29 và 30
Tuần 33 và 34
Du lịch, thám hiểm
Lạc quan, yêu đời
Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá thông qua các bài tập.
+Tìm từ ngữ theo chủ điểm.
-Tìm hiểu , nắm nghĩa của từ ngữ.
-Phân loại từ ngữ.
-Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm.
-Luyện sử dụng từ ngữ.
Như vậy dạy mở rộng vốn từ ở chương trình lớp 4, chính là công việc làm
giàu vốn từ cho học sinh. Nó bao gồm các việc có liên quan mật thiết với nhau.
-Dạy nghĩa từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn
từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em
hiểu được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ.
Ví dụ minh hoạ :
Trong hầu hết các bài dạy mở rộng vốn từ đều được thiết kế các bài tập thực
hành để thông qua các bài tập thực hành đó dạy nghĩa từ cho học sinh như bài :
Mở rộng vốn từ nhân hậu, đoàn kết (SGK Tiếng việt 4 tập 1) có hai bài tập sau thể
hiện điều đó.
Bài 1 : Tìm các từ ngữ.
a-Thể hiện lòng nhân hậu tình cảm yêu thương đồng loại.
M : Lòng thương người.
b-Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương.
M: Độc ác.
2.4.1-Bản chất của phương pháp dạy học mới :
a-Nội dung và phương pháp dạy học mới :
Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau, mỗi nội
dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp các kỹ năng giao tiếp không thể được
hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát triển
những kỹ năng này, học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp
dưới sự hướng dẫn của thầy, cô các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, tự
nhiên và xã hội có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ
được những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có
14
ý thức của mình. Cũng như vậy những tư tưởng, tình cảm, nhân cách tốt đẹp chỉ
có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trong thực tế. Đó là
những lý do cắt nghĩa sự ra đời của phương pháp dạy học mới, phương pháo tích
cực hoá hoạt động của người học.
Tích cực hoá hoạt động của người học được hiểu là phương pháp dạy học
lấy người học làm trung tâm. Trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức hoạt
động , mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển.
b-Hoạt động của học sinh trong giờ học theo phương pháp dạy học mới :
Trong môn Tiếng việt, hoạt động của học sinh có thể là :
-Hoạt động gián tiếp ( đặc thù của môn Tiếng việt).
-Hoạt động phân tích, tổng hợp,thực hành lý thuyết( như ở các môn
học khác).
Cả 2 loại hoạt động trên có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác
nhau.
-Làm việc độc lập.
-Làm việc theo nhóm.
-Làm việc theo lớp.
Trong trường hợp câu hỏi bài tập đề ra đẫ rất cụ thể, học sinh được tổ chức
làm việc độc lập trong trường hợp câu hỏi và bài tập tương đối trừu tượng hoặc
đòi hỏi một sự khái quát nhất định và trong trường hợp nên làm việc chung theo
từ là:
-Phương pháp quan sát
-Phương pháp vấn đáp gợi mở
-Phương pháp luyện tập, thực hành
2.5-Các nguyên tắc dạy học từ ngữ ở Tiểu học:
Để dạy từ một cách có mục đích, có kế hoạch, cần tuân thủ một số nguyên
tắc sau:
+Nguyên tắc đồng bộ.
+Nguyên tắc thực hành.
+Nguyên tắc trực quan.
+Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ.
2.6-Biện pháp quy trình dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 trong
phân môn LTVC :
16
2.6.1-Biện pháp dạy học chủ yếu:
Giáo viên thường cho học sinh nêu lại một số kiến thức có liên quan đến bài
học, rồi tổ chức cho học sinh làm bài tập.
Chú ý:
+Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ yêu cầu của bài tập.
+Chữa mẫu cho học sinh một phần hoặc một bài.
+Hướng dẫn học sinh làm vào vở (hoặc bảng con hoặc vở bài tập).
+Hướng dẫn học sinh tự kiểm tra kết quả luyện tập.
Ví dụ: Khi dạy mở rộng vốn từ dũng cảm (tiết 2).
(SGK tiếng Việt 4 – Tập 2)
Bài 1: Yêu cầu tìm những từ cùng nghĩa và trái nghĩa với từ “dũng cảm”.
Giáo viên thường tiến hành như sau:
+ Cho học sinh đọc yêu cầu của đề tài.
+Hỏi đề bài yêu cầu gì?.
Hai câu hỏi trên nhằm mục đích hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ yêu cầu bài
tập.
2.7-Thực trạng dạy MRVT cho học sinh lớp 4 qua phân môn LTVC:
2.7.1-Khảo sát thực tế khi dạy MRVT cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học
Mỹ Thành – Thành phố Hà Nội.
Qua thực tế dự giờ thăm lớp của các bạn đồng nghiệp và các buổi hội thảo
tôi nêu ra một số câu hỏi và thu được kết quả như sau:
Hỏi: Dạy MRVT cho hóc inh lớp 4 khó hay dễ.
Trả lời: Dạy MRVT cho học sinh lớp 4 khó nhưng tìm hiểu kĩ chủ đề và có
phương pháp dạy phù hợp thì lên lớp rất nhiều thuận lợi.
Hỏi: Đồng chí có thích dạy môn này không? vì sao?
Trả lời: Khi dạy phân môn này, học sinh được tích cực học tập, được sử
dụng thêm từ vào vốn từ đã có của các em. Các em học rất sôi nổi nên tôi rất thích
dạy môn này.
Hỏi : ở lớp 4 , các từ ngữ được cung cấp cho học sinh chú ý thuộc các chủ
điểm nói về tính cách, năng lực sở thích. Theo bạn với nội dung dạy học như vậy
thì dạy MRVT có cần đồ dùng dạy học hay không ?
18
Trả lời : Giờ dạy sẽ phong phú nếu có tranh minh hoạ, phiếu học tập sẽ giúp
học sinh tiếp thu nhanh hơn. Tuy nhiên tuỳ từng bài mà có sự lựa chọn hình thức
sử dụng đồ dùng dạy học hay không.
Hỏi : Khi dạy MRVT cho học sinh lớp 4 đồng chí có điều chỉnh nội dung
bài học không ?
Trả lời : Không chỉ làm đúng các bài tập trong sách.
Hỏi : Giờ học như hiện nay có phát huy được tính tích cực của học sinh ?
Trả lời : Đã phát huy được tính tích cực của học sinh nhưng đôi khi giáo
viên vẫn còn lúng túng khi xử lý các tình huống.
Cuộc trao đổi trên phàn nào đã giúp chúng ta hiểu được thực trạng dạy
MRVT cho học sinh lớp 4 hiện nay. Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến
việc hình thành khái niệm từ vựng cho học sinh, có những giáo viên còn gặp khó
khăn khi lựa chọn phương pháp dạy học.
2.7.2-Khảo sát hứng thú học MRVT của học sinh :
Phân tích các kết quả thu được qua việc dự giờ thăm lớp, trao đổi với lãnh
đạo giáo viên và khảo sát kết quả học tập của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học
Mỹ Thành – Mỹ Đức – TP. Hà Nội. Về cơ bản đã đáp ứng được so với yêu cầu
dạy học hiện nay, song cũng còn có những nhược điểm cần có biện pháp khắc
phục.
*Ưu điểm :
-Lãnh đạo Phòng giáo dục và Ban giám hiệu Nhà trường đã có sự chỉ đạo
chuyên môn rất sáo sao, tổ chứ các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học giúp
giáo viên thuận lợi trong việc học tậ, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn.
-Giáo viên tích cực học tập, bồi dưỡng chuyên môn, đầu tư thời gian cho
việc soạn giảng nâng cao chất lượng giờ dạy, học sinh có đầy đủ đồ dùng tích cực
học tập.
*Nhược điểm :
20
Một số giáo viên chưa quan tâm tới việc hình thành khái niệm từ vựng cho
học sinh, chưa chú ý phát triển vốn từ cho học sinh, giờ học diễn ra theo lối mòn
chỉ cốt học sinh làm hết bài tập ở sách giáo khoa, không só sự điều chỉnh cho phù
hợp.
-Chưa chú ý hướng dẫn, gợi ý để học sinh hiểu mẫu trước khi làm bài tập.
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC MỞ RỘNG VỐN TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LTVC
Sau khi tìm hiểu, đánh giá về thực trạng dạy MRVT ở lớp 4 dựa vào cơ sở
lý luận , cơ sở thực tiễn của dạy học MRVT ở Tiểu học, Tôi xin mạnh dạn đề xuất
một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy MRVT cho học sinh lớp 4 trong
phân môn LTVC.
Vì nội dung dạy MRVT cho học sinh trong SGK tiếng việt 4 là các bài tập
thực hành về từ, các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá thông qua các dạng bài
tập nên tôi xin đề cập một số biện pháp dạy học cho các nội dung bài tập.
3.1-Tìm từ ngữ theo chủ điểm :
3.2.2-Giải nghĩa từ bằng các từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa:
Ví dụ: Tìm cùng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ “trung thực” các bài tập được
đưa ra dưới dạng để học sinh điền vào chỗ trống từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa.
Ví dụ: Thất bại và thành công.
3.2.3-Giải quyết từ bằng cách phân tích từ thành các từ đó:
Ví dụ: Tổ quốc là từ ghép gốc hán.
Tổ quốc
(Cha ông từ xa xưa) (nước, đất nước)
Như vậy khi phân tích thành các tiếng và hiểu nghĩa các tiếng đó học sinh sẽ
hiểu nghĩa của từ.
3.2.4-Giải nghĩa từ bằng một định nghĩa:
Đây là biện pháp giải quyết từ phổ biến nhất.
Là biện pháp giải nghĩa làm cơ sở cho rất nhiều bài dạy nghĩa khác. Hình
thức giải nghĩa này có 3 dạng bài tập theo thứ tự từ dễ đến khó.
Mức thấp nhất: Cho sẵn nội dung (nghĩa từ) và tên từ, chỉ yêu cầu học sinh
phát hiện ra sự tương ứng.
22
Ví dụ: Tìm từ (ở cột A) phù hợp với lời giải nghĩa (ở cột B):
A B
Gan dạ Chống trọi kiên cường không lùi bước
Gan góc Gan đến mức trơ ra, không còn biết sợ là gì.
Gan lì Không sợ nguy hiểm
Hoặc dạng bài tập trắc nghiệm.
Ví dụ: Theo em “thám hiểm” là gì? , chọn ý đúng để trả lời.
a-Tìm hiểu về đời sống của nơi mình ở.
b-Đi chơi xa để xem phong cảnh.
c-Thăm dò, tìm hiểu những nơi xa lạ, khó khăn, nguy hiểm.
-Mức thứ hai: Cho sẵn nội dung từ yêu cầu tìm tên gọn.
Ví dụ: Điền tiếp vào chỗ trống cho rõ ý.
Người làm nghề cày ruộng, trồng trọt trên đồng ruộng gọi là (nông dân).
“Nhiều điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
“Một con ngựa đau cả đàn bỏ cỏ”.
Tóm lại, muốn việc tìm hiểu nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ trở nên dễ
dàng hơn đối với học sinh thì giáo viên phải hướng học sinh về chủ đề đang học,
hướng dẫn các em tìm hiểu nghĩa đen rồi dựa vào đó suy ra nghĩa bóng (nghĩa câu
thành ngữ, tục ngữ).
3.5-Luyện sử dụng từ (tích cực hoá vốn từ):
Mục đích cuối cùng của dạy từ là để học sinh sử dụng được từ trong giao
tiếp. Vì vậy luyện sử dụng từ cho học sinh là rất quan trọng. Nhiệm vụ cơ bản của
dạy MRVT là chuyển vốn từ tích cực của học sinh thành vốn từ tích cực. Chính vì
thế các bài tập sử dụng từ làm tăng vốn từ cho học sinh bằng cách hình thành ở
các em kỹ năng sử dụng từ. Những bài tập được sử dụng trong phần MRVT là:
3.5.1-Bài tập điền từ là kiểu bài được sử dụng nhiều có 2 mức độ:
-Mức độ 1: Cho trước các từ, yêu cầu học sinh tìm trong số các từ đã cho
những từ thích hợp để điền vào chỗ trống trong đoạn bài, câu tục ngữ cho sẵn.
-Mức độ 2: Không cho trước các từ để học sinh tự tìm từ trong vốn từ của
mình để điền vào.
24
3.5.2-Bài tập điền ngữ:
Nhằm luyện cho học sinh biết kết hợp các từ.
-Mức độ 1: Cho sẵn nghĩa của từ và từ ngữ yêu cầu học sinh chọn từng yếu
tố dãy này ghép với một hoặc một số yếu tố dãy kia cho thích hợp.
-Mức độ 2: Yêu cầu học sinh tìm thêm từ mới có khả năng kết hợp với cụm
từ đã cho.
3.5.3-Bài tập dùng từ đặt câu:
Với một hoặc một số từ cho trước yêu cầu học sinh tự đặt câu. Đây là bài
tập phổ biến trong MRVT học sinh sẽ tự thể hiện sự hiểu biết của mình về nghĩa
của từ, cách thức kết hợp từ với nhau.
3.5.4-Bài tập viết đoạn văn: