ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP TỈNH
Giáo viên: Nguyễn Thu Hoài, trường Tiểu học thị trấn
Rèn viết câu cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Để đáp ứng được mục tiêu đào tạo của nhà trường XHCN nói chung và các
trường Tiểu học nói riêng là đào tạo những con người phát triển toàn diện. Bậc
Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, nó là nền móng đầu tiên cho sự phát triển
toàn diện ấy. Do vậy nền tri thức và nhân cách con người được vững chắc hay
không chính là nhờ vào sự kiên cố của nền móng đó.
Về mặt tâm lý ở cấp bậc Tiểu học này, trẻ bắt đầu tiếp xúc với việc học tập.
Hoạt động của chúng được chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập.
Tâm hồn trong trắng của các em bắt đầu tiếp xúc với công việc mới mẻ và có thể
nói cấp Tiểu học sẽ viết những nét đầu tiên trên nền nhân cách trẻ.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Tiếng việt giữ một trong những vị trí
quan trọng nhất. Với nhiệm vụ là trang bị cho học sinh những tri thức về hệ thống
Tiếng việt trong hoạt động tư duy và giao tiếp. Để học sinh có được điều đó trước
hết phải giúp học sinh biết cách sắp xếp các từ ngữ thành câu văn hoàn chỉnh. Đó
là công việc giúp học sinh viết được câu văn đúng về ngữ pháp hay đúng về mặt
nội dung là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết trong việc dạy Tiếng việt. Đối
với Tiếng việt, câu chính là tế bào đầu tiên giúp các em đạt hiệu quả cao trong quá
trình tư duy và giao tiếp, hay nói cách khác quá trình tư duy và giao tiếp của con
người chỉ đầy đủ và trọn vẹn đạt hiệu quả cao khi được cung cấp ngữ pháp đầy đủ
về câu.
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu và viết được những câu văn hoàn chỉnh,
đó là những điều trăn trở, suy tư đối với những giáo viên Tiểu học có nhiệt huyết
với nghề? Nó đòi hỏi mỗi giáo viên cần đầu tư huy động vốn kiến thức của mình,
giữ thời gian, năng lực, lòng nhiệt tình cao độ trong quá trình tìm tòi và sửa chữa
những lỗi câu sai của học sinh Tiểu học.
Qua thực tế tìm hiểu ở trường Tiểu học, tôi nhận thấy việc học sinh lớp 4
huyết với nghề.
2. Mục đích nghiên cứu
"Rèn viết câu cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu" nhằm đạt
được những mục đích sau:
Giúp học sinh lớp 4 thấy được nguyên nhân dẫn đến câu sai, từ đó giúp các
em sửa chữa để có những câu văn đúng, hay, giàu hình ảnh, hướng các em biết
vận dụng phần kiến thức phân môn luyện từ và câu vào việc đặt câu.
Giúp học sinh biết cách trình bày một vấn đề trọn vẹn về ý, khả năng diễn
đặt mạch lạc, lưu loát trước tập thể đối với những môn học khác.
Bên cạnh đó giúp các em thực hiện được yêu cầu nhiệm vụ của bộ môn, là
công cụ để tạo đà cho học sinh nhận thức tốt các môn học khác cũng như quá
trình tư duy và giao tiếp hàng ngày.
Đáp ứng được mục tiêu của giáo dục Tiểu học là giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ và kĩ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người Việt
2
Nam XHCN, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.
Đây là cơ sở để giáo dục lòng yêu quý tôn trọng Tiếng việt trong các em, có
ý thức giữ gìn mở rộng sự phong phú trong sáng của Tiếng việt, ngôn ngữ mẹ đẻ
của dân tộc.
Ngoài ra việc nghiên cứu này còn giúp tôi về việc bồi dưỡng tay nghề, củng
cố thêm vốn tri thức, hành trang sư phạm cho bản thân để vững bước trên con
đường sự nghiệp.
3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2013 đến tháng 5/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Trường Tiểu học thị trấn Tiên Yên.
4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Qua nghiên cứu trang bị thêm vốn hiểu biết của bản thân về phương pháp
dạy học tích cực trong môn Luyện từ và câu.
vị thông báo nhỏ nhất.
Câu có một cấu tạo ngữ pháp nhất định và có một ngữ điệu kết thúc. Ở
dạng đơn giản và bình thường nhất, câu có cấu tạo gồm hai thành phần chính ứng
với hai thành phần biểu hiện nội dung nói về đối tượng ấy. Ngữ điệu kết thúc báo
cho người nghe biết câu đã trọn vẹn, trên chữ viết nó được thể hiện bằng một dấu
chấm câu.
4
1.2. Cơ sở thực tiễn:
- Năm học 2013 - 2014, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4 với
tổng sĩ số là 27 em, trong đó:
+ Học sinh giỏi: 04 em
+ Học sinh tiên tiến: 15 em
+ Học sinh trung bình: 06 em
+ Học sinh yếu: 02 em
Với đặc điểm của lớp như trên, tôi cũng gặp những khó khăn nhưng cũng
có phần thuận lợi như sau:
1.2.1. Thuận lợi:
- Đa số các em đều ngoan, lễ phép và biết nghe lời.
- Học sinh có đầy đủ SGK và đồ dùng học tập.
- Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình.
- Hầu hết các em đều đọc viết thành thạo.
- Đa số các em tiếp thu nhanh.
1.2.2. Khó khăn:
- Lớp có ít học sinh giỏi, học lực của các em đa số là trung bình và yếu, một
số học sinh trong lớp còn nói ngọng và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao
tiếp hàng ngày sao cho đúng ngữ pháp.
- Một số phụ huynh học sinh làm nghề buôn bán nên bố mẹ các em không
có thời gian quan tâm đến con em mình học tập. Một số phụ huynh không biết
chữ nên không thể kèm cặp, giúp đỡ các em trong việc học tập.
1.2.3. Cơ sở của việc rèn viết câu đúng:
xanh thẫm láng bóng trên nền xanh ấy nổi bật một hàng chữ vàng in lấp lánh".
Hệ thống từ ngữ của em học sinh đã diễn đạt được cây bút chì với những
đặc điểm về chiều dài, hình dáng và đặc điểm bên ngoài, do vậy nó chứa đựng rất
nhiều ý. Để câu văn đúng, chính xác hơn, lời văn của học sinh diễn đạt sẽ rõ ràng
mạch lạc hơn ta có thể dễ dàng dùng các dấu câu để tránh những ý câu văn ra
thành nhiều câu như sau:
"Chiếc bút chì của em dài hơn một gang tay. Thân bút tròn như chiếc đũa.
Vỏ ngoài của bút sơn màu xanh thẫm láng bóng. Trên nền xanh ấy nổi bật một
hàng chữ vàng in lấp lánh".
Nội dung của câu đầy đủ, chính xác ta phải đảm bảo những vấn đề trên. Về
hình thức của câu khi viết và đọc những kiến thức ngữ pháp cần phải nghỉ hơi
trước khi đọc tiếp sang câu khác. Khi viết chữ cái đầu phải viết hoa và cuối mỗi
câu có một dấu chấm câu.
* Thứ hai là: Các kiến thức phân môn luyện từ và câu cung cấp cho các em
về việc phân loại câu theo mục đích nói.
Môn Tiếng việt ở Tiểu học trang bị cho học sinh những kiến thức ngữ pháp
chuẩn mực, rèn luyện cho học sinh có kỹ năng vận dụng vào để tư duy và giao
tiếp. Sản phẩm của nó trước hết là những câu văn hoàn chỉnh. Để có được sản
phẩm này, các em phải huy động bốn kỹ năng (nghe, đọc, nói, viết), trong đó kỹ
năng nói rất quan trọng. Tuỳ vào mục đích nói khác nhau người ta chia câu văn ra
làm một số loại. Nội dung này chiếm 1/3 tổng số kiến thức ngữ pháp trong
chương trình tiếng việt lớp 4. Nhằm kể một sự việc hay tả một cảnh vật, sự vật
cho người khác biết, người nói thường phải lựa chọn hệ thống các câu sao cho
phù hợp nhằm truyền tải được nội dung sâu sắc nhất, những hệ thống câu đó
người ta gọi là câu kể. Khi nói, câu kể được hạ giọng ở cuối câu. Khi viết, chữ cái
6
đầu dòng của câu kể phải viết hoa, cuối câu phải có dấu chấm, chấm lửng hoặc
dấu hai chấm, cụ thể là:
Ví dụ: Dấu chấm lửng ở cuối câu kể:
“Hàng ngày em quét nhà, rửa ấm chén, nhặt rau, lau bàn ghế ”
“Ô ! Trời đổ mưa”
“ Ôi! Bạn Nam giỏi quá”
Khi nói câu cảm có giọng thay đổi phù hợp với tình cảm và cảm xúc diễn tả
trong câu. Khi viết, cuối câu cảm có dấu chấm cảm (!).
7
Tuy câu cảm và câu cầu khiến có sự giống nhau ở dấu câu, nhưng ở hai loại
câu này mang một nội dung hoàn toàn khác nhau. Do vậy khi truyền thụ những
kiến thức ở phần này chúng ta cần tập trung phân tích để tránh sự nhầm lẫn trong
quá trình hình thành câu ở các em.
Khi ta dùng câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến hay câu cảm để chuyện trò, hỏi
đáp trực tiếp với người khác thì đó là những câu hội thoại.
Ví dụ:
Một hôm, Đỗ Thái Hậu và vua tới thăm Tô Hiến Thành, hỏi:
- Nếu chẳng may ông mất thì ai là người sẽ thay ông?
Tô Hiến Thành không do dự, đáp:
- Có giám nghị đại phu Trần Trung Tá.
Thái Hậu ngạc nhiên nói:
- Vũ Tán Đường hết lòng vì ông, sao ông không tiến cử?
Tô Hiến Thành tâu:
- Nếu Thái Hậu hỏi người hầu hạ giỏi thì thần xin cử Vũ Tán Đường, còn
hỏi người tài ba giúp nước, thần xin cử Trần Trung Tá.
Tóm lại: Việc tìm hiểu vấn đề trên không chỉ giúp cho học sinh nắm được
các kiểu câu chia theo mục đích và có khả năng vận dụng đặt được các câu văn
mang nội dung đó mà cần có sự so sánh, đối chiếu để học sinh thấy được sự khác
nhau giữa mục đích thông báo nội dung. Cần lưu ý cho các em một điểm khác
nhau đó là cách dùng dấu câu ở mỗi loại câu, đây là điểm khác nhau về mặt hình
thức giữa các câu.
* Thứ ba là: Các thành phần cấu tạo nên câu.
Nói đến câu không thể không nói đến các bộ phận quan trọng nhất và
không thể thiếu được nếu không có hoàn cảnh đặc biệt.
bởi các thành phần phụ. Các thành phần phụ trong câu là những phần thêm vào để
bổ sung ý nghĩa cho cả khối chủ ngữ - vị ngữ gọi là trạng ngữ.
Ngoài ra, phải giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học ở trên vào
việc đặt câu.
Ví dụ: Muốn đặt câu có thành phần định ngữ thì ta phải xác định được danh
từ chính của câu cần đặt, chẳng hạn danh từ chính của câu là học sinh trong câu
"Học sinh được khen" ta có thể thêm thành phần định ngữ "của đội tuyển văn" bổ
sung ý nghĩa cho danh từ "học sinh" và câu văn sẽ hay hơn.
"Học sinh của đội tuyển văn được khen".
Tóm lại: Là người giáo viên Tiểu học ta cần thực sự chú ý vận dụng nghiên
cứu những kiến thức ngữ pháp được phân bố trong chương trình Tiếng việt 4 để
hướng dẫn các em viết câu đúng, chính xác. Biết tự nhận ra những câu sai của
mình để sửa chữa thành câu cảm về mặt ngữ pháp, hay và gợi cảm về mặt nội
dung.
9
2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng dạy và học Luyện từ và câu ở trường Tiểu học thị trấn
Tiên Yên.
1. Về phía giáo viên.
1.1. Ưu điểm:
- Giáo viên đi đúng phương pháp dạy học của bộ môn và các dạng bài cụ
thể.
- Giáo viên có ý thức trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chấm
chữa bài nghiêm túc, khách quan.
- Giáo viên luôn có ý thức vận dụng đổi mới phương pháp dạy học và dạy
học theo hướng tích hợp.
1.2. Tồn tại:
- Một số đồng chí giáo viên dạy học còn theo khuôn mẫu, diễn đạt còn
lúng túng chưa sáng tạo. Giờ học buồn tẻ chưa gây được hứng thú trong tiết dạy
cho học sinh. Vốn từ ngữ của giáo viên còn nghèo nàn, học sinh chưa thực sự chủ
VD2: Lâu đài cổ kính
Tỷ lệ học sinh viết câu thiếu vị ngữ nhiều hơn những câu thiếu chủ ngữ.
- Nguyên nhân chủ yếu là do học sinh nhầm tưởng những danh từ được
phát triển dài là một câu, tưởng đã có nội dung thông báo trọn vẹn mặc dù ở đó
mới chỉ nêu đối tượng thông báo.
- Câu thiếu cả thành phần chủ ngữ và vị ngữ
Những câu mắc lỗi sai, thiếu thành phần chủ ngữ và vị ngữ là những câu
chỉ có thành phần trạng ngữ và cũng không nói được với những câu tiếp sau để
tạo thành một câu mới có trạng ngữ. Nguyên nhân của loại lỗi này là học sinh
không hiểu rằng chủ ngữ không thể đứng sau quan hệ từ các danh từ chỉ thời gian
như khi, lúc… cần phải có bộ phận bổ sung nghĩa. Mặt khác thường là bộ phận
đứng sau quan hệ từ được phát triển dài khiến học sinh tưởng là nó có nội dung
thông báo.
VD1: Trên nền sạch bong như vừa gội rửa.
VD2: Đến ngày đợt quả đầu tiên của cây bắt đầu chín.
Trong ba loại câu thiếu thành phần thì tỉ lệ học sinh mắc lỗi sai câu thiếu
thành phần chủ ngữ, vị ngữ nhiều hơn câu mắc lỗi thiếu cả chủ ngữ, vị ngữ.
11
- Câu thừa thành phần: Là những câu có thành phần câu lặp lại một
cách không cần thiết.
VD1: Bạn Lan đó là bạn rất chăm học
VD2: Mặt trời tròn vành vạch như cái đĩa tròn
Đây là loại lỗi gặp phổ biến trong thực tế viết câu của học sinh hiện nay.
Loại lỗi này học sinh khi kiểm tra lại rất khó nhận biết, nó làm cho các đoạn văn
các em viết rất lủng củng.
VD: “Ở lớp em bạn Nam là người học giỏi nhất lớp”. Nguyên nhân học
sinh mắc lỗi thừa thành phần câu do kỹ năng viết câu vào tình trạng kể lan man.
Để khắc phục lỗi này thì trong dạy học cần tích cực cho học sinh làm các bài tập
làm văn nói, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và tự trình bày những ý kiến
trước lớp, tạo điều kiện cho học sinh tham gia giao tiếp trong các tình huống khác
- Câu sai nghĩa là những câu chứa đựng nội dung không phù hợp với hiện
thực khách quan, phản ánh sai hiện thực khách quan.
VD: Thân cây sần sùi như da ếch.
- Câu không rõ nghĩa: Là câu thiếu thông tin. Đó là những câu đúng về mặt
cấu tạo ngữ pháp, nghĩa là có đầy đủ thành phần chính, đúng về quan niệm ngữ
nghĩa chung. Nhưng thật sự câu kiểu này còn thiếu thành phần phụ bổ nghĩa cho
các từ trong câu, nên nghĩa câu không đầy đủ gây hụt hẫng cho người đọc.
VD1: Hàng năm em về quê.
VD2: Mùa ổi xanh lá, em trèo cây.
- Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế
câu. Loại lỗi này chiếm số lượng rất lớn và đa dạng. Có thể xem loại lỗi này là
loại lỗi từ vựng - ngữ pháp, vì lỗi câu ở đây có nguyên nhân từ việc không hiểu
nghĩa từ và khả năng kết hợp các từ, nhưng do mỗi từ ở trong câu đều có chức
năng riêng làm một thành phần câu nhất định nên chúng ta có thể xem xét từ góc
độ ngữ pháp. Sự không tương hợp giữa các thành phần câu. Nhưng việc chữa các
câu này phải bắt đầu từ việc hướng dẫn học sinh nắm nghĩa từ và khả năng kết
hợp của chúng.
VD1: Cây cối xanh mơn mởn xào xạc trước gió
VD2: Thân cây quýt sần sùi rách nát
- Câu có các vế câu không tương hợp
VD1: Trồng ổi sẽ thu được rất nhiều lợi, những đường gân nổi rõ như con
rắn vậy
VD2: Tuy quả nhỏ chỉ bằng các quả cam nhưng ruột quả không ngon. Các
câu trên sai vì không có sự tương hợp giữa các vế câu sau và các cặp quan hệ từ.
- Câu có tác dụng quan hệ giữa các thành phần không lô gíc không tương
hợp là câu có các thành phần đồng chức không đồng loại.
VD1: Cây ra hoa rồi đậu quả, lá có đường gân ở chính giữa
VD2: Hàng ngày em chăm sóc cây và đi rửa ấm chén.
3.3. Lỗi về hình thức, lỗi về dấu câu.
- Lỗi về dấu câu có thể chia làm 2 loại: Lỗi không dùng dấu câu và lỗi dùng
dụng dấu câu trong việc diễn đạt nội dung và chưa nắm được cách sử dụng chúng.
Nói chung nhiều học sinh tiểu học còn ngại sử dụng dấu câu và chưa biết cách sử
dụng chúng.
+ Lỗi ngoài câu: Nghiên cứu bài kiểm tra các môn tập làm văn, đạo đức…
tôi nhận thấy học sinh ngoài mắc lỗi trong câu thì các em còn mắc lỗi ở ngoài câu.
Những câu mắc lỗi trong câu thì các em còn mắc lỗi ở ngoài câu. Những
câu mắc lỗi này xét về mặt cấu tạo không sai nhưng đặt vào trong văn bản thì mới
thấy nó không hợp lý. Do chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học chưa chú trọng đến
việc đặt câu trong văn bản để xem xét nên các lỗi ngoài câu xuất hiện nhiều trong
bài Tập làm văn của học sinh.
+ Lỗi ngoài câu được chia làm 3 nhóm
- Lỗi do câu không phù hợp với các câu khác trong văn bản. Đây là những
lỗi do học sinh tư duy không rõ ràng, mạch lạc nên đã viết ra những câu lạc chủ
đề, những câu lặp lại với những câu khác. Những câu này lạc vào trong văn bản
làm cho đoạn văn như “râu ông lọ cắm cằm bà kia” hoặc nhiều câu luẩn quẩn,
trùng lặp nhàm chán, chủ đề không phát triển được.
14
- Lỗi câu lạc chủ đề là lỗi do trong văn bản có những câu phá vỡ tính liên
kết chủ đề của đoạn văn.
VD1: Gần nhà em có một cây hoa sữa, thân cây sần sùi, gốc cây phình ra
rất to, cành cây dài và rất mập mạp, lá cây xanh mơn mởn um tùm, em thích cây
hoa sữa vì em thích uống sữa. Vào mùa hoa sữa nở, những bông hoa sữa nhỏ màu
trắng li ti đậu thành chùm, hương hoa toả ngào ngạt.
VD2: Bố em mới mua về một cây quýt rất to, thân nó sần sùi như da cóc,
tán lá của cây được tỉa gọn ghẽ, vút lên như một cây thông nhỏ, vỏ của quả quýt
có thể chế tạo ra thuốc, những chiếc rễ cây nổi lên mặt đất nhìn như những con
rắn.
+ Lỗi do các câu trong văn bản mâu thuẫn với nhau về nghĩa, phá vỡ tính
liên kết về nghĩa của văn bản tạo ra những câu liên kết không lô gíc. Loại lỗi này
học sinh ít mắc phải.
bài tập Tiếng việt?" và các em sẽ được câu trả lời: "Sáng nay, cô giáo chữa bài tập
Tiếng Việt ." Ngược lại, để tìm bộ phận vị ngữ các em đặt câu hỏi "Sáng nay cô
giáo làm gì?" được câu trả lời là "chữa bài tập Tiếng Việt", vậy "chữa bài tập
Tiếng việt" là vị ngữ. Nên câu trên phải viết là: Sáng nay, cô giáo chữa bài tập
Tiếng việt.
Câu các em viết ra như trường hợp trên là sai, hay nói cách khác là chưa đủ
câu vì còn thiếu bộ phận chủ ngữ. Nguyên nhân dẫn đến việc sai sót này là do học
sinh chưa nắm chắc được kiến thức về câu. Do vậy khi đọc bài văn của các em có
những câu thiếu bộ phận chủ ngữ, có câu thiếu bộ phận vị ngữ khiến người đọc rất
khó hiểu em đang muốn diễn đạt điều gì. Hơn nữa, các em sử dụng những câu
thiếu chủ ngữ trong giao tiếp với người lớn tuổi sẽ trở thành thiếu lễ độ.
Hai là: Đối với các thành phần phụ trong câu các em còn mơ hồ về cách
cấu tạo, vị trí và nhiệm vụ của các thành phần phụ trong câu. Do vậy khi vận dụng
kiến thức về phần này, để đặt câu hỏi có những thành phần phụ các em thường
nhầm lẫn hoặc chưa biết cách đặt câu có các thành phần phụ.
Ví dụ: Các em viết "Cô giáo chữa bài".
Câu trên đã là một câu vì nó có đủ cả hai bộ phận chính, chủ ngữ là "Cô
giáo" và vị ngữ là "chữa bài". Nhưng nếu như ta thêm thành phần phụ vào câu và
được viết là: "Sáng nay, cô giáo chữa bài tập Tiếng việt" thì câu văn sẽ trở nên
hay hơn và ý nghĩa cho cả khối chủ - vị, nó thông báo cho ta biết cô giáo (chữa
bài tập và buổi sáng nay chứ không phải là chiều nay hay ngày mai).
"Bài tập" bổ sung ý nghĩa cho động từ "chữa", nó cho biết đối tượng của
hoạt động là gì? (chữa bài tập chứ không phải là chữa bàn ghế…).
"Tiếng việt" bổ sung ý nghĩa cho bài tập, nó cho biết đây là bài tập gì (bài
tập Tiếng việt chứ không phải bài tập Toán).
Ba là: Khi viết bài, các em chưa biết sắp xếp ý cho phù hợp dẫn đến bài
văn diễn đạt lủng củng, cách lập luận còn yếu, lúng túng, chưa thoát ý và dẫn đến
câu sai. Đây có lẽ là nguyên nhân chính gây ra lỗi câu sai rất nhiều ở các em.
Trong giờ tập làm văn hoặc luyện từ và câu, giáo viên mới chú trọng đến
việc chấm lỗi về câu, nhưng trong các môn học khác việc kiểm tra bài giáo viên
việc chấm bài nhất là bài tập làm văn cho học sinh. Giáo viên phải ghi thật cụ thể
những lỗi câu của học sinh vào sổ tay, tìm hiểu xem câu đó thiếu hoặc sai gì, cần
sửa ra sao? Tổng hợp xem lỗi viết câu sai của học sinh chủ yếu là lỗi gì sau đó
giáo viên chữa, tìm ra những lỗi sai chung, nêu những lỗi câu này lên trước lớp để
các em tự tiếp nhận, so sánh vào bài của mình để tìm cách sửa chữa.
Ngoài những lỗi câu chung, giáo viên từng bước giúp học sinh sửa chữa
những lỗi câu sai mà cá nhân học sinh mắc phải. Giúp các em phân tích xem câu
của mình sai ở đâu, thiếu thành phần gì và phải sửa lại như thế nào. Đối với câu
có thành phần phụ đã đúng và hợp lý chưa, hướng giải quyết ra sao.
Đặc biệt cần xem xét việc sắp xếp các ý của các em xem đã hợp lý, lô gíc
chưa để tìm ra nguyên nhân vì sao chưa hợp lý và biện pháp sửa chữa như thế
nào. Phải làm sao biến các hoạt động trên trở thành nhu cầu, hứng thú đối với
từng học sinh, chỉ có điều đó mới giúp việc sửa chữa lỗi câu đạt hiệu quả cao.
3. Giúp học sinh chữa lỗi câu sai:
* Sửa lỗi viết câu trên cơ sở chữa những câu chung.
Để giúp các em nhận ra những lỗi sai của mình và nhanh chóng tiếp thu
được cái đúng, lựa chọn những cái tốt đẹp để áp dụng để sửa chữa những lỗi
muôn thuở của mình. Giáo viên phải có sự theo sát giúp đỡ đến từng cá nhân yếu
kém, bởi lẽ đây là những học sinh có khả năng nhận thức yếu và chậm tiến. Việc
17
tiếp thu bài của những em này ở trên lớp gặp khó khăn, những kiến thức đối với
các em còn mơ hồ, đọng lại trong đầu không được nhiều. Mà thời gian đối với
mỗi giáo viên có hạn, với thời gian trên lớp và thời gian ở nhà giáo viên phải phân
bố sao cho đều tất cả các môn học.
Vậy vấn đề đặt ra là làm sao để thực sự làm tốt biện pháp này, theo tôi
chúng ta có thể sửa chữa lỗi câu của học sinh trên toàn lớp. Giáo viên cần lấy các
ví dụ lỗi câu sai chung mà các em thường hay mắc, sau đó cho học sinh phân tích
từng câu đó xem sai ở đâu, thiếu thành phần gì, có bị đảo lộn từ không… Biện
pháp sửa chữa những lỗi câu đó như thế nào, giáo viên cho học sinh sửa lại những
câu đó sao cho đúng và hay. Do vậy sẽ hạn chế được những lỗi sai về câu đó
- Em đọc thấy chỗ nào chưa hay? Có sai không?
( Từ " sống" chưa hay - chưa chính xác
* Chữa lỗi về câu về đoạn văn về diễn đạt
Các lỗi về câu thường gặp ở tiểu học là câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ, câu
què, câu chỉ có thành phần phụ chỉ địa điểm hoặc thời gian, nguyên nhân, kết
quả Thiếu thành phần chính ( tức là cả cụm chủ vị ), nêu ý chưa chọn vẹn (câu
cụt), câu có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng củng. Cách chữa: giáo viên kẻ bảng
thành ba cột.
CÂU SAI LỖI NGỮ PHÁP CÂU ĐÃ ĐƯỢC SỬA THÀNH CÂU ĐÚNG
Ví dụ 1: Học sinh đọc câu lủng củng của mình lên: Trong nhà em có một người
mà em rất yêu mến, đó là bà em rất kính yêu.
Em có nhận xét gì về cách diễn đạt nội dung? (diễn đạt nội dung rườm rà).
Em có thể sửa như thế nào? Trong nhà em, bà là người thật đáng kính.
Ví dụ 2:
Đứng trước cảnh đẹp hùng vĩ của dãy núi. Em cảm thấy trong lòng đang
cố gắng đưa quê hương Tiên Yên giàu đẹp hơn.
- Đoạn văn của em đã được chưa? Sai ở đâu?
(Chấm câu sai, thay bằng dấu phẩy).
- Còn sai ở đâu nữa? (dùng từ chưa sát nghĩa " em cảm thấy ").
Cụm từ " em cảm thấy " Cần phải thay bằng cụm từ nào cho sát nghĩa
hơn?
( Cần phải thay bằng cụm từ: " em càng thêm yêu quê hương đất nước và
quyết tâm học tốt để đưa quê hương Tiên Yên ngày một giàu đẹp hơn")
Em hãy nhận xét câu đã được sửa và câu chưa sửa?
* Chữa lỗi câu thông qua thảo luận trong nhóm.
- Với cách làm này tôi thường chia nhóm theo năng lực, sở trường của học sinh
rồi giao việc:
+ Nhóm học sinh trung bình: Tìm lỗi chính tả của các bạn trong nhóm rồi thảo
luận, tìm cách sửa.
+ Nhóm học sinh khá: Tìm từ dùng sai, câu lủng củng rồi tìm cách sửa.
- Giáo viên đọc mẫu một đoạn văn hay, một bài văn tốt về nội dung và bố
cục, có sự sáng tạo; dùng từ và sắp xếp ý có sự liên kết. Giáo viên hỏi để tìm ra
cách dùng từ, diễn đạt ý hay để học sinh học tập.
- Hướng dẫn viết lại văn: Yêu cầu học sinh tự chọn lại một đoạn văn chưa
đạt trong bài làm của mình để viết lại cho hay. Lưu ý câu trong đoạn văn phải
diễn đạt 1 ý trọn vẹn, dùng từ phải phù hợp chính xác, hay và nên chọn một đoạn
văn trong phần thân bài. Gọi học sinh đọc lại đoạn văn vừa viết lại và sửa (nếu
cần).
Tiết 2: Luyện từ và câu
Bài: Câu kể
Khi thực hiện các bước lên lớp, tôi đặc biệt quan tâm đến việc phân tích
các câu văn trong phần nhận xét và sửa các câu văn trong phần luyện tập của học
sinh.
Cho học sinh đọc kĩ các yêu cầu của bài, đặc biệt những bài phân tích cấu tạo ngữ
pháp của câu. Sau đó, cho học sinh trả lời miệng, thảo luận theo cặp hoặc nhóm
20
để tìm lỗi câu, tự sửa lỗi và viết lại cho hoàn chỉnh câu văn. Trên cơ sở đó có sự
ghép nối, liên kết để tạo đoạn văn, bài văn.
Bằng cách sửa lỗi như trên, trong giờ học bài "Câu kể" học sinh trong lớp đã viết
được các câu văn như:
+ Sau mỗi buổi học, em thường giúp mẹ nấu cơm. Em cùng mẹ nhặt rau, gấp
quần áo. Em tự làm vệ sinh cá nhân, có khi em còn đi đổ rác đấy
+ Em có chiếc bút máy màu xanh rất đẹp. Nó là món quà mà cô giáo tặng cho
em. Thân bút tròn xinh, ngòi bút rất trơn
+ Tình bạn thật thiêng liêng và cao quý. Nhờ có bạn bè mà cuộc sống của chúng
ta vui hơn. Bạn bè có thể giúp đỡ nhau trong học tập, trong vui chơi
+ Em rất vui vì hôm nay mình được điểm 10 môn Toán. Về nhà em sẽ khoe ngay
với mẹ. Mẹ em chắc sẽ rất hài lòng
Qua việc sửa lỗi trực tiếp trong tiết học như trên, tôi tự nhận thấy mình đã
có sự linh hoạt cho phù hợp với đối tượng lớp mình dạy như dùng hệ thống câu
thông báo.
+ Xác định những từ đảm nhiệm vai trò chủ thể thông báo và nội dung
thông báo có liên quan đến chủ thể thông báo. Đối chiếu những từ ấy xem chúng
giữ chức năng gì?
VD: Dạy đặt câu:
+Xác định nội dung chính của câu sẽ đặt.
+ Xác định cấu trúc ngữ pháp của câu
+ Tìm từ để diễn đạt nội dung của câu và tuân theo cấu trúc ngữ pháp
nhất định.
+ Diễn đạt thành câu hoàn thiện.
+ Kiểm tra và sửa chữa câu vừa đặt.
- Để cho HS ham thích rèn luyện viết câu và viết câu có hiệu quả thì cần cho
HS thực hành viết câu với:
+ Các dạng bài khác nhau: đặt câu, điền từ, viết đoạn…
+ Các hình thức làm bài khác nhau: theo lớp, theo nhóm, theo cá nhân.
+ Các phương pháp khác nhau, cách thức thực hiện khác nhau: viết câu trong
viết kịch bản để đóng kịch, thi viết câu nhanh, trò chơi tìm từ nhanh, thi ứng đáp
câu đúng…
+ Đưa ra các tính huống giao tiếp đa dạng trong thực tiễn đời sống.
- Việc sữa lỗi câu cần được tổ chức một cách tỉ mỉ, cẩn thận. Khi hướng dẫn
học sinh sửa lỗi câu cần:
+ Đưa ra các câu có lỗi sai điển hình.
+ Chỉ ra lỗi sai
+ Xác định nguyên nhân dẫn đến lỗi sai
+ Đối chiếu câu đã sửa với câu sai, rút ra các lưu ý khi viết câu.
- Dạy viết câu không chỉ gói gọn trong phạm vi môn luyện từ và câu, các phân
môn khác của môn Tiếng Việt mà ở tất cả các môn học. Đồng thời phối hợp rèn kĩ
năng viết câu với các kĩ năng sử dụng từ.
- Thường xuyên đánh giá chất lượng viết câu của học sinh và khảo sát định kì
vở viết các môn của học sinh để xác định HS đang yếu về phần nào. Từ đó xác
+ Không làm bài hoặc viết một vài câu vô nghĩa.
Sau khi chấm bài có kết quả như sau:
100% các em đã viết được những câu đơn giản có chủ ngữ và vị ngữ.
Những câu có cả thành phần phụ, các em đã có sự nhận xét đánh giá và phân biệt
giữa thành phần chính và thành phần phụ nên số lượng mắc lỗi của các em đã
giảm.
Cụ thể là:
- Câu viết thiếu chủ ngữ: 3 em mắc phải.( ở một số câu không phải toàn
bài)
23
- Về mặt diễn đạt chưa thoát ý, chưa lưu loát chỉ còn 3 em.(ở một số câu
không phải toàn bài)
Căn cứ vào bài chấm tôi thống kê điểm bài viết của học sinh như sau:
Tổng số học sinh: 27 em
- Số học sinh có kỹ năng viết câu đúng ở mức:
+ Khá: 15 em = 55,6%
+ TB: 06 em = 22,2%
+ Yếu: 06 em = 22,2%
Nhận xét
Bằng sự nhiệt tình trong công tác nghiên cứu giảng dạy, tôi đã vận dụng
sáng tạo những phương pháp đã học để hướng dẫn kèm cặp đối tượng học sinh
lớp 4 để giúp các em không chỉ viết được những câu văn đúng trong giờ tập làm
văn mà còn sáng tạo ra cho các em thói quen sử dụng những câu văn hoàn chỉnh
trong giao tiếp hàng ngày.
Tuy rằng số lượng các em viết đúng và hay về câu văn vẫn còn hạn chế
nhưng những biện pháp sửa lỗi của các em phần nào đã giúp các em học sinh lớp
4A nhìn nhận ra lỗi câu của mình để có biện pháp sửa chữa hợp lý.
2.4. Một số bài học kinh nghiệm:
Trong thời đại ngày nay, khi xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con người
khả năng giao tiếp tốt hơn trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường. Trong hoạt động
gây hứng thú học tập cho học sinh và đạt kết quả học tập cao.
4. Giáo viên phải thực sự linh hoạt, sáng tạo, tránh gò ép, khuôn mẫu, áp
đặt, cân phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh. Khuyến khích động
viên học sinh kịp thời, tổ chức các hoạt động ngoại khoá để học sinh bộc lộ mình.
Sử dụng triệt để các thiết bị dạy học phục vụ tốt cho việc giảng dạy của giáo viên
và học tập của học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua quá trình nghiên và tìm hiểu thực tế tôi thấy người giáo viên muốn
thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì phải miệt mài nghiên cứu tài liệu và điều
quan trọng là phải đi sâu vào thâm nhập đối tượng học sinh để có thể tìm ra
phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp cho học sinh hiểu và nắm được nội dung của
vấn đề.
Qua thực tế giảng dạy, qua nghiên cứu chương trình ngữ pháp trong sách
Tiếng việt 4 có liên quan đến câu, tìm hiểu việc viết câu của học sinh qua một số
bài tập làm văn, trao đổi với giáo viên giảng dạy, dự giờ, dạy thể nghiệm, tiến
hành tìm hiểu nguyên nhân việc viết câu sai của học sinh và đề ra một số biện
pháp sửa chữa, xem xét kết quả thu được… Tôi đã tự rút ra bài học cho bản thân
về phương pháp, trình độ, năng lực truyền đạt kiến thức cho học sinh, nhất là việc
sửa lỗi câu cho học sinh Tiểu học, cụ thể là học sinh lớp 4 là vô cùng cần thiết và
cấp bách. Tuy các em học sinh có rất nhiều tiến bộ song tôi không phải đã thật sự
yên tâm, bởi vì liệu các em có sửa chữa khắc phục thường xuyên hay không?
Nhưng tôi tin rằng phong trào đó sẽ giữ được khi mà người giáo viên nhận thức
được cốt lõi vấn đề và tiếp tục sửa chữa cho các em trong quá trình học tập
thường xuyên ở tất cả các môn học.
Từ thực tế giảng dạy cùng với việc nghiên cứu đề tài này, tôi thấy mình vẫn
còn một số hạn chế, đó là chưa phát huy được tuyệt đối biện pháp của mình đưa ra
cho nên kết quả của việc sửa chữa lỗi câu của học sinh chưa đạt 100%.
25