PHÒNG GD – ĐT TP THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỐNG NHẤT
§Ò tµi:
D¹y tõ phøc cho häc sinh líp 4
qua ph©n m«n luyÖn tõ vµ c©u
Người thực hiện:
Phạm Thị Linh
Trường tiểu học Thống Nhất
Th¸i Nguyªn, th¸ng 12 n¨m 2009
MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài:
1. Hiện nay để hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, đòi
hỏi Bộ Giáo dục - Đào tạo triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ về Giáo dục -
Đào tạo. Xu hướng phát triển chương trình đổi mới về sách giáo khoa Tiểu học
theo 4 trụ cột giáo dục của thể kỷ XXI do UNESCO đề xướng: Học để biết, học
để chung sống và học để tự khẳng định mình.
Chương Trình tiểu học mới nhằm thừa kế và phát triển những thành tựu,
khắc phục những tồn tại của chương trình cũ. Đây là chương trình được áp dụng
trong cả nước để góp phần thực hiện bình đẳng trong giáo dục. Cùng với sự đổi
mới về nội dung dạ học là sự đổi mới về phương pháp dạy học.
Khái niệm ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao, khó hiểu với
học sinh. Việc tìm hiểu và mở rộng vốn từ của học sinh Tiểu học là rất cần thiết.
Trong chương trình Ttiểu học mới, tên một phân môn mới được hình thành, thay
thế cho phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp trước kia là phần môn Luyện từ và câu.
Đây là một phân môn khó, ít lôi cuốn học sinh, vì thế việc hình thành ngữ pháp
cho học sinh sẽ gặp khó khăn. Trong quá trình hình thành các khái niệm ngữ
pháp đồng thời là quá trình học sinh nắm các thao tác tư duy. Học sinh gặp khó
khăn trong việc tách ý nghĩa ngữ pháp của từ ta khỏi ý nghĩa từ vựng của nó.
Không đối chiếu được từ và tập hợp được chúng một nhóm theo những dấu hiệu
nội dung bản chất sẽ gặp khó khăn trong việc hình thành khái niệm và sẽ mắc
Việc cung cấp các tri thức lý thuyết cấu tạo từ có ý nghĩa hết sức quan
trọng, bởi vì có nắm đợc đơn vị cấu tạo từ cũng nh kiểu từ xét về mặt cấu tạo cho
học sinh mới có kỹ năng nhận diện, phân loại, sử dụng từ một cách có hiệu quả.
Chính vì thế việc dạy học sinh nắm đợc các khái niệm về từ đơn từ phức là một
nhiệm vụ tuy đơn gin song rất phức tạp.
Trong thực tế, việc dạy nội dung cấu tạo từ ở Tiểu học để hình thành khái
niệm từ ơn - từ phức, đa số các giáo viên thờng hay lúng túng trong việc lĩnh
hội những tri thức này thông qua một số nội dung, đặc biệt là khái niệm từ phức.
+ Phân biệt từ đơn đa âm và từ phức
+ Phân bit từ ghép với từ láy.
Qua thực trạng dạy học và sự thay đổi của chơng trình sách giáo khoa tiểu
học chơng trình 2000, trong đề tài này chỳng em xin đợc trình bày những ý kiến
của mình trên cơ sở học hỏi, tham khảo tài liệu giáo trình, sách giáo khoa và
thực tế dạy học nhằm nâng cao chất lợng các bài dạy cấu tạo t nói riêng và dạy
Tiếng Việt nói chung.
Với lý do cơ bản trên, tụi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Dạy từ phức cho học
sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu".
3. Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm hiểu kỹ về nội dung từ phức ở
lớp 4 nhằm nâng cao chất lợng dạy cấu tạo từ. Trên cơ sở đó sẽ nâng cao đợc kỹ
năng: Đọc, nghe, nói, viết cho học sinh.
II. Mục đích và nội dung nghiên cứu.
1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu việc học tập phân môn: Luyện từ và câu, cụ thể thông qua việc
tìm hiểu cấu tạo từ để rèn kỹ năng nhận diện, phân loại và sử dụng từ phức cho
học sinh lớp 4.
2.Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu về khả năng phân biệt, nhận dạng và sử dụng từ của học sinh
lớp 4 trờng Tiểu học
III. Phơng pháp nghiên cứu:
1. Phân tích các tài liệu dạy học liên quan đến cấu tạo từ nh sau: Sách giáo
- Củng cố kiến thức lý thuyết, cấu tạo tiếng, từ, từ loại, câu.
- Luyện tập thực hành
1.2. Phơng pháp dạy học
Hiện nay, tích cực hóa hoạt động của ngời học đợc hiểu là phơng pháp dạy
học lấy ngời học làm trung tâm trong đó thầy (cô) đóng vai trò ngời tổ chức hoạt
động của học sinh; mỗi học sinh đều đợc hoạt động, đợc bộc lộ mình và đợc phát
triển.
Do nội dung sách giáo khoa đổi mới kéo theo sự đổi mới về phơng pháp dạy
học. Phân môn luyện từ và câu chủ yếu sử dụng một số biện pháp dạy học sau:
1.2.1. Hớng dẫn phân tích ngữ liệu
Khi phân tích ngữ liệu cần chú ý:
+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập
1.2.2. Hớng dẫn luyện tập thực hành
Khi hớng dẫn học sinh luyện tập thực hành cần thực hiện:
+ Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
+ Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập
Trong phơng pháp dạy học mới, hoạt động của trò dới sự chỉ đạo của thầy
(cô) đợc tổ chức dới nhiều hình thức khác nhau nh:
- Trắc nghiệm
- Làm việc độc lập
- Làm việc theo nhóm
- Làm việc theo lớp
- Thi đua giữa các tổ
- Trò chơi
1.3. Tìm hiểu về nội dung và phơng pháp dạy từ phức cho học sinh lớp 4
qua phân môn Luyện từ và câu
1.3.1. Đơn vị cấu tạo từ
Sách giáo khoa cho rằng đơn vị cấu tạo từ là tiếng. Còn giáo trình từ vựng
Tiếng Việt lại cho rằng đơn vị cấu tạo từ là hình vị. Thuật ngữ "hình vị" có nghĩa
Ví dụ: non + sông non sông
áo + đỏ áo đỏ
* Phân loại:
Căn cứ vào tính chất của hành vị đặc trng về nghĩa của các hành vị, ngời ta
chia từ ghép thành hai loại lớn: Từ ghép thực và từ ghép h.
+ Từ ghép thực là từ ghép do hai hoặc hơn hai hình vị thực kết hợp với nhau
theo phơng thức ghép.
Ví dụ: ất nớc, làng quê, quần áo, nhà cửa
Từ ghép thực cũng có thể do một hình vị có ý nghĩa từ vựng và một hành vị
có ý nghĩa kết cấu tạo thành.
Ví dụ: cũ rích, đói mèm, mới toanh
+ Từ ghép ho do hai hình vị h ghép lại với nhau, số lợng này rất ít có trong
tiếng Việt.
Ví dụ: bởi vì, cho nên, mặc dù, tuy nhiên
Trong mảng đề tài này ta chỉ xét các từ ghép thực. Từ ghép thực có thể chia
thành hai loại là ghép phân nghĩa và ghép hợp nghĩa.
1.3.2.2b1. Từ ghép phân nghĩa (ghép chính phụ, ghép chính nghĩa, ghép phân
loại )
- Đó là những từ ghép trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt
động, tính chất ) đứng trớc và là hình vị chính. Còn hình vị phụ đứng sau có tác
dụng phân hóa nghĩa cho hình vị đứng trớc.
Ví dụ: máy ảnh, máy bay, áo dài, xe máy
- Những từ ghép đợc cấu tạo từ những hình vị gốc Hán nh (viên, trởng, hóa,
bán, chân, chính )
Ví dụ: oàn viên, nhân viên, chiêu đãi viên, bán đảo
Hoặc các từ ghép đợc cấu tạo từ các hình vị tạo từ thuần Việt nh: (nhà, con,
sự, cuộc, nỗi )
Ví dụ: nhà văn hóa, nhà báo, con sông, cuộc đời
- Từ ghép phân nghĩa có thể chia thành 3 loại:
* Từ ghép phân nghĩa chỉ sự vật: Đó là những từ ghép có một yếu tố chính
+ Từ ghép hợp nghĩa chỉ hoạt động biểu thị những khái niệm về hoạt động,
hành động, trạng thái của sự vật, các thành tố của từ đợc sắp xếp song song hoặc
đối nhau. Chúng có ý nghĩa gần nhau hoặc khác nhau.
Ngữ nghĩa của từ đợc khái quát hóa, trừu tợng hóa dựa trên cơ sở ý nghĩa
của một thành tố hay dựa vào nghĩa bóng của các thành tố. Nói chung, nghĩa của
từ ghép có tính chất khái quát hóa, trừu tợng hóa hơn so với ý nghĩa của một
thành tố tạo ra từ.
Ví dụ: n uống, tìm kiếm, thử thách, chìm nổi, chán ghét
+ Từ ghép hợp nghĩa có tính chất biểu thị các khái niệm về tính chất, trạng
thái, đặc tính của sự vật. Các thành tố của từ đợc sắp xếp song song nhau. Ngữ
nghĩa của từ ghép hợp nghĩa chỉ tính chất khái quát hóa, trừu tợng hóa từ ngữ của
từ thành tố hoặc nghĩa bóng của các thành tố tạo nên, có khi nghĩa của nó tách
khỏi ý nghĩa của các thành tố cấu tạo từ.
Ví dụ: xinh đẹp, mực thớc, ngọt bùi, may rủi, mồm mép, nông sâu
Tóm lại: Từ tiếng Việt có kết cấu không đợc chặt chẽ, có thể thay đổi đợc
trật tự trong từ mà nghĩa không thay đổi nh:
nhà cửa cửa nhà; áo quần quần áo
tốt tơi tơi tốt;
Song cũng có những từ khi thay đổi trật từ tự ghép trở thành một tổ hợp từ
nh sau:
xe đạp đạp xe
Từ ghép 2 từ đơn
Vì vậy khi dạy về từ ghép, giáo viên cần chú ý đến cấu tạo của từ ghép.
1.3.2.2c. Từ láy
* Khái niệm: Từ láy là sản phẩm của phơng thức láy, là phơng thức láy toàn
bộ hay bộ phận hình thức ngữ âm của hình vị gốc. Các thành tố của từ láy có mối
quan hệ tơng quan với nhau về thanh điệu hoặc về bộ phận ngữ âm tạo nên một
nội dung biểu cảm, gợi cảm nhất định.
Ví dụ: nhỏ nhắn, xanh xanh, tỉ mỉ, chằm chằm
Trong một từ láy, một thành tố có thể có nghĩa từ vựng và một thành tố
trên mối quan hệ với từ láy đôi tơng ứng, đó là hình vị thứ nhất và hình vị thứ ba
đối lập nhau về bằng trắc, cao thấp. Vì vậy đa số các từ láy ba khi bỏ đi hình vị
thứ hai ta đợc láy đôi tơng ứng.
Ví dụ: xốp xồm xộp, sát sàn sạt
1.3.2.2c4. Từ láy t
- Là hình thức lặp lại của láy đôi cơ sở nhng láy lại hai lần
Ví dụ: vất va vất vởng, trùng trùng điệp điệp
1.3.2.2c5. Nghĩa của từ láy
Đặc trng chung về nghĩa của từ láy là đợc hình thành từ nghĩa của từ hình vị
gốc theo hớng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cờng hoặc giảm bớt nghĩa là thêm cho
ý của hình vị gốc một sắc thái nào đó.
Ví dụ: + xanh - xanh xao
+ dễ - dễ dãi
Tóm lại: Nghĩa của từ láy khá phong phú, đa dạng, có giá trị diễn cảm, diễn
tả cao. Với đặc trng này, từ láy là từ đặc sắc, là phơng tiện miêu tả có hiệu quả
trong công văn học, thơ ca.
Ta có thể mô tả dới hình thức mô hình hóa cấu tạo từ tiếng Việt nh sau:
Từ
Từ ghép
Từ đơn Từ phức
Từ láy
Phân nghĩa Hợp nghĩa Toàn bộ Bộ phận
Láy vần Láy âm
Chơng II
Thực tế dạy học từ phức ở trờng tiểu học
Qua nghiên cứu tri thức lý thuyết làm cơ sở để định hớng cho vấn đề dạy lý
thuyết cấu tạo từ tiếng Việt, qua thực tế dạy học lớp 4, đặc biệt chơng trình sách
giáo khoa mới, tụi thấy việc dạy cấu tạo từ, cụ thể là từ phức cho học sinh lớp 4
có một số u điểm và tồn tại sau:
2.1. Một số u điểm
âm đầu mà xếp vào nhóm từ ghép.
Ví dụ: óng ả, ầm ĩ,
(Chỉ có 10/60 em xếp đúng nhóm).
* Tóm lại: Thực tế dạy học phân môn luyện từ và câu còn nhiều hạn chế.
Đặc biệt là việc phân biệt, xếp loại từ láy, từ ghép của các em.
2.2. Một số vấn đề tồn tại trong dạy học phân môn luyện từ và câu ở lớp 4.
* Về phía giáo viên:
Theo ý kiến chủ quan của tụi và ý kiến của đồng nghiệp đều cho rằng đây là
mạnh kiến thức khó, bởi vì:
+ Các khái niệm trong sách giáo khoa và khái niệm trong giáo trình đào tạo
giáo viên khác nhau, chỉ căn cứ vào khái niệm trong sách giáo khoa thì không
thể giải thích và xếp loại đợc những từ đơn đa âm và những từ láy vắng khuyết
âm đầu mà trong đề thi học sinh giỏi lại hay đề cập đến.
+ Thời lợng dành cho việc dạy từ ghép -từ láy ở Tiểu học quá ít mà yêu cầu
lại quá cao nh việc nhận diện đợc từ ghép, từ láy trong một văn bản, phân loại đ-
ợc các kiểu láy, kiểu ghép. Đây là khó khăn lớn nhất cho giáo viên trong việc lựa
chọn phơng pháp dạy học cho phù hợp.
+ Giáo viên nhiều khi cũng còn lúng túng khi hiểu nghĩa của từ, do vậy việc
truyền thụ kiến thức cho học sinh còn gặp nhiều khó khăn.
+ Tiếng Việt phong phú và đa dạng, do vậy việc xác định vạch ranh giới
giữa các từ đều gặp khó khăn, còn tranh luận nhau trong sinh hoạt chuyên môn.
Muốn xác định đợc từ phải đặt từ đó trong một văn bản, do vậy mỗi ngời có cách
hiểu, cách cảm nhận khác nhau, gây ra sự tranh luận, vạch ranh giới giữa các từ
cũng khác nhau.
Ví dụ: áo dài quá! (áo dài là 2 từ)
Mẹ có chiếc áo dài màu đ. (áo dài là một từ ghép).
- Từ: học hỏi xếp vào từ láy là sai vì nó là từ ghép.
- Từ: vang vọng là từ ghép, xếp vào từ láy là sai.
*Về phía học sinh:
- Thời lợng dành cho học cấu tạo từ ít, mà việc phân loại từ ghép, từ láy lại
- Với loại từ lỡng khả nh thế tốt nhất không đa vào ngữ liệu bài tập.
3.1.2. Biện pháp nhận diện từ láy.
* Đây là biện pháp giáo viên giúp học sinh nhận biết đợc từ láy khi dấu hiệu
hình thức không có quan hệ về ngữ âm.
* Mục đích của biện pháp này là giúp hc sinh nhận diện đúng từ láy khi
làm bài.
* Một số ví dụ cụ thể:
- Các từ có quan hệ về âm nhng bị đánh lừa:
Ví dụ: kính coong, cong queo, cuống quýt,
Các từ trên đợc sắp xếp vào từ láy vì thực tế chữ viết đợc viết bằng các con
chữ khác nhau: /k/= (c,k,q).
- Các từ thiếu õm đầu:
Ví dụ: ầm ĩ, óng ả, ọc ạch, ầm ầm,ta cũng xếp vào nhóm vắng
khuyết phụ âm đầu.
- Các từ: cần mẫn, chuyên chính, nứt nẻ, khi dạy giáo viên hớng dẫn học
sinh nhận biết: tuy các tiếng có hình thức ngữ âm giống nhau nhng đây là từ Hán
Việt mỗi tiếng đều có ý nghĩa và giữa các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa. Vì
vậy ta không xếp vào nhóm từ láy.
- Các từ không xác định đợc tiếng gốc có thể xếp vào từ láy.
Ví dụ: chôm chôm, thằn lằn, ba ba
3.1.3. Biện pháp thêm và giữa từ.
* Đây là biện pháp giáo viên hớng dẫn học sinh thêm từ và vào giữa hai
tiếng của từ.
* Mục đích của biện pháp này là giúp học sinh phân biệt từ ghép tổng hợp
và từ ghép phân loại.
* Ví dụ: quần áo: quần và áo (đợc) -> là từ ghép tổng hợp
Sách vở: sách và vở (đợc) -> là từ ghép tổng hợp.
Quần bò: quần và bò (không đợc) -> là từ ghép phân loại
* Cũng có thể giúp học sinh nhận biết từ ghép tổng hợp bằng cách dựa vào
trật tự các tiếng trong từ.
cách lặp lại âm hay vần)
- Thế nào là từ láy? Cho ví dụ.
- GV nhận xét cho điểm.
2. Dạy bài mới
2.1. Giới thiệu bài: Tiết luyện từ và câu
hôm nay chúng ta sẽ luyện tập về từ
ghép và từ láy.
Học sinh nhắc lại tên bài.
2.2. Hớng dẫn làm bài tập.
Bài 1: - 1 học sinh đọc nội dung bài 1
- Yêu cầu thảo luận cặp đôi và trả lời
câu hỏi.
- Cả lớp đọc thầm.
- Học sinh thảo luận theo cặp.
- Đại diện từng cặp báo cáo.
+ Bánh trái là ghép tổng hợp
+ Bánh rán là ghép phân loại
GV nhận xét, kết luận:
Bánh trái chỉ chung các loại bánh nên
gọi là từ ghép tổng hợp.
Bánh rán chỉ một loại bánh nặn bằng
bột rồi cho vào mỡ rán: phân biệt với
bánh nớng, bánh bao nên gọi là từ ghép
phân loại.
- Có mấy loại từ ghép? - 2 loại: (ghép tổng hợp - ghép phân
loại)
- Lấy ví dụ về: Ghép tổng hợp - Sách vở, quần áo,.
Ghép phân loại - quần áo, áo phông,
- Em có nhận xét gì về trật tự các
tiếng?
non, gò đống,
bãi bờ, hình
d¹ng, mµu s¾c.
- Tại sao lại xếp “ xe đạp” vào từ
ghép phân loại ?
- Vì sao xếp từ “ núi non” vào từ
ghép tổng hợp ?
- Hãy thêm từ “ và” vào giữa các từ
ở mỗi loại và nêu nhận xét ?
GV: Đó chính là cách để phân biệt
từ ghép tổng hợp và từ ghép phân
loại.
Bài 3: Gọi học sinh đọc bài
- Bài yêu cầu gì ?
- Chia lớp thành 4 nhóm, phát
phiếu và giao thời gian, yêu cầu
thảo luận 3 phút.
- GV nhận xét, bổ sung:
Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm
đầu: nhút nhát.
a. Từ láy có hai tiếng giống nhau ở
vần: lao xao, lạt xạt.
b. Từ láy có hai tiếng giống nhau
cả ở âm đầu và vần: rào rào, he
hé.
- Muốn xác định đúng nhóm từ
cần xác định bộ phận nào ?
- Từ “ tươi tốt” là từ láy hay từ
ghép ?
GV nhận xét, giải thích: “ tươi tốt”
đầu.
- GV vẽ mô hình:
Từ láy
Láy âm Láy vần Cả âm và vần
3. Củng cố - Dặn dò
- Có mấy loại từ ghép ?
- Có mấy loại từ láy ?
- Tìm thêm một số loại từ láy, từ
ghép.
- Học sinh trả lời
- Học sinh trả lời
3.2.3. Kiểm tra đánh giá
Sau khi học sinh học xong bài: “ Luyện tập về từ ghép và từ láy”, tôi đã tiến
hành cho học sinh làm bài kiểm tra viết trong 15 phút. Mục đích của bài kiểm tra
là đánh giá khả năng nhận diện từ láy, từ ghép của học sinh.
BÀI KIỂM TRA 15 PHÚT
Họ và Tên:
Lớp:
Bài tập 1: Cho các từ sau:
- quần áo, xe đạp, lầu bầu, nhọc nhằn.
- nhè nhẹ, nhà cửa, bánh gai, bánh cốm.
- khụt khịt, thuyền bè, kính coong, buôn bán.
- Lung tung, xanh xanh, chầm chậm, lèm nhèm, õng ẹo.
Hãy xếp các từ đã cho vào bảng sau:
Từ ghép
tổng hợp
Từ ghép
phân loại
Từ láy
âm đầu
lầu bầu
lèm nhèm
lung tung
nhè nhẹ
xanh xanh
chầm chậm
Bài tập 2:
a. lạnh lẽo, lạnh lùng, lành lạnh, lạnh tanh, lành lặn.
b. nắng nôi, nóng nảy, nứt nẻ, nồng nàn, nơm nớp.
c. ngay thẳng, ngay ngắn, ngay thật, chân thật.
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Học sinh hiểu và phân biệt được đúng từ láy, từ ghép.
- Không nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép có dấu hiệu ngữ âm giống nhau:
( buôn bán )
- Không nhầm lẫn giữ từ láy vắng khuyết phụ âm đầu với từ ghép ( õng ẹo )
- Không nhầm lẫn từ láy âm đầu có hình thức chữ viết khác nhau và từ
ghép ( kính coong ).
- So với lớp đối chứng, kết quả của lớp thực nghiệm cao hơn hẳn.
Điểm
Lớp
0, 1, 2 3, 4 5, 6 7, 8 9, 10
Lớp
đối chứng 0 5 8 12 5
Lớp
thực nghiệm 0 2 9 10 9
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu đề tài: “D¹y tõ phøc cho häc sinh líp 4 qua ph©n
m«n LuyÖn tõ vµ c©u” qua thực tế áp dụng vào giảng dạy, tôi thấy hiệu quả giờ
dạy được nâng cao rõ rệt. Học sinh đã nắm được bản chất của vấn đề. Trên cơ sở
nắm vững lý thuyết, các em đã vận dụng kiến thức để giải bài tập và từ phức