BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 BÙI BÍCH PHƢỢNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 5
QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hoàn
HÀ NỘI, 2015 Lời cảm ơn Lời đầu tiên của đề tài, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới
thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn – Bộ Giáo dục và Đào tạo, người
thầy đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại
học, Quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã
nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho em trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu.
Qua đây, em cũng gửi lời chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các cô
giáo chủ nhiệm và các em học sinh lớp 5 trường Tiểu học Kim Đồng- Ba
Đình- Hà Nội và trường Tiểu học Nghĩa Tân- Cầu Giấy - Hà Nội đã tạo
điều kiên cho em trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân – những
người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
thực hiện đề tài.
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
I. MỞ ĐẦU
1
II. NỘI DUNG
7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM
THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN
TẬP ĐỌC
7
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
7
1.1.1. Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 5
7
1.1.1.1. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5
7
1.1.1.2. Khả năng tri giác, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh
lớp 5
8
1.1.2. Cảm thụ văn học
8
1.1.2.1. Khái niệm về cảm thụ văn học
9
1.1.2.2. Tiến trình và các cấp độ của cảm thụ văn học
10
21
1.2.4. Thực trạng hƣớng dẫn học sinh cảm thụ văn học trong
nhà trƣờng Tiểu học
36
1.2.5. Thực trạng cảm thụ văn học của học sinh lớp 5
37
1.2.6. Nhận xét của tác giả thông qua khảo sát
38
CHƢƠNG 2: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG
CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN
MÔN TẬP ĐỌC
40
2.1. Hệ thống bài tập trƣớc khi đến lớp để rèn kĩ năng cảm thụ
văn học cho học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 5
40
2.1.1. Bài tập yêu cầu luyện đọc
40
2.1.2. Bài tập tìm hiểu nghĩa của từ, câu
41
2.1.3. Bài tập nhận biết ý chính của từng đoạn trong văn bản
45
2.1.4. Bài tập nhận biết đại ý của văn bản
47
2.2. Hệ thống bài tập tại lớp để rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho
học sinh qua phân môn Tập đọc lớp 5
3.5. Giáo án thực nghiệm
87
3.6. Tiến trình triển khai thực nghiệm
101
3.7. Kết quả thực nghiệm
102
III. KẾT LUẬN
104
IV. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
PHỤ LỤC
1.Giáo án đối chứng
2. Phiếu khảo sát học sinh
3. Phiếu kiểm tra chất lƣợng
4. Sản phẩm sáng tạo của học sinh lớp thực nghiệm
1 MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
a) Mục tiêu và phương hướng giáo dục của đất nước
Kết luận 242-TB/TƢ ngày 15/4/2009 của Bộ chính trị về phƣơng hƣớng
phát triển giáo dục đến năm 2020 khẳng định: Giáo dục và đào tạo đã giữ
thuyết.
Luật Giáo dục của Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam ngày 14/4/2005
quy định: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với
lí tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dƣỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Chƣơng trình Giáo dục Tiểu học tại điều 27 của Luật Giáo dục sửa đổi
xác định: Giáo dục Tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ
sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con
ngƣời, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông. Mục tiêu giáo dục Tiểu học hiện
nay là hình thành cho học sinh những tƣ tƣởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và
các kĩ năng cơ bản mang tính đúng đắn và lâu dài để các em học tiếp Trung
học cơ sở. Hiện nay, đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kì mới, chất lƣợng giáo
dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục.
b) Yêu cầu thực tiễn
Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những ngƣời
có trí tuệ sắc bén, có bàn tay vàng, có kĩ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi
dƣỡng nhân tài là việc làm thật sự cần thiết. Ở Tiểu học, việc bồi dƣỡng học
sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trƣờng. Trong hệ thống các môn học
ở Tiểu học thì môn Tiếng Việt là môn học rất quan trọng, đƣợc coi là môn
học công cụ để học tốt các môn học khác. Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân
môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phần nhằm phát triển tƣ duy cho học
sinh, nhằm bồi dƣỡng để các em có thể trở thành học sinh giỏi môn Tiếng
Việt. Phân môn Tập đọc là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài chức năng
rèn đọc, nó còn cung cấp cho học sinh kiến thức Tiếng Việt, kiến thức văn
học, kiến thức đời sống và giáo dục tình cảm, mỹ cảm. Qua bài Tập đọc, học
sinh có thể cảm thụ đƣợc cái hay, cái đẹp và từ đó giáo viên có thể bồi dƣỡng
cho các em tình yêu thiên nhiên, yêu đất nƣớc, yêu con ngƣời. Vì vậy, môn
giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ văn học là một việc làm không thể
thiếu nếu chúng ta muốn việc bồi dƣỡng đƣợc đạt kết quả cao.
Vấn đề bồi dƣỡng năng lực cảm thụ văn chƣơng cho học sinh lớp 5 là
một vấn đề khó, chƣa đƣợc nhiều công trình khoa học nghiên cứu. Đây là vấn
đề phức tạp vì học sinh tiểu học tƣ duy trừu tƣợng đang đƣợc hình thành và
phát triển, các em tiếp nhận vấn đề này tƣơng đối vất vả. Mà ở Tiểu học lại
chƣa có phân môn học riêng cho cảm thụ văn chƣơng, chủ yếu giáo viên phải
bồi dƣỡng lồng ghép thông qua các phân môn của môn Tiếng Việt nhƣ Tập
đọc, Kể chuyện, Tập làm văn… Không những thế, cảm thụ văn chƣơng cũng
đƣợc đánh giá là một vấn đề khó đối với giáo viên.
Trong chƣơng trình Tiểu học hiện nay, đặc biệt là trong phân môn Tập
đọc dành cho học sinh lớp 5 vẫn chƣa thật chú trọng khai thác cảm thụ văn
học và chƣa có một hệ thống bài tập để rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học
4 sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc. Chính vì vậy, chúng tôi đề xuất nghiên cứu
“Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5 qua
phân môn Tập đọc” để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bồi dƣỡng
năng lực cảm thụ văn học cho học sinh góp phần thực hiện đổi mới nội dung,
phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua tìm hiểu, vấn đề rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh đã có
nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu. Có thể kể đến: “Cảm thụ văn học của học
sinh” của O.L.Nhikiphôrôva (1959); “Cảm thụ nghệ thuật” của B.X.Mailax
(1971).
Năm 1983, công trình “Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học” của GS
Phan Trọng Luận đã cung cấp đƣợc một số hiểu biết khoa học về tính đặc thù
của cảm thụ văn chƣơng, mối quan hệ thẩm mỹ của bạn đọc đối với tác phẩm,
tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng tạo của tiếp nhận và những khái
chung và môn tập đọc nói riêng cũng đƣa ra nhiều bài tập rèn cảm thụ văn
học ở những văn bản ngoài ngoài sách giáo khoa nhƣ cuốn “Phƣơng pháp dạy
học Tiếng Việt ở Tiểu học” ( Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội, 1999) hoặc cuốn “35
đề ôn luyện Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học” (NXb Giáo dục Việt Nam, 2011)
TS Nguyễn Trọng Hoàn với cuốn “Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học
sinh Tiểu học” (NXB Hà Nội, 2002) và cuốn “Rèn kĩ năng Tập đọc cho học
sinh lớp 5” (NXB Giáo dục, 2008) đã đƣa ra một số phƣơng án rèn kĩ năng
tập đọc cụ thể cho đối tƣợng học sinh lớp 5 và những gợi ý hƣớng dẫn về các
từ ngữ cần nhấn giọng, cách thể hiện âm điệu, cách ngắt nhịp, cách khai thác
một số từ ngữ hay, hình ảnh lạ, từ đó có giới thiệu cho học sinh một cách diễn
đạt cảm xúc đã đƣợc viết thành bài.
Các vấn đề đƣợc nghiên cứu trên sẽ là tiền đề lý thuyết quan trọng, để từ
đó tôi có thể kế thừa trong việc nghiên cứu và thực hiện một cách đầy đủ, trọn
vẹn hơn đề tài “Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh
lớp 5 qua phân môn Tập đọc”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy cảm thụ văn học qua
phân môn Tập đọc lớp 5 ở trƣờng Tiểu học, từ đó đề xuất phƣơng hƣớng và
nội dung Xây dựng bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5
qua phân môn Tập đọc
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí thuyết về cảm thụ văn học, rèn kĩ năng cảm thụ văn học,
những yêu cầu đối với cảm thụ văn học qua phân môn Tập đọc cho học sinh
lớp 5.
- Tìm hiểu thực trạng dạy cảm thụ văn học qua môn Tập đọc lớp 5 ở các
trƣờng Tiểu học.
6 - Trình bày một số bài tập rèn kĩ năng cảm thụ văn học qua môn Tập đọc
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 5 QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh lớp 5
1.1.1.1. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5
Học sinh lớp 5 đã bƣớc vào tuổi thiếu niên. Các em lớn nhanh, sự phát
triển cơ thể đã tiến gần đến ngƣời trƣởng thành. Hành vi và đời sống của các
em đã có những thay đổi đột biến.
Nét đặc thù của nhân cách học sinh tuổi này là ý thức mình không còn là
trẻ con. Vì vậy tuy hành vi vẫn là trẻ con nhƣng các em lại muốn tỏ ra mình
đã là ngƣời lớn. Các em dễ cáu bẩn nếu bị ngƣời lớn âu yếm nhƣ trẻ con và
bƣớng bỉnh khó bảo nếu không đƣợc tôn trọng, không đƣợc cƣ xử bình đẳng.
Tuổi này vì vậy đƣợc gọi là tuổi chuyển tiếp, tuổi “bất trị”.
Do sự cân bằng cơ thể của trẻ em bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể ngƣời
lớn còn chƣa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao. L.X.Vƣgôtxki
đã viết: “Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con ngƣời, những thời
kì chuyển tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và
đời sống tình cảm”.
Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ em tuổi này có một sự đổi thay
đáng kể là: các em đã thay hoạt động sáng tạo yêu thích là vẽ ở giai đoạn
trƣớc tuổi đến trƣờng và đầu tiểu học bằng hình thức sáng tạo lời.
L.X.Vƣgôtxki cho rằng: “Lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần
những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động,
logic, sự phức tạp của sự kiện”. Vì vậy, hoạt động sáng tạo yêu thích của trẻ
em lứa tuổi này là sáng tạo văn học. Điều này có thể thấy rõ qua các bài văn
của trẻ em, các bài báo tƣờng của lớp do các em tự biên tập, sáng tác. Nếu
đƣợc hƣớng dẫn viết văn theo một chƣơng trình đúng, một phƣơng pháp tốt
thì học sinh lớp 5 rất thích viết văn, học văn. Đƣợc viết những xúc động từ
Khả năng tƣởng tƣợng là khả năng tự tạo ra hình ảnh một sự vật dựa vào
việc sử dụng những chất liệu đã có trong cuộc sống. Đây là khả năng thể hiện
sự sáng tạo, phát triển tự do trí óc của học sinh, là sản phẩm của riêng con
ngƣời. Với lứa tuổi lớp 5, khả năng tƣởng tƣợng còn hạn chế, không phải em
học sinh nào cũng có đƣợc khả năng này. Do đó, giáo viên lớp 5 cũng cần có
hệ thống bài tập nâng cao dần rèn luyện khả năng tƣởng tƣợng để giúp học
sinh sử dụng vào việc cảm thụ văn học qua các bài tập đọc.
1.1.2. Cảm thụ văn học
9 1.1.2.1. Khái niệm về cảm thụ văn học
Theo đại từ điển Tiếng Việt thì “cảm thụ là nhận biết một cách tinh tế
bằng cảm tính”. Tác giả Mạnh Hƣởng cho rằng: Cảm thụ văn học chính là sự
cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ nhất của
văn học thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm. [11, tr.5].
Khi đọc câu ca dao:
“Chiều chiều ra đứng bờ sông
Trông về quê mẹ mà không có đò”.
Khi đọc câu ca dao này, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc nỗi khổ của ngƣời
con gái lấy chồng xa quê. Ngƣời phụ nữ ngày xƣa có quan niệm “xuất giá
tòng phu” (lấy chồng phải theo chồng), “lấy chồng làm ma nhà chồng” nên đã
có biết bao ngƣời lấy chồng xa quê phải ngậm ngùi, thấm thía nỗi buồn khi
nhớ về quê mẹ, tác giả dân gian đã sử dụng thành công hai từ “ chiều chiều”
để diễn tả nỗi buồn trong tâm hồn ngƣời phụ nữ.
Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bài
thơ ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tƣởng tƣợng và thực sự gần
gũi, "nhập thân" với những gì đã đọc.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng cũng từng nhớ lại thuở ấu thơ và viết
nhƣ sau: “Dế mèn phiêu lƣu kí giúp tôi phát hiện tình bạn nhƣ một sức mạnh
thụ.
Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chƣơng ở mức độ cao
nhất, không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu đƣợc thông tin,
phân tích, đánh giá đƣợc khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo đƣợc mối
giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó
cho ngƣời khác.
Để tiếp cận một tác phẩm thì việc đầu tiên của ngƣời đọc chính là phải
đọc, đọc để nắm đƣợc nội dung, để tìm ra những hình ảnh, chi tiết nổi bật
nhất, ngƣời đọc cần phải đọc nhiều lần mới có thể tƣởng tƣợng ra bức tranh
của tác giả muốn gửi đến ngƣời đọc, từ đó cảm nhận đƣợc nội dung của tác
phẩm, việc đọc tốt sẽ giúp ta hiểu nội dung tác phẩm dễ dàng hơn. “Hiểu nội
dung tức là ngƣời đọc đã phát hiện ra các thông tin mà tác giả gửi gắm trong
tác phẩm, kể cả việc nhận diện các yếu tố nghệ thuật đã đƣợc sử dụng nhằm
chuyển tải thông tin tới ngƣời đọc một cách ấn tƣợng”. Khi ngƣời đọc đã
hiểu đƣợc nội dung của tác phẩm để có thể thâm nhập vào tác phẩm, hòa
mình vào những cảm xúc của tác giả, ngƣời đọc cần huy động vốn sống của
mình để cảm thụ tác phẩm ấy, “Cảm thụ là quá trình ngƣời đọc nhập thân
đầy cảm xúc vào tác phẩm, suy tƣ về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận
và sống cùng tâm trạng, cảm xúc của nhân vật, nhân vật trữ tình hoặc của tác
giả” [4, tr.3].
Ví dụ: Bài tập đọc “Chú ở bên Bác Hồ” của nhà thơ Dƣơng Huy.
11 “Chú Nga đi bộ đội
Sao lâu quá là lâu!
Nhớ chú, Nga thƣờng nhắc:
Chú bây giờ ở đâu?
Chú ở đâu, ở đâu?
những thời điểm khác nhau cũng có nhiều biến đổi. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc
Tƣờng đã từng nói: “Riêng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm thì ở mỗi độ tuổi
của đời ngƣời, tôi lại cảm nhận một cái hay riêng của nó, và cho đến bây giờ,
tôi cảm thấy rằng tôi vẫn chƣa đi thấu tận cùng vẻ đẹp của bài học thuộc lòng
thuở nhỏ ấy”.
Để đảm bảo yêu cầu của cảm thụ văn học ngƣời đọc cũng phải thể
nghiệm cùng với các nhân vật, tức là phải nhập thân bằng tƣởng tƣợng vào
các nhân vật để hình dung các biểu hiện của chúng, từ đó khái quát đặc điểm,
tính cách… Ngƣời đọc cũng cần dùng tƣởng tƣợng, trực giác để cảm nhận ý
nghĩa biểu cảm của ngôn từ, từ đó chia sẻ, đồng sáng tạo với tác giả.
Sở dĩ bài thơ Mƣa của Trần Đăng Khoa đƣợc đánh giá cao là do tác giả
đã biết chọn lọc từ ngữ khi miêu tả, tạo hình cho cây cối, cảnh vật ở góc sân
và mảnh vƣờn nhà mình. Ngƣời đọc biết đánh giá là ngƣời mƣờng tƣợng
đƣợc các trạng thái ấy qua từ ngữ, hình ảnh. Chẳng hạn, trong hình ảnh Bụi
tre tần ngần gỡ tóc, từ tần ngần đã diễn tả tài tình dao động chậm chạp của cả
búi tre trong mƣa dông, thứ dao động lừng khà lừng khừng không giống với
các loài cây khác do búi tre gồm nhiều thân cây tre tạo nên, mà Trần Đăng
Khoa đã phát hiện ra. Khi sử dụng từ tần ngần với dụng ý nhân hóa, tác giả đã
khiến cho bụi tre hiện ra nhƣ những cô gái đỏm dáng, thong thả chải từng lọn
tóc dài của mình. Dùng tƣởng tƣợng và trực giác, ngƣời cảm nhận sẽ thấm
điều đó và, tất nhiên, nếu đọc thành tiếng, sẽ nhấn giọng và đọc thong thả từ
tần ngần này.
Quá trình cảm thụ văn học chính là việc đảm bảo hiệu quả nhất mối quan
hệ giữa nhà văn - tác phẩm - bạn đọc. Đến với tác phẩm văn học, ngƣời đọc
muốn đƣợc hƣởng thụ và bồi đắp những tình cảm thẩm mĩ, muốn đƣợc mở
mang trí tuệ, bồi dƣỡng thêm về tƣ tƣởng, đạo đức, lí tƣởng, học hỏi kinh
nghiệm sống hoặc nhận xét, đánh giá. Bằng việc cảm thụ, ngƣời đọc đã
chuyển hóa văn bản thứ nhất của tác giả thành văn bản thứ hai của mình. Bởi
vì, trong khi đọc tác phẩm văn học, ngƣời đọc vừa bám vào sự mô tả trong
văn bản, vừa liên tƣởng tới các hiện tƣợng ngoài đời, đồng thời cũng dựa vào
1.1.3.1. Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn
Ngay từ khi còn nhỏ, hầu hết các em đều thích nghe ông bà cha mẹ hoặc
ngƣời thân kể chuyện, đọc thơ. Bƣớc chân tới trƣờng tiểu học, đƣợc tiếp xúc
với những câu thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa Tiếng Việt, nhiều em
muốn đọc to lên một cách thích thú. Đó chính là những biểu hiện ban đầu của
hứng thú, cần gìn giữ và nuôi dƣỡng để nó phát triển liên tục, mạnh mẽ đến
mức say mê. Một học sinh chƣa thích văn học, thiếu sự say mê cần thiết, nhất
định chƣa thể đọc lƣu loát và diễn cảm bài văn hay, chƣa thể xúc động thực
sự với những gì đẹp đẽ đƣợc tác giả diễn tả qua bài văn ấy. Giáo sƣ Lê Trí
14 Viễn đã nhận xét: “Trong thơ văn hay, chữ nghĩa ngoài cái gọi là nội dung
giao tế thông thƣờng của nó, còn có vốn sống của cuộc đời nghìn năm bồi
đắp lại. Nếu không làm thân với văn thơ thì không nghe đƣợc tiếng lòng chân
thật của nó”. Muốn “làm thân” với văn thơ, chính ta cũng phải có tấm lòng
chân thật, có tình cảm thiết tha, yêu quí văn thơ.
Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vƣợt qua đƣợc khó
khăn, trở ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi môn
Tiếng Việt. Tập đọc diễn cảm một bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát, lắng
nghe để tìm hiểu cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống quanh ta, tập dùng từ
ngữ cho đúng và hay, nói và viết thành câu cho rõ ý, sinh động và gợi cảm…
tất cả đều giúp các em phát triển năng lực cảm thụ văn học.
Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn cũng chính là tự rèn luyện
mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tự
giác, say mê – yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học.
1.1.3.2. Tích luỹ vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và văn học
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức có ảnh hƣởng bởi vốn sống của
mỗi ngƣời. Cái “vốn” ấy trƣớc hết đƣợc tích lũy bằng những hiểu biết và cảm
xúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống.
ảnh đẹp, những câu văn hay, những chi tiết xúc động…
Chăm đọc sách, đọc sách có phƣơng pháp tốt sẽ giúp mỗi ngƣời tự học
đƣợc nhiều điều thú vị từ đó mà lớn lên về cả trí tuệ lẫn tâm hồn. Càng hiểu
biết sâu sắc về thực tế cuộc sống và văn học, trí tƣởng tƣợng và cảm xúc của
mỗi ngƣời càng thêm phong phú, chân thực. Đó chính là điệu kiện quan trọng
để cảm thụ văn học tốt. Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em
còn cần tích lũy cả vốn hiểu biết về văn học thông qua việc đọc sách thƣờng
xuyên. Mỗi cuốn sách có biết bao điều bổ ích và lí thú. Nó giúp ta mở rộng
tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ và cảm xúc, góp phần khơi dậy
năng lực cảm thụ văn học ở mỗi chúng ta.
Giáo viên cần xây dựng cho học sinh hứng thú và thói quen đọc sách.
Đọc sách, các em không chỉ đƣợc thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động
tình cảm, nảy nở những ƣớc mơ tốt đẹp khơi dậy năng lực hành động, bồi
dƣỡng tâm hồn. Ngƣời xƣa nói: “Trong bụng không có 3 vạn quyển sách,
trong mắt chƣa có núi sông kì lạ của thiên hạ thì chƣa học đƣợc văn”.
1.1.3.3. Nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt
Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học, các em cần nắm vững
những kiến thức cơ bản đã học trong chƣơng trình môn Tiếng Việt ở tiểu học.
Có hiểu biết về ngữ âm, chữ viết tiếng Việt cũng nhƣ kiến thức về từ ngữ,
ngữ pháp tiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói – viết tốt mà còn có thể cảm
nhận đƣợc nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và
sáng tạo.
16 Ngoài những kiến thức về ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, qua các
giờ tập đọc, kể chuyện, tập làm văn ở tiểu học, các em còn đƣợc làm quen và
cảm nhận về một số khái niệm nhƣ: hình ảnh (là toàn bộ đƣờng nét, màu sắc
hay đặc điểm của ngƣời, vật, cảnh bên ngoài đƣợc ghi lại trong tác phẩm, nhờ
đó ta có thể tƣởng tƣợng ra đƣợc ngƣời, vật, cảnh đó); chi tiết (là điểm nhỏ, ý
có đƣợc năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện bao điều đáng quý trong
văn học và trong cuộc sống của chúng ta.
1.1.4. Kĩ năng cảm thụ văn học và năng lực cảm thụ văn học
Theo Gs Phan Trọng Luận thì “Cảm thụ văn học là hoạt động tự giác, là
sự vận động nhiều năng lực chủ quan của con ngƣời. Đọc sách là liên tƣởng,
là hồi ức, là tƣởng tƣợng,…Sức hoạt động của liên tƣởng, tƣởng tƣợng, hồi
ức càng mạnh bao nhiêu thì sức cảm thụ càng sâu sắc nhạy bén bấy nhiêu.”
Theo GS Nguyễn Thanh Hùng thì năng lực có đƣợc là nhờ sự lao động
thƣờng xuyên, lâu dài, cần mẫn và đầy hứng thú.
Nhƣ vậy: Năng lực cảm thụ văn học là kết quả của sự học tập bồi dƣỡng
lâu dài về nhiều mặt nhƣ chính trị, tƣ tƣởng, tình cảm, vốn sống, thói quen
đọc sách, thị hiếu nghệ thuật, năng lực tƣởng tƣợng, liên tƣởng và những kĩ
năng cảm thụ văn học.
Vậy, kĩ năng cảm thụ văn học là một phần trong năng lực cảm thụ văn
học. Kĩ năng cảm thụ văn học là công cụ có thể trang bị đƣợc nhƣ cách phát
hiện hình ảnh nghệ thuật,… Nhờ có sự rèn luyện kĩ năng Cảm thụ văn học thì
mới có thể nâng cao dần năng lực cảm thụ văn học.
* Phân biệt kĩ năng cảm thụ văn học và kĩ năng đọc hiểu
- Kĩ năng đọc hiểu là các cách để đọc và hiểu nội dung văn bản.
- Kĩ năng cảm thụ văn học là các cách để cảm nhận những giá trị nổi bật,
những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học.
Nhƣ vậy, cảm thụ văn học là giai đoạn cuối của quá trình đọc hiểu, đó
chính là hiểu sáng tạo, vì qua đó, học sinh không chỉ hiểu mà còn phải xúc
cảm, tƣởng tƣợng và thực sự gần gũi, nhập thân với những gì đã học.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Phân môn Tập đọc lớp 5
1.2.1.1. Vị trí của phân môn
Môn Tiếng Việt ở trƣờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực