Xây dựng hệ thống bài tập chữa lỗi câu cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế kĩ thuật hải dương theo quan điểm giao tiếp - Pdf 10

Xây dựng hệ thống bài tập chữa lỗi câu cho
sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế kĩ thuật
Hải Dương theo quan điểm giao tiếp Nguyễn Thị Thúy Hạnh Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Ban
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Nghiên cứu lí thuyết giao tiếp; nghiên cứu câu trong hệ thống ngôn ngữ
và câu trong hoạt động giao tiếp; nghiên cứu đặc điểm tâm lí và tư duy của sinh viên
trường Cao đẳng để có những cơ sở lí luận cho việc việc đề xuất hệ thống bài tập
chữa lỗi câu. Tìm hiểu thực tế việc dạy học phần câu, việc chữa lỗi câu cho sinh viên
Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dương để có những cơ sở thực tiễn cho việc
đề xuất biện pháp dạy học mang tính khả thi. Đề xuất hệ thống bài tập chữa lỗi câu
theo quan điểm giao tiếp. Tiến hành thể nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của các
đề xuất về biện pháp dạy học.

Keywords. Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Câu Content
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giao tiếp có chức năng làm tiền đề khách quan cho sự phát sinh và phát triển ngôn ngữ.
Ngôn ngữ ra đời không vì mục đích tự thân mà nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp giữa con

học tiếng Việt là hoạt động chữa lỗi về từ, về câu và cách thức diễn đạt để nhằm nâng cao
chất lượng sử dụng tiếng Việt cho người học. Tuy nhiên, việc chữa lỗi câu còn chưa được coi
trọng trong nhà trường hiện nay. Giáo viên chủ yếu mới chỉ quan tâm đến việc chữa lỗi câu
đơn lẻ, hoặc lỗi câu về cấu trúc mà chưa thực sự chú ý đến việc chữa lỗi câu trong hoạt động
giao tiếp hoặc trong văn bản.
1.3. Mục tiêu của dạy học hiện đại là tạo ra những con người mới, phát triển toàn diện, năng
động, sáng tạo và thích ứng nhanh với mọi sự phát triển của xã hội và phải có những kí năng
cần thiết để bước vào cuộc sống. Một trong những kĩ năng quan trọng hàng đầu là kĩ năng
giao tiếp. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ:
“Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ
gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên
cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát
huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy
tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích
cực của các nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ
năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức khoẻ, là những
người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời dặn của Bác Hồ”. Vì
vậy, việc dạy học không chỉ đơn thuần là truyền thụ tri thức, cung cấp kiến thức cho học sinh
mà quan trọng hơn là dạy cho người học cách tự học, tự nghiên cứu. Người học không tiếp
thu kiến thức một cách thụ động mà phải tham gia vào qúa trình học tập một cách tích cực,
chủ động. Chữa lỗi câu cho sinh viên theo quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt là
nhằm thực hiện mục tiêu đó.
1.4. Nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia, các trường Cao đẳng có nhiệm vụ đào tạo ra
nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa
phương cũng như của đất nước. Nhiệm vụ đó đòi hỏi cả thầy và trò trường Cao đẳng của địa
phương phải cố gắng để làm cho quá trình dạy và học có chất lượng, phù hợp với yêu cầu
phát triển. Môn Tiếng Việt thực hành được đưa vào học trong các trường Đại học, Cao đẳng
với mong muốn trang bị cho sinh viên năng lực sử dụng ngôn ngữ trong công việc chuyên
môn một cách có hiệu quả và nâng cao khả năng giao tiếp cho các em sau khi hoàn thành
khoá học để tự tin hơn bước vào cuộc sống.

một loại tín hiệu thích hợp với nó. Tác giả Bùi Minh Toán trong“Từ trong hoạt động giao
tiếp Tiếng Việt” quan niệm: “Giao tiếp chính à sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người
trong xã hội, qua đó con người bộc lộ, truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng và cả
thái độ tình cảm đối với nhau và đối với điều được diễn đạt…” [6].
Trong những năm gần đây, xu hướng dạy học tiếng theo quan điểm giao tiếp đang là
một hướng đi mới, mang lại hiệu quả cao cho quá trình dạy học cả trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Vận dụng quan điểm dạy học này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh, phát huy hiệu quả sử dụng Tiếng Việt trong việc thực hiện chức năng quan
trọng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp.
Ở Việt Nam, việc dạy học tiếng Việt theo hướng giao tiếp cũng được các nhà khoa
học quan tâm, nghiên cứu.
Tác giả Lê A trong “Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động” (Tạp chí
ngữ số 4/2001) đã đề cập thực trạng dạy học tiếng Việt hiện nay còn nhiều điểm chưa tiến bộ,
đồng thời tác giả đưa ra một nguyên tắc trong dạy tiếng đó là: “…Dạy tiếng Việt là dạy cho
các em một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, một loại hoạt động cơ sở của mọi hoạt động
của con người… Trong đó, hoạt động học phải hướng tới hoạt động giao tiếp và được tiến
hành bằng chính hoạt động giao tiếp”.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong “Một số vấn đề lí luận của việc dạy tiếng” (Thông
báo khoa học, ĐHSPHN, số 2/1992) cũng đã khẳng định mục đích của việc dạy tiếng là phát
triển năng lực giao tiếp.Tác giả cho rằng “chính việc coi trọng giao tiếp ngôn ngữ trong việc
dạy tiếng đã kéo theo sự biến đổi trong việc biên soạn tài liệu dạy tiếng, cách chọn ngữ liệu,
phân bố ngữ liệu, phương pháp dạy và vị trí của người giáo viên và học viên trong quá trình
giảng dạy. Việc xem hoạt động ngôn ngữ trong giao tiếp là mục đích của việc dạy tiếng đã
làm cho cách tổ chức giảng dạy phải xây dựng được những tình huống giao tiếp thực.
Cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học tiếng Việt” của nhóm tác giả Lê A, Nguyễn
Quang Ninh, Bùi Minh Toán – cuốn giáo trình mang tính định hướng cho chương trình giảng
dạy tiếng Việt cũng đã nêu rõ: “Ngôn ngữ là hệ thống hoạt động chức năng, tách khỏi hoạt
động chức năng thì nó không còn sức sống, trở thành một hệ thống khô cứng. Nói cách khác,
ngôn ngữ phải được thể hiện trong các dạng lời nói khác nhau, mọi quy luật cấu trúc và hoạt
động của hệ thống ngôn ngữ chỉ được rút ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động. Mặt

cứu như là địa hạt thực thi hành vi ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp. Người xây dựng nền
móng tiên phong cho lí thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học người Anh John L.Austin với
công trình: “How to do thing with words”. Qua đó, J.L.Austin đã điều chỉnh lại một cách sâu
sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói theo quan niệm và sự phân biệt rạch ròi của F.de
Saussure. Người phát triển quan điểm của Austin là J.Searle.
Đối với các nước trên thế giới, xu hướng dạy học tiếng theo hướng giao tiếp không
phải là quá mới. Dạy học ngôn bản nói và ngôn bản viết trong giao tiếp và để giao tiếp được
xem là kim chỉ nam cho quá trình xây dựng chương trình dạy học của các nước.
Trong chương trình tiếng Pháp của bang Quebec (Canada) quy định : “Việc giảng dạy
tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp học sinh luôn
luôn được đặt vào nhưng tình huống giao tiếp”. Chương trình còn nhấn mạnh : Cơ bản là phải
đặt học sinh trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc sự thông hiểu.
Ngay từ những năm 80, chương trình giáo dục của CHDC Đức (cũ) đã xác định :
Nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch và dạy tiếng mẹ đẻ ở nhà trường là phục vụ cho kĩ năng
giao tiếp của người học.
Có thể nói, những quan điểm trên đều khẳng định rằng : Dạy tiếng trong giao tiếp,
bằng giao tiếp và để giao tiếp là quan điểm tiến bộ và hiện đại của việc giảng dạy tiếng mẹ
đẻ mà rất nhiều nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới đang áp dụng. Theo phương
hướng đó, việc dạy học ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết phải lấy giao tiếp làm môi trường, lấy
việc phục vụ giao tiếp làm nhiệm vụ và mục đích cho việc dạy học tiếng hiện nay.
2.2. Những nghiên cứu về chữa lỗi câu
Chữa lỗi câu là một lĩnh vực của khoa học giáo dục. Vì thế, nó không chỉ được các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm mà còn được các nhà sư phạm, được những ai quan
tâm, mong muốn “giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” coi trọng.
Từ giữa những năm 80 trở về trước, vấn đề lỗi câu và chữa lỗi câu được quan tâm
nhiều ở mặt cấu trúc ngữ pháp. Tiêu biểu có tác giả Nguyễn Minh Thuyết với “Mấy gợi ý về
việc phân tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh” (1974) ; tác giả Nguyễn Xuân Khoa với
“Sai – đúng – hay trong việc dùng từ, đặt câu, chấm câu” (1968) ; tác giả Nguyễn Đức Dân
với “Chập cấu trúc – một quá trình tâm lí trong những lỗi sai của học sinh” (1982).
Khuynh hướng này chú ý xem xét những câu đơn lẻ tách ra khỏi văn bản, việc phân

7/1982) của tác giả Nguyễn Đức Dân ; hay “Về các phương pháp chữa câu sai của học sinh”
(số 6/1985) của tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Qua các bài viết trên, chúng ta thấy vấn đề lỗi câu và việc chữa lỗi câu cho học sinh
đã trở thành một vấn đề quan trọng và cấp thiết trong việc dạy học tiếng Việt hiện nay. Các
bài viết đã đi sâu vào phân tích lỗi, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất cách chữa. Đây là những
đóng góp quan trọng trong việc chữa lỗi câu cho học sinh. Vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh
còn rất nhiều nội dung cần được nghiên cứu kĩ và sâu hơn để đi đến thống nhất.
Gần đây, có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên Đó là bài viết
“Nhận diện các dạng lỗi về câu từ góc độ văn bản” của tác giả Nguyễn Thị Ban (Tạp chí
Nghiên cứu giáo dục chuyên đề quý I năm 1999) ; cuốn “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục”
của các tác giả Cao Xuân Hạo – Lí Tùng Hiếu – Nguyễn Kiên Trường – Trần Thị Tuyết Mai
(NXB Giáo dục 2000).
Rõ ràng, vấn đề lỗi câu và chữa lỗi câu cho học sinh đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu. Điều này vừa phản ánh việc mắc lỗi câu của học sinh là khá
phổ biến vừa khẳng định việc tổ chức hướng dẫn chữa lỗi câu cho học sinh là việc làm cần
thiết của người giáo viên trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng.
Tóm lại, qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu lỗi câu và vấn đề chữa lỗi câu của các
tác giả, chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung xem xét lỗi về câu ở
cấp vĩ mô, nặng về những lỗi ngữ pháp hoặc lỗi câu trong văn bản mà chưa đề cập đến việc
chữa lỗi câu theo quan điểm giao tiếp. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng
lại ở học sinh phổ thông mà nghiên cứu việc sửa lỗi câu cho sinh viên ở các trường chuyên
nghiệp.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu về giao tiếp và chữa lỗi câu nêu ở trên là
những tài liệu quý báu, những kiến thức cơ bản, nền tảng để chúng tôi tham khảo, học hỏi và
định hướng cho chúng tôi nghiên cứu khi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp, về việc dạy học tiếng Việt theo quan
điểm giao tiếp, nghiên cứu về việc dạy học chương Luyện viết đoạn văn, chương Tạo câu
trong văn bản ở giáo trình Tiếng Việt thực hành đang được giảng dạy tại Trường Cao đẳng

Để đạt được mục đích và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu ở trên, luận
văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Phương pháp này được dùng để phân tích, tổng hợp các vấn đề lí luận thu nhận
được, từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuất các biện pháp chữa lỗi câu cho
sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dương.
- Phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực tiễn:
Đây là phương pháp dùng để điều tra, thu thập thông tin và tìm hiểu đánh giá
thực tế việc dạy học phần câu và chữa lỗi câu trong môn Tiếng Việt thực hành cho sinh viên
ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dương bằng cách phát phiếu điều tra với nhiều nội
dung và hình thức khác nhau cho nhiều đối tượng ở các lớp, các ngành đào tạo có học môn
này. Kết quả sẽ được xử lí, đánh giá nhằm rút ra những nhận xét cần thiết để phục vụ cho đề
tài.
- Phương pháp thống kê, so sánh:
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để kiểm định giả thuyết, nghiên cứu, so
sánh đối chiếu các số liệu và kết quả thực nghiệm,đối chứng trong kết quả học tập của sinh
viên nhóm thực nghiệm và đối chứng nhằm khẳng định các biện pháp đề xuất là khả thi.
- Phương pháp thể nghiệm sư phạm:
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi của
biện pháp dạy học mà chúng tôi đã đề xuất trong luận văn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, luận văn gồm 3 phần: Phần mở
đầu, Phần nội dung, Phần kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chương. Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập chữa lỗi câu cho sinh
viên Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dương
Chương 2: Hệ thống bài tập chữa lỗi câu theo quan điểm giao tiếp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dương
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm.


18. Lê Thị Bích Hồng. “Xây dựng tình huống giao tiếp trong dạy học bài “Nghĩa của câu”
ở trường trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ, ĐHSPHN, 2007.
19. Học viện hành chính Quốc gia, Khoa Văn bản và Công nghệ hành chính. Giáo trình
Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục, 2005.
20. Học viện Khoa học quân sự. Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội,
2002.
21. Học viện Khoa học quân sự. Giáo trình ngôn ngữ học đối chiếu, (Lưu hành nội bộ), Hà
Nội, 2006.
22. Học viện Khoa học quân sự. Giáo trình Tiếng Việt thực hành, Hà Nội 1999.
23. Học viện Khoa học quân sự. Tài liệu dạy học môn Khoa học giao tiếp, (Lưu hành nội
bộ), Hà Nội, 2007.
24. Đinh Trọng Lạc. Phong cách học Tiếng Việt, NXB ĐHQGHN, 1997.
25. Đinh Trọng Lạc. 300 bài tập phong cách học Tiếng Việt, NXBGD, 1999.
26. Trần Thị Lương. Câu tiếng Việt, NXBĐHSP, 2006.
27. Bùi Minh Toán. Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, TC Nghiên cứu giáo
dục, số 11/ 1992.
28. Nguyễn Kim Thản – Hồ Lê – Lê Xuân Thại – Hồng Dân. Nói và viết đúng Tiếng Việt,
NXB Khoa học, 1967.
29. Nguyễn Thị Thìn. Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường phổ thông, NXB
Đại học Quốc gia, 2003
30. Đinh Văn Thuận. “Tổ chức chữa lỗi câu trong bài làm văn cho học sinh Trung học cơ
sở”, Luận văn thạc sĩ, ĐHSPHN, 2006.
31. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp. Tiếng Việt thực hành, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội,1997.
32. Phạm Hà Thương. “Chữa lỗi câu cho học sinh trung học phổ thông theo quan điểm giao
tiếp”, Luận văn thạc sĩ, ĐHSPHN, 2008.
33. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 2002.
34. Trường Đại học Quản lí và Công nghệ Hà Nội. Kĩ năng giao tiếp và đàm phán kinh
doanh (Lưu hành nội bộ), 2007
35. Trường Đại học Quản lí và Công nghệ Hà Nội. Kĩ năng thuyết trình và xử lí văn bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status