Xây dựng hệ thống bài tập chữa lỗi câu cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế kĩ thuật Hải Dương theo quan điểm giao tiếp - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THUÝ HẠNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHỮA LỖI CÂU
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KĨ THUẬT
HẢI DƢƠNG THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2010
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THUÝ HẠNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHỮA LỖI CÂU
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KĨ THUẬT
HẢI DƢƠNG THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP



Nguyễn Thị Thúy Hạnh
4

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 18
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 19
5. Giả thuyết khoa học 19
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 20
7. Bố cục của luận văn 21
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP CHỮA LỖI CÂU CHO SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG
KINH TẾ KĨ THUẬT HẢI DƢƠNG THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 22
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học 22
1.1.1 Câu trong hệ thống ngôn ngữ 22
1.1.2. Câu trong hoạt động giao tiếp 34
1.2. Cơ sở lí luận dạy học 54
1.2.1. Mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình dạy học 54
5

1.2.2. Vai trò của hệ thống bài tập tiếng Việt trong việc rèn luyện kĩ năng thực
hành 56
1.3. Cơ sở thực tiễn 61
1.3.1. Nội dung dạy học phần câu trong chƣơng trình môn Tiếng Việt thực
hành ở Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng 62
1.3.2. Các loại lỗi câu cơ bản của sinh viên và thực trạng dạy học chữa lỗi câu
ở Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng 65


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giao tiếp có chức năng làm tiền đề khách quan cho sự phát sinh và phát
triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ ra đời không vì mục đích tự thân mà nhằm đáp ứng
nhu cầu giao tiếp giữa con ngƣời trong cộng đồng xã hội, một nhu cầu mang
tính bẩm sinh của con ngƣời. Con ngƣời có thể giao tiếp bằng nhiều phƣơng
tiện, nhiều kênh giao tiếp khác nhau nhƣng xét ở mọi góc độ thì “ngôn ngữ là
phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời” (V.I Lê nin). Câu là một
trong những đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, thực hiện chức năng thông báo
của ngôn ngữ. Ngoài việc truyền đạt và thông báo một hiện thực khách
quan,câu còn bao hàm sự đánh giá, thái độ tình cảm của ngƣời nói (viết) với
hiện thực đƣợc nói tới.Trong hoạt động giao tiếp, câu mới thực sự bộc lộ hết
những thuộc tính và các bình diện câu mới đƣợc hiện thực hoá. Câu đƣợc cấu
tạo từ những đơn vị tƣơng đối ổn định, tĩnh tại nhƣng các bình diện của câu
chỉ thực sự rõ ràng khi đi vào hoàn cảnh sử dụng. Do vậy, việc dạy học câu
không thể tách rời với hoạt động giao tiếp.
1.2. Ngày nay, hoà cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trên thế
giới, công cuộc cải cách giáo dục ở nƣớc ta đã có những thay đổi phù hợp với
xu thế chung và đạt đƣợc nhiều tiến bộ đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh
những thay đổi về mục tiêu, chƣơng trình, nội dung dạy học, những thay đổi
về phƣơng pháp vẫn còn bất cập. Phƣơng pháp dạy học đang đƣợc sử dụng
phổ biến hiện nay trong các nhà trƣờng chủ yếu vẫn là thuyết giảng. Điều đó
phần nào ảnh hƣởng đến sự phát triển một số kĩ năng cần thiết cho ngƣời học
trong đó có kĩ năng giao tiếp.Vấn đề đạt ra cho các nhà giáo dục là “dạy nhƣ
thế nào?” để ngƣời học có thể phát triển tốt nhất năng lực sẵn có của mình,
có phƣơng pháp học tập, phƣơng pháp luận khoa học để có thể tiếp tục tự học
8

suốt đời. Điều IV – Luật giáo dục nƣớc CHXHCNVN đƣợc Quốc hội thông

lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và của
con ngƣời Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của các
nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tƣ duy sáng tạo, có
kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có
sức khoẻ, là những ngƣời kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa
chuyên nhƣ lời dặn của Bác Hồ”. Vì vậy, việc dạy học không chỉ đơn thuần là
truyền thụ tri thức, cung cấp kiến thức cho học sinh mà quan trọng hơn là dạy
cho ngƣời học cách tự học, tự nghiên cứu. Ngƣời học không tiếp thu kiến thức
một cách thụ động mà phải tham gia vào qúa trình học tập một cách tích cực,
chủ động. Chữa lỗi câu cho sinh viên theo quan điểm giao tiếp trong dạy học
tiếng Việt là nhằm thực hiện mục tiêu đó.
1.4. Nằm trong hệ thống giáo dục quốc gia, các trƣờng Cao đẳng có nhiệm vụ
đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lƣợng cao phục vụ thời kì công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của địa phƣơng cũng nhƣ của đất nƣớc. Nhiệm vụ đó đòi hỏi cả
thầy và trò trƣờng Cao đẳng của địa phƣơng phải cố gắng để làm cho quá
trình dạy và học có chất lƣợng, phù hợp với yêu cầu phát triển. Môn Tiếng
Việt thực hành đƣợc đƣa vào học trong các trƣờng Đại học, Cao đẳng với
mong muốn trang bị cho sinh viên năng lực sử dụng ngôn ngữ trong công việc
chuyên môn một cách có hiệu quả và nâng cao khả năng giao tiếp cho các em
sau khi hoàn thành khoá học để tự tin hơn bƣớc vào cuộc sống.
Môn Tiếng Việt thực hành ở Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải
Dƣơng đƣợc đƣa vào học kì đầu tiên của năm thứ nhất. Mặc dù có định hƣớng
là rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong hoạt động thực tiễn
10

(trong đời sống, trong công việc sau này của các em) nhƣng nói chung giáo
trình đƣợc biên soạn để giảng dạy cũng chƣa đi sâu vào phần thực hành mà
còn nặng về phần lí thuyết mà điều này các em đã đƣợc học ở chƣơng trình
tiếng Việt phổ thông. Cụ thể ở phần Chữa câu sai trong giáo trình mới chỉ chủ
yếu đƣa ra các lỗi câu về mặt cấu tạo ngữ pháp, ngữ nghĩa mà chƣa chú ý tới

à sự tiếp xúc, giao lƣu giữa ngƣời và ngƣời trong xã hội, qua đó con ngƣời
bộc lộ, truyền đạt cho nhau những nhận thức, tƣ tƣởng và cả thái độ tình cảm
đối với nhau và đối với điều đƣợc diễn đạt…” [6].
Trong những năm gần đây, xu hƣớng dạy học tiếng theo quan điểm
giao tiếp đang là một hƣớng đi mới, mang lại hiệu quả cao cho quá trình dạy
học cả trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Vận dụng quan điểm dạy học này
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phát huy hiệu
quả sử dụng Tiếng Việt trong việc thực hiện chức năng quan trọng của ngôn
ngữ - chức năng giao tiếp.
Ở Việt Nam, việc dạy học tiếng Việt theo hƣớng giao tiếp cũng đƣợc
các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.
Tác giả Lê A trong “Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt
động” (Tạp chí ngữ số 4/2001) đã đề cập thực trạng dạy học tiếng Việt hiện
nay còn nhiều điểm chƣa tiến bộ, đồng thời tác giả đƣa ra một nguyên tắc
trong dạy tiếng đó là: “…Dạy tiếng Việt là dạy cho các em một hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ, một loại hoạt động cơ sở của mọi hoạt động của con
12

ngƣời… Trong đó, hoạt động học phải hƣớng tới hoạt động giao tiếp và đƣợc
tiến hành bằng chính hoạt động giao tiếp”.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong “Một số vấn đề lí luận của việc dạy
tiếng” (Thông báo khoa học, ĐHSPHN, số 2/1992) cũng đã khẳng định mục
đích của việc dạy tiếng là phát triển năng lực giao tiếp.Tác giả cho rằng
“chính việc coi trọng giao tiếp ngôn ngữ trong việc dạy tiếng đã kéo theo sự
biến đổi trong việc biên soạn tài liệu dạy tiếng, cách chọn ngữ liệu, phân bố
ngữ liệu, phƣơng pháp dạy và vị trí của ngƣời giáo viên và học viên trong quá
trình giảng dạy. Việc xem hoạt động ngôn ngữ trong giao tiếp là mục đích của
việc dạy tiếng đã làm cho cách tổ chức giảng dạy phải xây dựng đƣợc những
tình huống giao tiếp thực.
Cuốn giáo trình “Phƣơng pháp dạy học tiếng Việt” của nhóm tác giả Lê

ngữ học bắt đầu quan tâm nghiên cứu từ khoảng thế kỉ XX. Một số tác giả
nhƣ C.E.Shanno (1994) và W.Weaver (1962), Wilburn Schramn (1955) khi
nghiên cứu quá trình truyền thông đã đƣa ra sơ đồ quá trình giao tiếp.Tuy
nhiên, các sơ đồ trên mới chỉ ra quá trình giao tiếp trên mạng điện báo và quá
trình truyền thông. Một cách hiểu rộng nhất về giao tiếp: Giao tiếp là việc
dùng mật mã (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) để chuyển đi một thông điệp (bức
thƣ, mệnh lệnh…) từ điểm này đến điểm khác. Có thể tìm thấy ý này trong
định nghĩa của G.A.Miller (1956): “Giao tiếp là việc một tin nào đó đƣợc
truyền đi từ điểm này đến điểm khác”.
Một bƣớc phát triển mới trong cách nhìn nhận về “giao tiếp” là sự ra
đời của ngữ dụng học. Ngôn ngữ tiền dụng học chƣa phát hiện ra bản chất
14

hoạt động của giao tiếp. Khi ngữ dụng học ra đời đã khắc phục đƣợc những
hạn chế đó, giao tiếp đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣ là địa hạt thực thi hành
vi ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp. Ngƣời xây dựng nền móng tiên phong cho
lí thuyết hành vi ngôn ngữ là nhà triết học ngƣời Anh John L.Austin với công
trình: “How to do thing with words”. Qua đó, J.L.Austin đã điều chỉnh lại một
cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói theo quan niệm và sự phân
biệt rạch ròi của F.de Saussure. Ngƣời phát triển quan điểm của Austin là
J.Searle.
Đối với các nƣớc trên thế giới, xu hƣớng dạy học tiếng theo hƣớng giao
tiếp không phải là quá mới. Dạy học ngôn bản nói và ngôn bản viết trong giao
tiếp và để giao tiếp đƣợc xem là kim chỉ nam cho quá trình xây dựng chƣơng
trình dạy học của các nƣớc.
Trong chƣơng trình tiếng Pháp của bang Quebec (Canada) quy định :
“Việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong
lớp học tiếng Pháp học sinh luôn luôn đƣợc đặt vào nhƣng tình huống giao
tiếp”. Chƣơng trình còn nhấn mạnh : Cơ bản là phải đặt học sinh trong một
tình huống giao tiếp làm sản sinh lời nói hoặc sự thông hiểu.

ngôn ngữ học văn bản, thuyết hoạt động giao tiếp đƣợc phổ biến rộng rãi ở
Việt Nam thì khuynh hƣớng nhìn nhận câu trong cấu trúc của những đơn vị
lớn hơn câu đã thu hút sự chú ý của những ngƣời nghiên cứu và dạy học
Tiếng Việt. Tiêu biểu cho khuynh hƣớng này có các tác giả Đình Cao – Lê A
16

trong “Làm văn” tập I (1989), tác giả Bùi Minh Toán – Lê A – Đỗ Việt Hùng
với “Tiếng Việt thực hành” (1998), tác giả Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh
với “Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt” (1997), tác giả Nguyễn Quang
Ninh với “Giáo trình Tiếng Việt thực hành” ( 2000)…
Khuynh hƣớng này chú trọng đến chức năng của câu trong văn bản.
Các tác giả cho rằng câu là đơn vị nhỏ nhất của văn bản. Vì thế, xem xét lỗi
về câu với tƣ cách là một đơn vị cấu thành văn bản.
Các tác giả cũng quan tâm tới mối liên hệ của câu với các nhân tố giao tiếp để
xác định và phân loại lỗi về câu. Vì vậy, bên cạnh những lỗi câu nhƣ khuynh
hƣớng trên đã đề cập, khuynh hƣớng này đã chỉ ra câu sai còn do vi phạm quy
tắc về ngữ nghĩa, về phong cách…
Có thể nói, với khuynh hƣớng này có nhiều ƣu điểm, lỗi câu đã đƣợc
nhìn nhận toàn diện.
Tạp chí ngôn ngữ cũng đã đăng nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa
học, nhà giáo dục về vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh. Có thể kể đến các bài
nhƣ “Có thể tìm con đƣờng ngắn nhất để dạy viết đúng câu” của tác giả Trần
Phô (số 1/1969) ; “Lỗi ngữ pháp của học sinh – nguyên nhân và cách chữa”
của tác giả Nguyễn Xuân Khoa (số 1/ 1970) ; “Mối quan hệ giữa ý và lỗi
trong quá trình hình thành một số kiểu câu sai của học sinh” của tác giả
Nguyễn Mai Hồng (số 4/1975) ; “Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng
câu Tiếng Việt” của tác giả Diệp Quang Ban (số 4/1976).
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục cũng có nhiều bài viết rất đáng chú ý về vấn đề
chữa lỗi câu cho học sinh : “Chập cấu trúc – một quá trình tâm lí trong những
câu sai của học sinh” (số 7/1982) của tác giả Nguyễn Đức Dân ; hay “Về các

Có thể nói, những công trình nghiên cứu về giao tiếp và chữa lỗi câu
nêu ở trên là những tài liệu quý báu, những kiến thức cơ bản, nền tảng để
chúng tôi tham khảo, học hỏi và định hƣớng cho chúng tôi nghiên cứu khi
thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp, về việc dạy học tiếng Việt
theo quan điểm giao tiếp, nghiên cứu về việc dạy học chƣơng Luyện viết đoạn
văn, chƣơng Tạo câu trong văn bản ở giáo trình Tiếng Việt thực hành đang
đƣợc giảng dạy tại Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng, chúng tôi
đề xuất hệ thống bài tập chữa lỗi theo quan điểm giao tiếp nhằm góp phần
nâng cao chất lƣợng dạy học phần câu nói riêng và dạy học Tiếng Việt thực
hành nói chung ; đồng thời góp phần nâng cao năng lực và kĩ năng giao tiếp
cho sinh viên trong nhà trƣờng để các em tự tin bƣớc vào cuộc sống.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích đề ra, luận văn cần phải giải quyết một số nhiệm
vụ cụ thể sau :
- Nghiên cứu lí thuyết giao tiếp; nghiên cứu câu trong hệ thống ngôn
ngữ và câu trong hoạt động giao tiếp; nghiên cứu đặc điểm tâm lí và tƣ duy
của sinh viên trƣờng Cao đẳng để có những cơ sở lí luận cho việc việc đề xuất
hệ thống bài tập chữa lỗi câu.
19

- Tìm hiểu thực tế việc dạy học phần câu, việc chữa lỗi câu cho sinh
viên Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng để có những cơ sở thực
tiễn cho việc đề xuất biện pháp dạy học mang tính khả thi.
- Đề xuất hệ thống bài tập chữa lỗi câu theo quan điểm giao tiếp.
- Tiến hành thể nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của các đề xuất về
biện pháp dạy học.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

lí, đánh giá nhằm rút ra những nhận xét cần thiết để phục vụ cho đề tài.
- Phƣơng pháp thống kê, so sánh:
Chúng tôi vận dụng phƣơng pháp này để kiểm định giả thuyết,
nghiên cứu, so sánh đối chiếu các số liệu và kết quả thực nghiệm,đối chứng
trong kết quả học tập của sinh viên nhóm thực nghiệm và đối chứng nhằm
khẳng định các biện pháp đề xuất là khả thi.
- Phƣơng pháp thể nghiệm sƣ phạm:
21

Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để kiểm chứng và đánh giá
tính khả thi của biện pháp dạy học mà chúng tôi đã đề xuất trong luận văn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, luận văn gồm 3
phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chƣơng. Cụ thể:
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập chữa
lỗi câu cho sinh viên Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng
Chƣơng 2: Hệ thống bài tập chữa lỗi câu theo quan điểm giao tiếp
cho sinh viên Trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kĩ thuật Hải Dƣơng
Chƣơng 3: Thể nghiệm sƣ phạm. 22


nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm. Câu đồng
thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”.
Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong cuốn “Câu Tiếng Việt và nội dung dạy
học câu ở trƣờng phổ thông” đã đƣa ra cách hiểu về câu nhƣ sau: “Câu là đơn
vị ngôn từ nhỏ nhất có chức năng thông báo nhỏ nhất đƣợc dùng vào việc
giao tiếp hàng ngày”.
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều thể hiện đƣợc một điểm chung:
Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có chức năng thông báo và là đối tƣợng của
ngữ pháp học.
Ngữ pháp ngôn ngữ học truyền thống khi nghiên cứu câu chủ yếu tìm
hiểu những quy tắc cấu tạo câu của một ngôn ngữ. Quy tắc cấu tạo câu phụ
thuộc vào bản thân các từ, quan hệ giữa các từ và vai trò của chúng khi phối
hợp để tạo câu cũng nhƣ phƣơng thức tổ chức các từ thành nhóm từ để thành
câu, đến các kiểu câu xét theo thành phần cấu tạo cũng nhƣ xét theo mục đích
phát ngôn.
Ngữ pháp văn bản ra đời đƣa ra câu trả lời cho vấn đề: Liệu trên cấp độ
câu còn cấp độ ngôn ngữ nào nữa không? Đã có một thời gian dài trong ngôn
ngữ học tồn tại một quan niệm cho rằng: Câu là đơn vị cao nhất của ngôn
ngữ. Ngữ pháp văn bản ngày càng phát triển đã khẳng định trên câu còn có
24

văn bản. Văn bản mới là đơn vị có thể hoàn thành trọn vẹn nhất chức năng tƣ
duy và giao tiếp của ngôn ngữ. Câu chỉ là đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn
ngữ, còn những đơn vị khác ngoài câu tự bản thân chúng không có tính thông
báo. Ngữ pháp văn bản ra đời đã nảy sinh thuật ngữ mới là phát ngôn.
Vậy giữa câu và phát ngôn có gì khác nhau? Ranh giới để phân biệt câu
và phát ngôn thật không dễ dàng. Theo các tác giả Nguyễn Thiện Giáp (chủ
biên) – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Dẫn luận ngôn
ngữ” cho rằng: quan hệ giữa câu và phát ngôn cũng tƣơng tự nhƣ quan hệ
giữa hình vị và hình tố, giữa từ và các dạng thức cụ thể của từ.

câu – phát ngôn hoặc phát ngôn – câu và có thể gói gọn là câu, hiểu là câu
trong hiện thực giao tiếp. Nói cách khác, câu xét trong tình huống sử dụng cụ
thể, trong hoạt động giao tiếp.
Với cách hiểu khái niệm câu – phát ngôn nhƣ vậy, câu sẽ đƣợc xem xét
về mặt cấu tạo của câu ở cả hai phƣơng diện cấu trúc lẫn những yếu tố có mặt
trong câu nhƣng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu. Đồng thời, cần đƣa cả
một số vấn đề thuộc mặt ngữ nghĩa và thuộc mặt sử dụng của câu vào xem xét
để làm rõ thêm về câu, vì trong thực tế sử dụng ba mặt: kết học, nghĩa học và
dụng học tích hợp với nhau, hỗ trợ lẫn nhau tạo cho ta một câu (phát ngôn) tự
nhiên, nằm trong cuộc sống tự nhiên của ngôn ngữ.
Quá trình tìm hiểu cho thấy những đặc trƣng cơ bản của câu – phát
ngôn nhƣ sau:
- Về phƣơng diện sử dụng (chức năng giao tiếp), câu đƣợc dùng để thực
hiện hành động nói cơ sở (hành động nói đƣợc thực hiện chỉ bằng một câu).
Câu đƣợc dùng nhƣ vậy có thể coi là một phát ngôn nhỏ nhất.

Trích đoạn Mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình dạy học Hệ thống bài tập Quy trình chữa lỗi câu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status