ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
VŨ THỊ THU TRANG
KỸ NĂNG TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
HẢI DƢƠNG
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31. 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Hoàng Mộc Lan
Hà Nội - 2015
1
LỜI CẢM ƠN!
Sau quá trình học tập, nghiên cứu tại Khoa Tâm lý học Trường Đại học Khoa
học Xã hội & Nhân văn Hà Nội, em đã hoàn thành chương trình học và Luận văn
tốt nghiệp.
Em xin gửi tới toàn thể Ban Giám hiệu; các Phòng, Ban, Khoa; các cán bộ,
giảng viên của Trường lòng biết ơn chân thành!
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể cán bộ, giảng viên Khoa Tâm lý đã
tận tình giảng dạy, hỗ trợ chúng em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu!
Để có thể hoàn thành nghiên cứu này, em đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn
4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của Kỹ năng tự quản
lý hoạt động học tập
Biểu đồ 2: Mục đích học tập của sinh viên
Biểu đồ 3: Hành động thực hiện kế hoạch học tập của sinh viên
5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2
3. Đối tuợng nghiên cứu ................................................................................ 2
4. Khách thể nghiên cứu ................................................................................ 2
5. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 2
6. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 3
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3
8. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 3
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................... 4
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................. 4
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................ 4
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam .................................................................. 7
1.2. Lý luận về kỹ năng và kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập của
sinh viên ........................................................................................................ 9
1.2.1. Lý luận về kỹ năng và khái niệm kỹ năng ...................................... 9
3.1. Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng tƣ̣ quản lý
hoạt động học tập........................................................................................ 41
3.2. Mƣ́c đô ̣ kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên......... 45
3.2.1. Kỹ năng tự lập kế hoạch học tập ..................................................... 45
3.2.2. Kỹ năng học tập trên lớp ............................................................... 51
3.2.3. Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu ...................................................... 57
3.2.4. Kỹ năng tự kiể m tra, đánh giá hoa ̣t đô ̣ng ho ̣c tâ ̣p ......................... 64
3.3. So sánh tƣơng quan mức độ kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập
của sinh viên ............................................................................................... 67
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tự quản lý học tập của sinh viên 69
3.4.1. Các yếu tố chủ quan ...................................................................... 71
3.4.2. Các yếu tố khách quan .................................................................. 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................... 76
1. Kết luận................................................................................................... 79
2. Khuyến nghị ........................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................... .... 83
PHỤ LỤC
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi bước chân vào các trường chuyên nghiệp, mỗi sinh viên phải đặt ra cho
mình một kế hoạch học tập, một sự hướng đích trong thời gian nhất định, thời gian
đó có là 3 năm đối với bậc học cao đẳng hoặc từ 4 đến 6 năm đối với bậc học đại
học. Trong thời gian đó, đa phần các sinh viên sống xa gia đình và bố mẹ, vì thế
việc tự quản lý hoạt động học tập trở nên rất cần thiết. Bởi vì đây chính là giai đoạn
đánh dấu sự trưởng thành ở các em và cũng chính các em là nguồn nhân lực chủ yếu
để đưa đất nước phát triển. Với tốc độ phát triển thông tin như hiện nay đòi hỏi sinh
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương”. Nghiên cứu kỹ năng tự quản lý
hoạt động học tập của sinh viên sẽ góp phần bổ sung tài liệu phục vụ trực tiếp cho
giảng dạy về lĩnh vực này, đồng thời giúp cho sinh viên chủ động thực hiện hoạt
động học tập có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng đòi hỏi
nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập của đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Trường Cao đẳ ng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương , phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến thực trạng đó. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nâng cao kỹ năng tự quản
lý hoạt động học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục , đào ta ̣o
của Trường.
3. Đối tuợng nghiên cứu
Kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳ ng Kinh
tế - Kỹ thuật Hải Dương.
4. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: 326 người, trong đó bao gồm: 300 sinh viên và 20
giảng viên giảng dạy và 6 cán bộ làm công tác quản lý trong Trường.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập trong đào tạo theo tín chỉ của sinh viên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương ở mức độ trung bin
̀ h . Trong đó,
yếu nhất là kỹ năng tự lập kế hoạch học tập và kỹ năng tự học, tự nghiên cứu. Động
cơ học tập và chương trình đào ta ̣o là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng
tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên.
2
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Cụ thể là tổng quan lịch sử
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Đầu thế kỷ XX, ở Mỹ tâm lý học hành vi ra đời, đại diện là J.Watson, E.C
Tolman, K.Hull, B.F Skinner,…. mặc dù xuất phát từ quan niệm máy móc về con
người, nhưng nghiên cứu về kỹ năng trong lý luận dạy học do B.F Skinner khởi
xướng là một thành tựu lớn. Sau đó, A.Bandura (1961) – nhà tâm lý học người Mỹ
đã đưa ra lý thuyết học tập xã hội. Ông cho rằng, học tập bao giờ cũng diễn ra trong
mối quan hệ với những người khác, trong xã hội. Khái niệm học tập xã hội nhấn
mạnh đến mẫu hành vi chỉ dẫn hành vi của cá nhân (mẫu hành vi của bố, mẹ, anh
chị em ruột, ngôi sao trong các lĩnh vực, người hùng…). Mẫu hành vi là một dạng
kích thích, khi con người tiếp xúc sẽ bắt chước hoặc hạn chế thực hiện hành vi đó.
Cá thể quan sát mẫu hành vi của người khác và quan sát kết quả do hành vi đó gây
ra. Nếu hậu quả của mẫu hành vi không được xã hội chấp nhận, khích lệ (trừng
phạt) thì hành vi đó sẽ bị từ bỏ. Các hành động của cá nhân theo mẫu hành vi nếu
được khích lệ thì nó sẽ được lặp lại và là yếu tố chính quyết định hành vi học tập,
kỹ năng của con người. Nghiên cứu về kỹ năng học tập ở phương Tây rất phát triển
vào đầu thế kỷ XX, khi khoa học giáo dục chuyển từ quan điểm dạy học lấy người
dạy làm trung tâm sang quan điểm lấy người học làm trung tâm. Có rất nhiều
nghiên cứu cũng như lý thuyết bàn về vấn đề kỹ năng hợp tác trong học tập. Hai tác
giả David W. Johnson và Roger T. Johnson đề cập rất chi tiết và cụ thể trong cuốn
sách “Học tập hợp tác và học thuyết phụ thuộc xã hội: Học tập hợp tác
(Cooperative learning and social interdependence theory: Cooperative learning)”.
Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức về sự hợp tác học tập, các điều kiện và các
yếu tố nâng cao hiệu quả của kỹ năng hợp tác trong học tập. Một số nghiên cứu
khác đã khẳng định, kỹ năng hợp tác học tập hình thành và phát triển khi sinh viên
làm việc với nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập chung (Johnson, Johnson &
4
5
kế hoạch học tập của sinh viên. Tác giả Menges, Robert J (1997) trong cuốn sách “
Kinh nghiệm dạy-học cho sinh viên đại học và người lớn” (Teaching-Leaning
Expriences for College Students and Other Adults. Northwestern University) đã
nghiên cứu và đưa ra chỉ dẫn về những nguồn lực dẫn đến thành công trong dạy-học
và quản lý quá trình dạy-học về lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả dạyhọc. Trong cuốn sách “Sinh viên quản lý học tập” (Student managerment of
learning, University of Michigan. 1997) các tác giả Zimmerma, Risemberg đã chỉ ra
6 thành phần chính của quản lý học tập và quy trình quản lý học tập của sinh viên
giúp họ có được thành tích cao trong học tập. Tác giả Mann, Richard D và một số
giảng viên trường đại học Michigan (Mỹ) đã nghiên cứu về động thái trong lớp học
trong cuốn sách “ Lớp học ở trường đại học: mâu thuẫn, thay đổi và học tập” (The
College Classroom: Conflict, Change and Leaning. New York. John Wiley and
Sons. 2003), đã chỉ ra rằng sự chuẩn bị kiến thức ở nhà, các kiểu học tập ở sinh viên
có liên quan đến sự tích cực tư duy tiếp thu bài giảng của giảng viên. Sinh viên trả
lời câu hỏi với nhiều phương án khác nhau dựa trên phương pháp dạy thực hành của
giảng viên. Đây là một phần của tâm lý học sư phạm về trang bị kỹ năng cho sinh
viên như kỹ năng giao tiếp, tư duy, giải quyết vấn đề, tự quản lý bản thân, sáng tạo
trong học tập.
Ở Liên Xô (cũ) vào những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu kỹ
năng được các nhà tâm lý học chú ý. Trong các công trình nghiên cứu về kỹ năng
hoạt động sư phạm, X.I.Kixegof đã phân tích khá sâu về kỹ năng. Tác giả phân biệt
hai loại kỹ năng là kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao. Kỹ năng bậc thấp là kỹ
năng nguyên phát được hình thành lần đầu qua các hoạt động giản đơn, nó là cơ sở
để hình thành kỹ xảo. Kỹ năng bậc cao là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có
tri thức, kỹ xảo, là khả năng vâ ṇ du ̣ng kiế n thức tiế p thu đươ ̣c để thực hiê ̣n có hiê ̣u
quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành
đô ̣ng này ở mô ̣t cấ p đô ,̣ tiêu chuẩ n xác đinh.
cho rằng: các kỹ năng, kỹ thuật tổng hợp có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị
nghề nghiệp và lao động phổ thông cho học sinh. Đó là những kỹ năng như: tính
toán, lập đồ thị, đồ án, đo đạc, lắp ráp, điều chỉnh, tổ chức...Các kỹ năng một phần
được lĩnh hội trong quá trình học tập, một phần được lĩnh hội trong quá trình lao
động. Trầ n Tro ̣ng Thuỷ nghiên cứu kỹ năng và khẳng định: Kỹ năng là mặt kỹ thuật
của hành động, con người nắ m đươ ̣c cách hành đô ̣ng tức là có kỹ thuâ ̣t hành động, có
kỹ năng. Tác giả chưa đề cập đến kết quả khi thực hiện hành động . Đào Thị Oanh
trong cuốn “Tâm lý học lao động” (NXB ĐHQGHN 2008) nhấn mạnh vai trò của
kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động lao động, gắn liền sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo
với quá trình dạy sản xuất cho người lao động. Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn
Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩ n cho rằ ng: Kỹ năng là một hệ thống các hành động
thể lực và trí tuê ̣, các biện pháp và cách thức mà nhờ đó , mô ̣t dạng hoạt động nào đó
7
đươ ̣c thực hiê ̣n và đa ̣t tới mu ̣c đích đề ra . Như vâ ̣y, để có kỹ năng yêu cầ u cá nhân
phải có sự kết hợp một hệ thống các hành động thể lực , trí tuệ, biê ̣n pháp , cách thức
nhằm đa ̣t đươ ̣c mu ̣c đích đã
đề ra . Trong hoạt động dạy học có một số tác giả
nghiên cứu về kỹ năng như: Nguyễn Quang Uẩn, Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan
(1999) nghiên cứu hệ thống kỹ năng hoạt động sư phạm; Ngô Công Hoàn, Nguyễn
Thạc, Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp sư phạm;
Trần Quốc Thành - kỹ năng tổ chức trò chơi; Hình thành rèn luyện những kỹ năng
đọc, viết cho học sinh của các tác giả Dương Diệu Hoa, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thị
Hạnh, các kỹ năng tự học của các tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu; Bồi dưỡng cho
sinh viên đại học kỹ năng nghiên cứu khoa học tâm lý học của Phạm Viết Vượng;
Kỹ năng học tập của tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn, kỹ năng tự học của Lê Khanh, Lê
được thử thách trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách là công cụ của
hành động. Để có kỹ năng phải dựa vào kiến thức đã có và năng lực vận dụng
chúng để phát hiện bản chất của sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý
luận hay thực hành xác định. Khi kỹ năng của một hoạt động nào đó mới hình thành,
cần xem xét ở mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động. Còn kỹ năng đã
hình thành ổn định, con người sử dụng kỹ năng một cách sáng tạo trong các hoàn
cảnh khác nhau. Nghiên cứu hình thành và phát triển kỹ năng, nhất thiết cần quan tâm
đến cả mặt kỹ thuật của hành động và tri thức.
1.2. Lý luận về kỹ năng và kỹ năng tự quản lý hoạt động học tập của
sinh viên
1.2.1. Lý luận về kỹ năng và khái niệm kỹ năng
1.2.1.1. Lý luận về kỹ năng
Hiện nay, có nhiều quan điểm trong và ngoài nước nghiên cứu về kỹ năng
đứng trên bình diện nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi khái quát lại trên cơ sở hai
hướng nghiên cứu chính:
Quan niệm kỹ năng như mặt biểu hiện của năng lực, là khả năng thực hiện
hoạt động.
Theo K.K. Platonnov và V.V. Tsebuseva: Kỹ năng là năng lực của con người
thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện
và những khoảng thời gian tương ứng. K.K. Platonnov đã rất chú ý đến năng lực
9
của cá nhân khi thực hiện một công việc nào đó bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết
quả của hành động.
X.I.Kixegov, Nguyễn Minh Châu, Lê Văn Hồng, Trần Thị Thanh Hà coi kỹ
năng là khả năng vận dụng kiến thức tiếp thu được để thực hiện có hiệu quả hệ
thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động
này ở một cấp độ, tiêu chuẩn xác định. Xét một phương diện nào đó, khi xem xét kỹ
phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành
động. Tác giả không đề cập đến kết quả của hành động bởi theo ông, kết quả của
hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đó quan trọng hơn cả là năng lực
thực hiện hành động nào đó của con người chứ không đơn giản là con người có
cách thức thực hiện hành động tốt thì sẽ thu được kết quả tương ứng. Điều mà ông
nhấn mạnh chính là khi cá nhân tìm được phương thức hành động thích hợp với
mục đích nhất định nào đó trong những điều kiện xác định của hoạt động, đó chính
là kỹ năng.
A.V.Petropxki cho rằng, kỹ năng là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri
thức và kỹ xảo. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, nó tạo khả
năng hành động cho con người không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà ngay cả
khi điều kiện thay đổi. Có kỹ năng nghĩa là nắm được kỹ thuật hành động. Vì vậy,
muốn có kỹ năng nhất thiết phải trải qua quá trình rèn luyện. Mức độ thành thạo của
kỹ năng phụ thuộc vào mức độ nắm vững tri thức về hành động đó và mức độ sử
dụng trong hoạt động thực tiễn. Tác giả đã chỉ rõ, con đường hình thành kỹ năng
cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện kỹ năng của mỗi cá nhân.
Nếu con người không có tri thức về hành động cụ thể và không sử dụng tri thức đó
thành thạo trong cuộc sống thì khó có thể biến nó trở thành kỹ năng.
Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn cho
rằng: Kỹ năng là một hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện pháp và
cách thức mà nhờ đó, một dạng hoạt động nào đó được thực hiện và đạt tới mục
đích đề ra. Như vậy, để có kỹ năng yêu cầu cá nhân phải có sự kết hợp một hệ thống
các hành động thể lực, trí tuệ, biện pháp, cách thức nhằm đạt được mục đích đề ra.
Khi con người đạt tới mức khái quát hệ thống như quan niệm trên được xem xét
như cá nhân đó có trình độ thực hiện hành động.
Trần Trọng Thủy nghiên cứu kỹ năng và khẳng định: Kỹ năng là mặt kỹ
thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành
11
12
1.2.1.2. Khái niệm kỹ năng
Thuật ngữ kỹ năng dùng chỉ cá nhân thực hiện có kết quả một hành động
trong một hoạt động nhất định nào đó. Chẳng hạn, khi nói đến một cá nhân biết thực
hiện hành động tương ứng như: Kỹ năng đọc, viết, làm toán, học ngoại ngữ… hoặc
cá nhân biết thực hiện một hoạt động trong lĩnh vực nào đó như: Kỹ năng tổ chức,
kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán.. hoặc khi nói đến khả năng thích ứng của
con người trong môi trường xã hội, người ta nói đến kỹ năng sống…
Trong đại từ điển Tiếng Việt (2001) có viết: Kỹ năng là khả năng vận dụng
những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.
Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008) đã định nghĩa về kỹ năng
như sau: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành
động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”.
Một số nhà tâm lý học Xô Viết đưa ra các khái niệm về kỹ năng như sau:
Theo A.G.Covaliop: “ Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp
với mục đích và điều kiện hành động”
A.V.Petopxki cho rằng “Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kỹ xảo đã có để lựa
chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra”
Theo V.V.Tsebuseva: “Kỹ năng là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó
dựa trên những tri thức và kỹ xảo và được hoàn thiện lên cùng với chúng”
Như vậy, dù cách phát biểu về kỹ năng khác nhau nhưng các tác giả đều
thống nhất rằng kỹ năng được thể hiện bằng kết quả công việc và phải dựa trên
những tri thức, kinh nghiệm đã có. Để có được kỹ năng, trước hết cá nhân phải có
hiểu biết chính xác, đầy đủ về mục đích của hoạt động, nội dung của hoạt động,
phương thức và các điều kiện để tiến hành hoạt động hay nói cách khác chính là tri
thức về hoạt động ấy.
Kế thừa quan điểm của các nhà tâm lý học, chúng tôi hiểu: Kỹ năng là sự
hai mức độ khác nhau của sự thuần thục và tự động hoá hành động. Kỹ năng chỉ
dừng lại ở mức độ biết làm và làm có kết quả, kỹ xảo thì yêu cầu hành động thuần
thục, khái quát, chính xác, chưa hao tổn năng lượng thần kinh và cơ bắp nhưng đạt
hiệu quả cao. Kỹ năng và kỹ xảo có sự khác nhau về cấu trúc. Cấu trúc kỹ năng của
mọi hành động đều có ba phần: tri thức về phương thức thực hiện các thao tác và
hành động cấu thành kỹ năng đó; mục đích tiến hành hành động; các thao tác tương
14
ứng và những phương tiện thực hiện hành động. Còn kỹ xảo, trong cấu trúc của nó
hai thành phần đầu thì mờ nhạt hoặc nó không còn trong quá trình hành động, chỉ có
yếu tố thứ ba: hệ thống logic các thao tác và phương tiện thực hiện hành động là rõ
ràng nhất. Kỹ năng là một tổ chức tâm lý phức tạp hình thành trên cơ sở một hệ
thống kỹ xảo có liên quan đến hoạt động nhất định. Người ta chỉ có thể nói đến kỹ
năng dạy học, kỹ năng viết văn… chứ không nói đến kỹ xảo dạy học, kỹ xảo viết
văn, làm thơ…
Mối quan hệ giữa kỹ năng và năng lực: Kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt
kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực, kỹ năng và năng lực có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Kỹ năng giúp con người có tri thức, có hiểu biết
nhất định và có cách thức hành động về một công việc nào đó. Kỹ năng là một trong
những điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển năng lực, nghĩa là muốn có
năng lực về một hoạt động nào đó thì phải có kỹ năng về lĩnh vực hoạt động đó.
Năng lực biểu hiện ở khả năng vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của cá
nhân vào quá trình hoạt động, giúp hoạt động có hiệu quả. Nếu thiếu tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo cần thiết của một hoạt động nào đó thì hoạt động đó sẽ không có hiệu
quả. Mặt khác, nhờ có năng lực mà quá trình nắm vững và phát triển của kỹ năng,
kỹ xảo sẽ diễn ra nhanh hơn. Năng lực ảnh hưởng trở lại, thúc đẩy sự phát triển kỹ
năng, kỹ xảo của cá nhân. Trong mối quan hệ này, năng lực được xem như là một
thuộc tính tâm lý ổn định của nhân cách, nó vận động và phát triển theo trình độ
kỹ năng từ thấp đến cao. Con người càng nắm vững tri thức bao nhiêu sẽ tìm ra
cách thức hành động mang lại hiệu quả bấy nhiêu.
Chúng ta có thể thấy rằng khi thực hiện bất kỳ một hành động nào ta cũng
nhằm đạt tới một mục đích xác định nào đó được đặt ra từ trước. Tuy nhiên, mục
đích được xác định trước đó có đạt được hay không, nếu có thì mức độ đạt được là
cao hay thấp còn hoàn toàn tùy thuộc vào chỗ: chủ thể hành động này nắm vững và
kiên trì thực hiện phương thức (kỹ thuật, cách thức) tiến hành, hành động đó đến
mức nào trong sự phù hợp với những điều kiện mà chủ thể đang sở hữu để thực hiện
hành động đó. Đa số các nhà tâm lý học đều cho rằng, điều kiện tiên quyết để một
hành động phải nắm vững và thực hành thành thạo tri thức về phương thức thực
hiện hành động đó. Nói cách khác, chủ thể tiến hành hành động phải có kỹ năng
thực hiện hành động đó. Như vậy, về mặt tâm lý học khi nói tới kỹ năng là nói tới
16
mối quan hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện
hành động đó. Trong ý nghĩa đó, K.K. Platonop khẳng định: “Cơ sở tâm lý của kỹ
năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và
phương thức thực hiện hành động”.
Trong tâm lý học người ta thường bàn tới mức độ của kỹ năng: Kỹ năng bậc
thấp và kỹ năng bậc cao:
Kỹ năng bậc thấp là kỹ năng bước đầu được hình thành trên cơ sở lần đầu
tiên chủ thể vận dụng những tri thức về phương thức thực hiện hành động trong
thực tiễn. Do đó, mặc dù chủ thể đã tập trung chú ý cao độ vào công việc, song
hành động của họ vẫn tỏ ra lúng túng, vụng về và có nhiều sai sót (so với mẫu). Nếu
được lặp đi, lặp lại nhiều lần thông qua luyện tập kiên trì thì dần dần những sai sót
được loại bỏ, ý thức được giải phóng. Trên cơ sở đó kỹ năng bậc thấp này được
củng cố và trở thành tự động hóa, khi đó kỹ xảo được hình thành. Từ sự kiện này
A.V.Petropxki khẳng định: “Kỹ xảo là kỹ năng được củng cố và tự động hóa”.
trị hành vi tổ chức” như sau: thực tiễn quản lý phải nhằm vào mức độ thấu hiểu hiện
tại của thuộc cấp với mục đích tổng thể là giúp họ phát triển, tiến tới họ có nhu cầu
chuyển quản lý từ khách quan thành tự quản lý và ngày càng tăng cường tự quản lý.
Sự phát triển của cá nhân phụ thuộc vào quá trình quản lý từ khách quan tiến gần
đến sự tự quản lý.
Trong lĩnh vực tâm lý học lâm sàng Ann Behav Med (2003) nghiên cứu vấn
đề và giải pháp cho việc tích hợp giáo dục tự quản lý vào hệ thống chăm sóc sức
khỏe, đã đưa ra 5 kỹ năng tự quản lý: lập kế hoạch giải quyết vấn đề, ra quyết định,
sử dụng nguồn lực, hình thành mối quan hệ đối tác giữa nhà cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khỏe và bệnh nhân và tự điều chỉnh (self-tailoring). Từ giữa những năm
1960, Thomas và đồng nghiệp của ông ở bệnh viện và viện nghiên cứu về bệnh hen
suyễn ở trẻ em đã sử dụng thuật ngữ này trùng khớp với thuật ngữ trong các chương
trình về hen suyễn của các bác sĩ nhi khoa. Các tác giả này đã dựa trên một công
trình vừa được công bố của A. Bandura, khẳng định rằng thông qua giáo dục tự
quản lý, người bệnh đã tham gia tích cực trong quá trình trị liệu. Tính từ thời điểm
này, thuật ngữ tự quản lý được sử dụng một cách rộng rãi nhưng nó vẫn chưa được
khái niệm hóa hay định nghĩa một cách rõ ràng. Kết quả của tự quản lý là đặc biệt ý
nghĩa cho những người đang phải sống với bệnh mãn tính, ở đó chỉ có duy nhất
18