CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Tên viết tắt Tên đầy đủ
CBGVCNV Cán bộ giáo viên công nhân viên
CSVC Cơ sở vật chất
GDĐH Giáo dục đại học
GD&ĐT Giáo dục đào tạo
GDTX Giáo dục thường xuyên
KH-CN Khoa học – công nghệ
KH-KT Khoa học –Kỹ thuật
KTXH Kinh tế xã hội
LKĐT Liên kết đào tạo
NT Nhà trường
QLGD Quản lý giáo dục
QLNT Quản lý nhà trường
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
VLVH Vừa làm vừa học
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Bước vào kỷ nguyên mới, trước những thách thức về sự cạnh tranh của
nền kinh tế toàn cầu, cùng với những biến đổi to lớn trong thế giới ngày nay
đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự phát triển về giáo dục. Đảng ta xác định
giáo dục là quốc sách hàng đầu, để nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ ngày càng cao không chỉ là nhiệm vụ của giáo dục chính
quy mà còn có phần đóng góp không nhỏ của các loại hình đào tạo khác nữa
như đào không chính quy, giáo dục thường xuyên, liên thông, liên kết. Muốn
thực hiện mục tiêu của GD&ĐT, thực hiện công bằng giáo dục và mọi người
được đi học, học thường xuyên và học suốt đời thì phải mở rộng các loại hình
đào tạo.
Trong những năm gần đây giáo dục thường xuyên ngày càng có vị trí,
Nếu đề xuất và thực thi từng bước các biện pháp quản lý đối với các
hoạt động liên kết trên cơ sở lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại và phù hợp
với thực tiễn của địa phương Thái Bình thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo hệ liên kết ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở cơ sở
giáo dục đại học, cao đẳng.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lý các hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao
đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao
đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.
6. Giới hạn đề tài
3
Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý
liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ
thuật Thái Bình. Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn là các số
liệu của Trung tâm tại chức nhà trường giai đoạn từ năm 2000 – 2011
7. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn
kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên sách, báo chí, các tài
liệu chuyên môn liên quan đến nội dung của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chủ yếu là thu thập, xử lý các dữ liệu, tìm hiểu thực trạng. Các phương
pháp cơ bản: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, nêu vấn đề và đề xuất những giải
pháp kết hợp với trao đổi, phỏng vấn, điều tra, thử nghiệm.
7.3. Phương pháp bổ trợ
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử
lý số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả.
dục, nghị quyết đã chỉ rõ: " Phải bố trí hợp lý cơ cấu hệ thống giáo dục, thể
hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm nhiều hình thức đào tạo,
bồi dưỡng chính quy và không chính quy, tập trung, tại chức "
Hệ đào tạo đại học không chính quy với nhiều hình thức mới, tên gọi
mới như đại học mở, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn đã được mở ra. Từ
năm 1988 đến năm 1991 đã có 2 Viện đại học mở được thành lập ở Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh.
5
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: " Hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên", " nhà nước có chính
sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập" [3].
Những năm gần đây, trong các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo
dục, tạp chí phát triển giáo dục, tạp chí dạy và học, báo giáo dục và thời đại,
trong các báo cáo tổng kết công tác giáo dục thường xuyên hàng năm của bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập tới công tác quản lý các lớp đại học hệ
liên kết.
Trong quá trình học tập tôi đã tham khảo một số luận văn cao học của
các khoá đào tạo tại trường như tác giả Đào Thị Lợi với đề tài " Những biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng các lớp đào tạo bậc Đại học theo hình
thức liên kết tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bắc Giang", tác giả
Nguyễn Khánh Thọ với đề tài " Biện pháp quản lý hệ vừa làm vừa học tại các
cơ sở liên kết đào tạo của trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, đề tài " Biện pháp
quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học ở trường Cán bộ
thanh tra thuộc thanh tra Chính Phủ của tác giả Công Văn Hướng, đề tài "
Biện pháp quản lý học tập của học viên các lớp liên kết đào tạo hệ không
chính quy ở trung tâm đào tạo bồi dưỡng tỉnh Nam Định" của tác giả Nguyễn
Đức Hiển và đề tài " Quản lý hoạt động liên kết đào tạo hệ đại học vừa làm
vừa học tại Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tỉnh Nam Định"của tác giả Nguyễn
Thị Hoà. Các đề tài của các anh(chị) lớp trước đã nêu được một số giải pháp
giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo như
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề,
trung tâm GDTX theo một kế hoạch, nội dung chương trình quy định cho
từng ngành nghề cụ thể, nhằm giúp người học đạt được một trình độ nhất định
trong hoạt động lao động nghề nghiệp.
7
1.2.2. Liên kết
Liên kết là "kết, buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau" (từ điển
Từ và Ngữ Hán Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hoá -
Thông tin năm 2005( Nguyễn Như Ý chủ biên) thuật ngữ liên kết cũng được
định nghĩa là:" Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ
nhằm mục đích nào đó"[33]. Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ
chặt chẽ, ràng buộc, gắn kết lẫn nhau giữa các thành phần hướng đến một
mục đích chung nào đó. Tính hướng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực
của các mối liên kết giữa chúng.
Tiền nhân có câu " Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao"
Sự liên kết giữa các tổ chức theo một lợi ích chung, giải quyết một vấn
đề chung tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từng thành phần hoặc
tổ chức riêng rẽ không thể có. Tuỳ theo từng loại hình mà có các mối liên kết
bên trong hoặc bên ngoài của một tổ chức trong bối cảnh và môi trường kinh
tế - xã hội nhất định như trong nhà trường, trong doanh nghiệp, trong trường
đại học. Nói đến vấn đề liên kết ta có thể đề cập đến các nội dung sau:
Mục đích, mục tiêu liên kết, các thành phần, tổ chức liên kết, các hình
thức liên kết, các nội dung liên kết, cơ chế liên kết, sản phẩm liên kết, môi
trường và các điều kiện liên kết.
Mục đích, mục tiêu liên kết: phản ánh lợi ích, mong muốn chung và cụ
thể của từng tổ chức thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích
xã hội, lợi ích môi trường phát triển
Các thành phần, tổ chức liên kết: bao gồm các thành phần, tổ chức độc
cao đẳng, đại học [2]. Tại văn bản này liên kết đào tạo được hiểu là sự hợp tác
9
giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, cấp bằng tốt
nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
Đối với một tổ chức như nhà trường thì việc liên kết lại càng quan
trọng, mang lại hiệu quả rất lớn. Sự liên kết đào tạo phát huy được sức mạnh
tổng hợp về nguồn lực vật chất và trí thức, nó gắn kết giữa học và hành, bởi
ngay bản thân sản phẩm mà nhà trường tạo ra chính là nguồn lực cho xã hội.
Nguồn lực này có mặt trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Liên kết sẽ tạo
ra một sức mạnh mới, một chất lượng làm việc mới cho tổ chức.
1.2.4. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.4.1. Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ
đến phạm vi rộng lớn hơn, đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.
Một cách hình ảnh C. Mác đã lột tả bản chất của quản lý và các hoạt
động lao động để điều khiển lao động. Ông đã nói: "Một người độc tấu vĩ cầm
thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng" để nêu bật lên sự tất
yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển
của xã hội loài người.
Có thể nói hoạt động quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ
thuật. Nó điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô.
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một
định nghĩa thống nhất. Khái niệm quản lý có nội dung rất chung, tổng quát,
nó dùng cho cả quá trình xã hội, quá trình sinh vật cũng như quá trình kỹ
thuật. Mỗi một định nghĩa thường dùng đúng với một lĩnh vực quản lý cụ thể
và tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau.
Theo cách tiếp cận trên phương diện hoạt động của tổ chức thì: " Quản
lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện
các mục tiêu dự kiến".
quản lý, trong sự tác động của môi trường. Cho nên " Quản lý phải đặt trong
điều kiện có sự thay đổi, bắt nguồn từ những biến động, mà cuộc sống thì
không bao giờ đứng yên" [18]
Ngày nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa cụ thế hơn: "Quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra"[9].
Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ
bản sau:
Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý.
Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ
nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh
các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu
của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua
sự nỗ lực của người khác. Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ
thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục
đích đã định. Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của
con người. Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:
Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách
thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc.
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy
luật khách quan.
Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
12
Tóm lại, những khái niệm về quản lý nêu trên đều có các đặc trưng chủ
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản
lý: Theo Henri Fayol (1841- 1925) là một kỹ nghệ gia người Pháp, cống hiến
lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình " hoạt động quản lý"ông là
người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản gồm: Kế hoạch hoá,
Tổ chức, Chỉ huy, Phối hợp và Kiểm tra [9,tr.31].
Viện sĩ V.G Afanaxiep của Liên Xô, một nhà lý luận quản lý xã hội đã
nêu 5 chức năng cơ bản của quản lý là: Xử lý và thông qua quyết định, tổ
chức, điều chỉnh, sửa chữa, kiểm kê và kiểm tra.
Các chức năng cơ bản của quản lý là sự nhóm gộp các hoạt động quản
lý trong mỗi công đoạn của quá trình đạt đến mục tiêu. Với những quan điểm
và thể hiện dưới dạng khác nhau về phân chia các chức năng quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc có thể phân
chia theo 4 chức năng cơ bản sau:
Kế hoạch hoá (Planning); Tổ chức (Organizing); Lãnh đạo-chỉ đạo
(Leading); Kiểm tra (Controling). Bốn chức năng cơ bản này liên quan chặt
chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chúng đều cần đến thông tin.
Chức năng kế hoạch hoá (Planning) Kế hoạch hoá có nghĩa là xác
định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con
đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Đây là chức
năng giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động quản lý. Có ba nội dung chủ yếu của
chức năng kế hoạch hóa: (a) xác định, hình thành mục tiêu ( phương hướng)
đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết)
về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và; (c) quyết định
xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.Chuẩn
song hành cùng với hai công việc quan trọng của kế hoạch hoá: Xác định mục
14
tiêu "đúng" và lựa chọn những biện pháp " đúng" để đạt được mục tiêu. Cả
hai công việc đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá trình quản lý.
Các nhà lý thuyết gia về quản lý cho rằng: Kế hoạch hoá là cái khởi
nguyên của mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác. Người ta ví kế hoạch
- Kế hoạch tác nghiệp: Là các biện pháp được hoạch định để triển khai
kế hoạch chiến thuật và đạt được mục tiêu tác nghiệp. Nói chung loại kế
hoạch này có thời hạn dưới một năm, thậm chí thời hạn tính theo tháng, tuần,
ngày và do cấp quản lý thấp nhất xây dựng.
Để phân biệt các loại kế hoạch cần dựa vào các tiêu chí sau: khung thời
gian, phạm vi, độ phức tạp và ảnh hưởng, tính độc lập tương đối.
Bảng: 1.1. Tám lĩnh vực cần quan tâm khi xác định mục tiêu chiến lược
(tác giả Drucker đề xuất)
Tám lĩnh vực cho tổ chức sinh lời Tám lĩnh vực cho tổ chức không sinh lời
1. Thị phần cần chiếm lĩnh
2. Sự đổi mới về sản phẩm và
những đổi mới công nghệ cần
thiết.
3. Nguồn nhân lực
4. Nguồn tài chính
5. Nguồn vật lực
6. Năng suất lao động
7. Trách nhiệm xã hội
8. Lợi nhuận
1. Nhu cầu xã hội cần đáp ứng
2. Sự đổi mới về sản phẩm dịch vụ xã
hội và đổi mới phương thức hoạt động
tương ứng.
3. Nguồn nhân lực
4. Nguồn tài chính
5. Nguồn vật lực
6. Hiệu quả hoạt động
7. Trách nhiệm xã hội
8. Lợi ích của tổ chức.
iii- Quá trình lập kế hoạch
Trong khi chiến lược đang tiếp diễn người quản lý cần tiến hành kiểm
tra những tiến bộ của việc triển khai chiến lược định kỳ hoặc kiểm tra ở
những giai đoạn then chốt. Việc kiểm tra cần trả lời được câu hỏi là chiến
lược có được triển khai theo kế hoạch hay không? Chiến lược đang triển khai
có đạt hiệu quả mong muốn hay không?
Chức năng tổ chức (Organizing)
Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những
ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý
nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng quản
lý, tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên,
giữa các bộ phận với nhau nhằm thực hiện thành công kế hoạch, đạt được
mục tiêu, mục đích của tổ chức. Đây là chức năng quan trọng quyết định sự
thành bại trong việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Nhờ công tác tổ chức có
hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn các nguồn
lực. Một tổ chức hoạt động tốt phụ thuộc nhiều vào năng lực của người quản
lý, sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất.
Nội dung của tổ chức là tạo nên một bộ máy quản lý trong đó gồm
nhiều bộ phận được chuyên môn hoá, có quan hệ với nhau nhằm thực hiện
các chức năng quản lý vì một mục tiêu chung. Vì thế tổ chức chính là việc
xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống được hình thành trên cơ sở kế
hoạch hoá. Một cơ cấu tổ chức được cho là phù hợp khi nó đạt được nguyên
tắc thống nhất trong mục tiêu, mỗi thành viên đều góp công sức vào các mục
tiêu của hệ thống.
Tác giả Emest Dale mô tả chức năng tổ chức như một quá trình gồm 5
bước:
Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu
của tổ chức.
18
Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viên
hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp
có và đo lường ý nghĩa, mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần
thiết để đảm bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách
hiệu nghiệm và hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Tác giả Rorbert J. Mockler chia kiểm tra thành bốn bước:
Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương hướng đo lường thành
tựu, các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan
lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất. Phương pháp đo lường chuẩn
mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn
mực đặt ra.
Đo lường thành tựu là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến liên tục,
với tần xuất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản lý
khác nhau. Xác định mức độ đáp ứng phù hợp của thành tựu so với tiêu chuẩn
hoặc chuẩn mực đồng thời tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa. Khi
phát hiện những sai lệch của thành tựu so với tiêu chuẩn/ chuẩn mực đề ra,
các nhà quản lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt
động của từng cá nhân thành viên hay các nhiệm vụ - hoạt động của một bộ
phận nào đó trong tổ chức, hoặc là sửa đổi các chuẩn mực của thành tựu nếu
thấy chúng không thể thực hiện được. Kiểm tra là một chức năng quản lý
thông qua đó một cá nhân, tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động,
và tiến hành các hoạt động sửa chữa, điều chỉnh cần thiết. Một kết quả hoạt
động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến
hành điều chỉnh, uốn nắn. Đó chính là quá trình tự điều chỉnh diễn ra mang
tính chu kỳ. Người quản lý đặt ra các chuẩn mực thành đạt của hoạt động;
người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt đó so với các chuẩn
20
mực đã đặt ra; người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; người quản
lý có thể hiệu chỉnh sửa lại các chuẩn mực nếu thấy cần.
Bốn chức năng cơ bản của quản lý có quan hệ mật thiết hữu cơ với
nhau, biện chứng với nhau, cả bốn chức năng trên đều được triển khai khi tiến
hành các hoạt động quản lý.
cao đối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý các quá trình giáo
dục – đào tạo, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tổ chức sư phạm và các
điều kiện khác của lao động, của giáo viên và học sinh.
Quản lý trực tiếp trường học bao gồm quản lý quá trình dạy học, giáo
dục, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục. Nhà
quản lý ở mỗi loại hình nhà trường. Ở mỗi bậc học sẽ phải đảm bảo vấn đề
cốt yếu đó là: xác định mục tiêu quản lý của nhà trường, xác định cụ thể các
mục tiêu quản lý.
Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý:
Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm
định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát
triển.
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ
chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động. tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra để nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hóa trong kế
hoạch năm học, những mục tiêu này là các nhiệm vụ chức năng mà tập thể
nhà trường thực hiện suốt năm học. Trên cơ sở hoạch định các mục tiêu
một cách cụ thể, quản lý nhà trường phải cụ thể hóa cho từng mục tiêu.
Những nội dung này là sức sống cho mục tiêu, là điều kiện để mục tiêu trở
thành hiện thực.
22
Hiện nay các nhà quản lý trường học quan tâm đến các thành tố mục
tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả, đó là các thành tố
trung tâm của quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm
bảo cho một chất lượng tốt trong nhà trường.
Các nghiên cứu về tổ chức trường học đã khái quát những nhân tố cấu
trúc cần quan tâm khi tổ chức nhà trường như dưới đây.
Nhóm nhân tố thứ nhất:
Mục tiêu đào tạo (M) chịu sự quy định của mục tiêu phát triển kinh tế
kiến thức, hình thành những kỹ năng tương ứng, những thái độ cần thiết và
được đo bằng các chuẩn mực xác định.
1.2.5. Quản lý hoạt động liên kết đào tạo
+ Quản lý cơ sở vật chất(CSVC) và các nguồn lực tạo nên sự vận
hành và phát triển hoạt động liên kết đào tạo theo quy định của pháp luật.
+ Xây dựng, củng cố các cơ cấu cần thiết giữa các bên tham gia liên
kết và các lực lượng hữu quan có điều kiện tham gia trực tiếp vào tất cả các
hoạt động liên kết.
24
M : Mục tiêu đào tạo.
N : Nội dung đào tạo.
P : Phương pháp ĐT.
Th : Thày – Lực lượng đào tạo.
Tr: Trò – Đối tượng đào tạo.H : Hình thức đào
tạo.
Đ : Điều kiện đào tạo.
Mô : Môi trường ĐT.
Bô : Bộ máy đào tạo.
Qi : Quy chế đào tạo.
Đ
Quả
n
lý
H
M
Bô
Th
Tr
Mô
Qi
25