Quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Bình - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LOAN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO Ở
TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Trọng Hậu

HÀ NỘI – 2011 1
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Tên viết tắt
Tên đầy đủ
CBGVCNV
Cán bộ giáo viên công nhân viên
CSVC
Cơ sở vật chất
GDĐH
Giáo dục đại học
GD&ĐT
Giáo dục đào tạo
GDTX
Giáo dục thường xuyên
KH-CN
Khoa học – công nghệ
KH-KT
Khoa học –Kỹ thuật
KTXH
2
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Bước vào kỷ nguyên mới, trước những thách thức về sự cạnh tranh của
nền kinh tế toàn cầu, cùng với những biến đổi to lớn trong thế giới ngày nay
đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự phát triển về giáo dục. Đảng ta xác định
giáo dục là quốc sách hàng đầu, để nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ ngày càng cao không chỉ là nhiệm vụ của giáo dục chính
quy mà còn có phần đóng góp không nhỏ của các loại hình đào tạo khác nữa
như đào không chính quy, giáo dục thường xuyên, liên thông, liên kết. Muốn
thực hiện mục tiêu của GD&ĐT, thực hiện công bằng giáo dục và mọi người
được đi học, học thường xuyên và học suốt đời thì phải mở rộng các loại hình
đào tạo.

thuật Thái Bình.
4.Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực thi từng bước các biện pháp quản lý đối với các
hoạt động liên kết trên cơ sở lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại và phù hợp
với thực tiễn của địa phương Thái Bình thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo hệ liên kết ở Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở cơ sở
giáo dục đại học, cao đẳng.
5.2. Khảo sát thực trạng quản lý các hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao
đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình.
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao
đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.
6. Giới hạn đề tài

4
Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý
liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ
thuật Thái Bình. Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn là các số
liệu của Trung tâm tại chức nhà trường giai đoạn từ năm 2000 – 2011
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và phân tích các quan điểm lý luận thể hiện trong các văn
kiện của Đảng, văn bản của Chính phủ, nghiên cứu trên sách, báo chí, các tài
liệu chuyên môn liên quan đến nội dung của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chủ yếu là thu thập, xử lý các dữ liệu, tìm hiểu thực trạng. Các phương
pháp cơ bản: Phân tích, tổng hợp, đánh giá, nêu vấn đề và đề xuất những giải
pháp kết hợp với trao đổi, phỏng vấn, điều tra, thử nghiệm.

của các trường đại học với các tỉnh, thành trong cả nước. Đây là một bước đột
phá trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đại học tại chức, từ xa. Việc liên kết
này là một kinh nghiệm quý báu, thiết thực cần được tổng kết, phát huy và
nâng cao vai trò của các cơ sở đào tạo trong việc đào tạo, liên kết đào tạo với
nhiều hình thức học tập khác nhau.
Đại hội Đảng VI năm 1986, với đường lối đổi mới trong lĩnh vực Giáo
dục, nghị quyết đã chỉ rõ: " Phải bố trí hợp lý cơ cấu hệ thống giáo dục, thể
hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm nhiều hình thức đào tạo,
bồi dưỡng chính quy và không chính quy, tập trung, tại chức "
Hệ đào tạo đại học không chính quy với nhiều hình thức mới, tên gọi
mới như đại học mở, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn đã được mở ra. Từ
năm 1988 đến năm 1991 đã có 2 Viện đại học mở được thành lập ở Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh.

6
Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: " Hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên", " nhà nước có chính
sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập" [3].
Những năm gần đây, trong các báo, tạp chí thuộc chuyên ngành giáo
dục, tạp chí phát triển giáo dục, tạp chí dạy và học, báo giáo dục và thời đại,
trong các báo cáo tổng kết công tác giáo dục thường xuyên hàng năm của bộ
Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập tới công tác quản lý các lớp đại học hệ
liên kết.
Trong quá trình học tập tôi đã tham khảo một số luận văn cao học của
các khoá đào tạo tại trường như tác giả Đào Thị Lợi với đề tài " Những biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng các lớp đào tạo bậc Đại học theo hình
thức liên kết tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bắc Giang", tác giả
Nguyễn Khánh Thọ với đề tài " Biện pháp quản lý hệ vừa làm vừa học tại các
cơ sở liên kết đào tạo của trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, đề tài " Biện pháp

mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân tạo tiền đề
cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất, hiệu quả [14].
Như vậy có thể hiểu đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho học
sinh, sinh viên và người học để họ trở thành người công dân, người lao động
có chuyên môn và nghề nghiệp nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và
phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu nhân lực của xã hội trong một
giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình này diễn ra trong các cơ sở đào tạo như
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề,
trung tâm GDTX theo một kế hoạch, nội dung chương trình quy định cho
từng ngành nghề cụ thể, nhằm giúp người học đạt được một trình độ nhất định
trong hoạt động lao động nghề nghiệp.

8
1.2.2. Liên kết
Liên kết là "kết, buộc lại với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau" (từ điển
Từ và Ngữ Hán Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hoá -
Thông tin năm 2005( Nguyễn Như Ý chủ biên) thuật ngữ liên kết cũng được
định nghĩa là:" Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ
nhằm mục đích nào đó"[33]. Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ
chặt chẽ, ràng buộc, gắn kết lẫn nhau giữa các thành phần hướng đến một
mục đích chung nào đó. Tính hướng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực
của các mối liên kết giữa chúng.
Tiền nhân có câu " Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại lên hòn núi cao"
Sự liên kết giữa các tổ chức theo một lợi ích chung, giải quyết một vấn
đề chung tạo nên một sức mạnh mới, khả năng mới mà từng thành phần hoặc
tổ chức riêng rẽ không thể có. Tuỳ theo từng loại hình mà có các mối liên kết
bên trong hoặc bên ngoài của một tổ chức trong bối cảnh và môi trường kinh

khác và môi trường bên trong của mối liên kết giữa các đối tác ( các quan hệ
nội bộ, các điều kiện, đặc tính bên trong của từng đối tác )
1.2.3. Liên kết đào tạo
Trong xã hội hiện đại không có một tổ chức nào tồn tại mà không có
mối liên hệ, liên kết với các tổ chức kinh tế, xã hội khác.
Trong đào tạo, liên kết là hình thức phối hợp, hỗ trợ, tạo sự gắn bó chặt
chẽ với nhau giữa các cơ sở đào tạo hoặc giữa các cơ sở đào tạo với các đối
tác khác nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ sở đào tạo.
Năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã ban hành quyết định số
42/2008/QĐ-BGDĐT về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp,
cao đẳng, đại học [2]. Tại văn bản này liên kết đào tạo được hiểu là sự hợp tác

10
giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, cấp bằng tốt
nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
Đối với một tổ chức như nhà trường thì việc liên kết lại càng quan
trọng, mang lại hiệu quả rất lớn. Sự liên kết đào tạo phát huy được sức mạnh
tổng hợp về nguồn lực vật chất và trí thức, nó gắn kết giữa học và hành, bởi
ngay bản thân sản phẩm mà nhà trường tạo ra chính là nguồn lực cho xã hội.
Nguồn lực này có mặt trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Liên kết sẽ tạo
ra một sức mạnh mới, một chất lượng làm việc mới cho tổ chức.
1.2.4. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.4.1. Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ
đến phạm vi rộng lớn hơn, đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó.
Một cách hình ảnh C. Mác đã lột tả bản chất của quản lý và các hoạt
động lao động để điều khiển lao động. Ông đã nói: "Một người độc tấu vĩ cầm
thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng" để nêu bật lên sự tất
yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển

có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý[4].
Có thể nói: Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng của chủ thể
quản lý( người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý về mặt
chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật, chính sách,
nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều
kiện cho sự phát triển của đối tượng
Xét về bản chất, các định nghĩa trên về quản lý bao gồm những điều
chủ yếu sau đây: Quản lý là một loại hình hoạt động có đối tượng, là một
dạng hoạt động có chủ hệ thống, nhằm đạt được những mục đích nhất định.
Quản lý là thuộc tính tồn tại khách quan trong hoạt động con người. Quản lý
luôn đặt trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể

12
quản lý, trong sự tác động của môi trường. Cho nên " Quản lý phải đặt trong
điều kiện có sự thay đổi, bắt nguồn từ những biến động, mà cuộc sống thì
không bao giờ đứng yên" [18]
Ngày nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa cụ thế hơn: "Quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra"[9].
Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ
bản sau:
Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý.
Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ
nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy sinh
các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu
của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua
sự nỗ lực của người khác. Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ
thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục

quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt
mục tiêu chung.
1.2.4.2. Chức năng quản lý
Khi bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu
người quản lý phải làm những gì, hay nói cách khác là tìm hiểu các chức năng
quản lý. Để đạt được mục tiêu của tổ chức, người quản lý phải biết cách vận
dụng các chức năng quản lý. Trong thực tế tuỳ từng hoàn cảnh, từng đối
tượng mà vận dụng các biện pháp quản lý thích hợp. Tiềm năng của người
quản lý là biết lựa chọn biện pháp hữu hiệu áp dụng cho từng đối tượng,
người quản lý phải có lý trí sáng suốt và trái tim nhân hậu, phải có trình độ
chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý phong phú sao cho việc lựa chọn

14
biện pháp quản lý phù hợp với thực trạng đơn vị, tình huống quản lý và có
những bước đi thích hợp.
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản
lý: Theo Henri Fayol (1841- 1925) là một kỹ nghệ gia người Pháp, cống hiến
lớn nhất của Fayol là xuất phát từ các loại hình " hoạt động quản lý"ông là
người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản gồm: Kế hoạch hoá,
Tổ chức, Chỉ huy, Phối hợp và Kiểm tra [9,tr.31].
Viện sĩ V.G Afanaxiep của Liên Xô, một nhà lý luận quản lý xã hội đã
nêu 5 chức năng cơ bản của quản lý là: Xử lý và thông qua quyết định, tổ
chức, điều chỉnh, sửa chữa, kiểm kê và kiểm tra.
Các chức năng cơ bản của quản lý là sự nhóm gộp các hoạt động quản
lý trong mỗi công đoạn của quá trình đạt đến mục tiêu. Với những quan điểm
và thể hiện dưới dạng khác nhau về phân chia các chức năng quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc có thể phân
chia theo 4 chức năng cơ bản sau:
Kế hoạch hoá (Planning); Tổ chức (Organizing); Lãnh đạo-chỉ đạo
(Leading); Kiểm tra (Controling). Bốn chức năng cơ bản này liên quan chặt

Xuất phát từ ba loại mục tiêu trên có ba loại kế hoạch:
- Kế hoạch chiến lược: Là các bước hoạt động chi tiết được vạch ra để
đạt được mục tiêu chiến lược. Những kế hoạch này hướng vào những vấn đề
lớn như: cần phải hoạt động như thế nào để đáp ứng các điều kiện đang thay
đổi; cần phân phối nguồn lực như thế nào trong phạm vi toàn bộ tổ chức;
những hành động nào cần tiến hành để tạo nên một nỗ lực chung, thống nhất
và có sức mạnh trong toàn bộ tổ chức để có thể đạt được mục tiêu chiến lược.
Kế hoạch chiến lược thường có thời hạn từ 3 đến 5 năm cho một tổ chức và
dài hạn hơn 10 năm hoặc 15 năm cho một ngành hoặc một quốc gia, kế hoạch
chiến lược được xây dựng ở cấp quản lý cao nhất.

16
- Kế hoạch trung hạn (giai đoạn): Là những cách thức được vạch ra để
hỗ trợ cho việc triển khai kế hoạch chiến lược cũng như đạt được các mục tiêu
trung hạn cụ thể. Kế hoạch này có thời hạn từ 1 đến 3 năm cho một tổ chức,
từ 3 đến 5 năm cho một ngành hoặc một quốc gia, kế hoạch này được xây
dựng bởi cấp quản lý trung gian.
- Kế hoạch tác nghiệp: Là các biện pháp được hoạch định để triển khai
kế hoạch chiến thuật và đạt được mục tiêu tác nghiệp. Nói chung loại kế
hoạch này có thời hạn dưới một năm, thậm chí thời hạn tính theo tháng, tuần,
ngày và do cấp quản lý thấp nhất xây dựng.
Để phân biệt các loại kế hoạch cần dựa vào các tiêu chí sau: khung thời
gian, phạm vi, độ phức tạp và ảnh hưởng, tính độc lập tương đối.

Bảng: 1.1. Tám lĩnh vực cần quan tâm khi xác định mục tiêu chiến lược
(tác giả Drucker đề xuất)
Tám lĩnh vực cho tổ chức sinh lời
Tám lĩnh vực cho tổ chức không sinh lời
1. Thị phần cần chiếm lĩnh
2. Sự đổi mới về sản phẩm và

tác dụng đến hoạt động của tổ chức.
Bước 3: Phân tích môi trường
Cần làm rõ cách thức mà những biến đổi về môi trường chính trị pháp
lý, văn hoá, xã hội, kinh tế có thể ảnh hưởng gián tiếp đến tổ chức đồng thời
xác định những ảnh hưởng trực tiếp của các tổ chức, các cơ quan, chính
quyền, các đoàn thể xã hội khác
Bước 4: Phân tích nguồn lực
Mục tiêu và chiến lược của tổ chức cũng là điều kiện để phân tích các
nguồn lực của nó. Từ việc phân tích này cần làm rõ những ưu thế, mặt mạnh,
mặt yếu của tổ chức.
Bước 5: Xác định vận hội và nguy cơ có tính chiến lược
Tổ chức nào cũng luôn luôn phải đối đầu với những vận hội và nguy
cơ, những yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Những vận hội là những khả năng khách quan và chủ quan thúc đẩy tổ chức
phát triển, những nguy cơ đến từ bên trong hoặc bên ngoài luôn đe doạ sự tồn
tại cũng như sự hưng thịnh của tổ chức.
Bước 6: Xác định việc mở rộng những biến đổi có tính chiến lược
Bước 7: Ra quyết định chiến lược
Bước 8: Triển khai chiến lược
Bước 9: Đo lường và kiểm tra những tiến bộ

18
Trong khi chiến lược đang tiếp diễn người quản lý cần tiến hành kiểm
tra những tiến bộ của việc triển khai chiến lược định kỳ hoặc kiểm tra ở
những giai đoạn then chốt. Việc kiểm tra cần trả lời được câu hỏi là chiến
lược có được triển khai theo kế hoạch hay không? Chiến lược đang triển khai
có đạt hiệu quả mong muốn hay không?
Chức năng tổ chức (Organizing)
Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những
ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy tổ chức đã hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người nào đó đứng ra lãnh đạo, dẫn
dắt tổ chức làm sao cho các thành viên, các bộ phận hoạt động đồng bộ, đồng
thời động viên cổ vũ họ hoàn thành kế hoạch. Đây chính là quá trình chỉ đạo
hay tác động vào các thành viên của tổ chức cần tập trung vào các ưu tiên sau:
Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh
của hệ thống.
Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (gồm phân tích các
mâu thuẫn quá trình phát triển), phát hiện ra nhân tố mới.
Tổng kết được quy luật, tính quy luật xu thế phát triển của hệ thống.
Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống.
Chức năng kiểm tra (Controling)
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến
hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa đi đến hoàn thành kế hoạch, đạt
được mục tiêu, thích ứng với môi trường, đảm bảo tính khả thi và tính thực
tiễn của kế hoạch, tiến tới hoàn thành mục tiêu, mục đích của tổ chức trong
môi trường biến đổi.

20
Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác
định những chuẩn mực ( tiêu chuẩn) của thành tựu khi đối chiếu với các mục
tiêu đã được kế hoạch hoá; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh
thành tựu hiện thực với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc nếu
có và đo lường ý nghĩa, mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần
thiết để đảm bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách
hiệu nghiệm và hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Tác giả Rorbert J. Mockler chia kiểm tra thành bốn bước:
Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương hướng đo lường thành
tựu, các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan

nhất định trong từng giai đoạn, hay xuyên suốt thời gian – không gian và ở đó
tồn tại những đối tượng điều khiển được và cả những đối tượng không điều
khiển được.
1.2.4.3 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1ển được.
Theo Trần Khánh Đức quản lý nhà trường (cơ sở giáo dục) là một bộ
phận trong quản lý giáo dục. Trường học là tổ chức giáo dục mang tính chất
nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo, thực hiện chức
năng giáo dục cho thế hệ đang dần lớn lên. Nhà trường là tế bào cơ sở, là đối
tượng quản lý của tất cả các cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến các địa
phương. Đồng thời nhà trường lại là một tổ chức giáo dục có tính độc lập
tương đối và tự quản của xã hội. Do đó quản lý trường học nhất thiết phải có
tính nhà nước, tính xã hội và tính sư phạm [13].
Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”
M.I.Kônđacốp đã viết: Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta
hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt. Hệ
thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của
chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự

22
vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của quá trình
dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành.
Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường chính là xây dựng
một quan hệ hợp lý giữa các hình thức công tác tập thể đối với các học sinh
và giáo viên. Do con đường giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm xúc về trí tuệ và
cảm xúc, do các tình huống trong đời sống nội tại, tâm hồn, đời sống tập thể
trong nhà trường có sự biến đổi liên tục. Tất cả những cái đó đặt ra yêu cầu
cao đối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý các quá trình giáo
dục – đào tạo, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tổ chức sư phạm và các
điều kiện khác của lao động, của giáo viên và học sinh.
Quản lý trực tiếp trường học bao gồm quản lý quá trình dạy học, giáo

Phương pháp đào tạo (P) được hình thành từ thành quả của khoa học
giáo dục và quy định bởi mục tiêu, nội dung giáo dục.
Nhóm nhân tố thứ hai:
Lực lượng đào tạo (Người dạy – Th) trong mối quan hệ với lao động
xã hội của đất nước và cộng đồng.
Đối tượng đào tạo (Người học – Tr) trong mối quan hệ với dân số học
đường (các độ tuổi tương ứng với cấp học, bậc học).
Nhóm nhân tố thứ ba:
Hình thức tổ chức đào tạo (H).
Điều kiện đào tạo (Đ).
Môi trường đào tạo (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội)-Mô.
Bộ máy đào tạo (Bô).
Quy chế đào tạo(Qi).
Có thể bố trí mười nhân tố trên trong một hình sao (để dễ hình dung)
mà nút bấm quản lí ở trung tâm ngôi sao (sơ đồ 1.1). Quản lí liên kết các nhân
tố làm cho chúng vận động tạo ra sự phát triển toàn vẹn của quá trình đào tạo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status