Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ THANH THUÝ

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

Cán bộ hướng dẫn: PGS-TS Bùi Văn Quân

HÀ NỘI – 2008
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập 2
và ý chí vươn lên” Như vậy có thể nói “ coi trọng tự học” là một vấn đề chiến
lược trong giáo dục- đào tạo ở nước ta hiện nay.
Theo xu hướng phát triển chung, Việt nam đang trong quá trình xây dựng
một xã hội học tập; tạo môi trường và động lực để mỗi thành viên trong xã hội có
thể học tập suốt đời.Do đó tự học trở thành điều kiện thiết yếu để mỗi cá nhân
phát triển hài hoà trong xã hội hiện đại.
“Tự học” được hiểu theo nhiều cách khác nhau song ở đây chúng ta chưa
dám bàn tới vấn đề “ tự động học tập” “ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo” mà chỉ đi sâu vào vấn đề “ Tự học theo kế hoạch giảng dạy và học tập
của nhà trường” .Tự học gắn với qui trình học giảng dạy, có kiểm tra đánh giá
theo từng giai đoạn học tập và đánh giá chung cho toàn bộ quá trình học tập.
Lâu nay ở nhà trường, chúng ta đã quan tâm hướng dẫn các em tự học, học
tập một cách chủ động. Song sự chuyển biến trong cách học của các em tuy có
tiến bộ nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Các em vẫn chưa quan tâm đúng mức
đến việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự củng cố, tự trau dồi kiến thức mặc dù đã có
nhiều sách tham khảo về vấn đề này.Tình trạng trên phản ánh công tác quản lý
dạy- học ở các trường học nói chung và trường Cao đẳng nói riêng chưa được tốt.
Là một trường trực thuộc tỉnh Thái bình, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ
thuật trong những năm qua đã cố nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng
đào tạo.Nhà trường đã có nhiều đổi mới trong hoạt động Dạy và Học nhưng chất
lượng học tập của sinh viên còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày
càng cao của thị trường lao động. Sinh viên chưa có phương pháp và kỹ năng học
tập ở bậc Cao đẳng đại học nên khả năng tư duy, tự nghiên cứu tìm tòi kiến thức
còn yếu, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
sánh tạo, nâng cao năng lực tự học cho sinh viên chưa được thực hiện đồng bộ,
chưa thường xuyên; công tác quản lý, tổ chức của trường đối với hoạt động tự

nâng cao kết quả của hoạt động tự học và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
tại Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái bình.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay hoạt động tự học của sinh viên Trường cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
Thái bình còn nhiều hạn chế. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan. Nguyên nhân chủ quan là do sinh viên thiếu ý chí và nỗ lực; nguyên
nhân khách quan là do công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên còn chưa 4
đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tự học của sinh viên . Nếu đề xuất và áp
dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh bao quát từ việc kế
hoạch đến tổ chức , kiểm tra( bao quát được động cơ nội lực của sinh viên, môi
trường và có sự định hướng quản lí) thì chất lượng hoạt động học tập của sinh
viên sẽ được nâng cao và mục tiêu của nhà trường sẽ được thực hiện tốt hơn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận : Nghiên cứu, phân tích tổng hợp
những tư liệu như tư liệu về giáo dục học- tâm lý học, lý luận về quản lý giáo
dục, các văn bản về sinh viên.Tham khảo Luật giáo dục, các văn kiện của Đảng
và nhà nước, tạp chí khoa học và giáo dục có liên quan đến luận văn.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát, điều
tra, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia. Phân tích tổng hợp, đánh giá
bằng phương pháp toán học thống kê.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt
động tự học của sinh viên.
- Phạm vi khảo sát: 3 lớp Cao đẳng khoá 6 đang theo học ngành Kế toán
của Trường. ( 200 sinh viên đang học năm thứ 2).
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài làm sáng tỏ vai trò của công tác quản lý hoạt động tự học của sinh

Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) rất quan tâm đến việc kính thích
sự suy nghĩ, sáng tạo của học trò. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra
chân lý. Theo ông, thày giáo chỉ tìm ra cho học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi
vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra, người thầy giáo không được làm thay
hết cho học trò. Ông đã từng nói với học trò của mình rằng: “ Bất phẫn, bất phải,
bất phi, bất phát.Cứ bất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tác bất phục dã” (Không
giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không
bầy vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc kia thì
không dạy nữa”.( luận ngữ) [13, tr.55].
Mạnh Tử đòi hỏi người học phải tự suy nghĩ, không nên nhắm mắt theo
sách. “Tận tín thư bất như vô thư” (Tin cả ở sách thì chi bằng không có sách).
Người học phải cố gắng tìm hiểu. [13, tr.55] 6
Socrate (469-390 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự
biết lấy anh” qua đó ông muốn học trò phát hiện ra „chân lý‟ bằng cách đặt câu
hỏi để dần dần tìm ra kết luận [13, tr.55].
J.A. Comenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại, người đặt
nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, nhà giáo dục lỗi lạc của
Slovakia và nhân loại cũng đã nêu ra các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy
trong tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” nhằm phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh và ông cương quyết phản đối lối dạy học áp đặt giáo điều làm cho
học sinh có thói quen không tự giác trong học tập .Theo ông , dạy học phải làm
thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy
tri thức.Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập
trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực
tiễn”.[13,tr.56]
Thế kỷ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J. Rousseau (1712-
1778); Pestalogie (1746-1827); Distecvec (1790-1866); Usinxki (1824-1873)

quá trình “Nhận biết dạy - học” và ông chủ trương rằng người học phải là người
tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học”. Ông cho rằng: “Sự học tập
do người học chủ đạo” [23, tr.110]. Trong hệ thống dạy học, người học vừa là
chủ thể vừa là mục đích của quá trình học tập. “Vị trí của người học ở trung tâm
hay ngoại biên là nét đặc trưng phân biệt hệ thống giáo dục này với giáo dục
khác”. [23, tr.111].
Trong dự thảo báo cáo về con người của thế kỷ 21, các Nhà giáo dục và nhân
văn Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á đều có quan điểm thống nhất: xem thái độ
học tập và kỹ năng ứng dụng của giới trẻ đang diễn biến ra sao. Tuỳ theo đồ thị
tăng trưởng ấy như thế nào, sẽ biết được diện mạo của lớp trẻ trong tương lai và
cả gương mặt của xã hội ngày mai. Trong đó các tác giả đã đưa ra bốn thái độ
học tập và mười kỹ năng ứng dụng học vấn vào đời sống xã hội, một trong mười
kỹ năng đó là: Kỹ năng Tự học, tự nâng cao trình độ cá nhân trong mọi tình
huống. [13, tr.4] 8
Như vậy vấn đề tự học của học sinh - sinh viên đã được nghiên cứu từ rất sớm
trong lịch sử giáo dục và nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu
giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định
mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng
của mọi quá trình giáo dục đào tạo.

1.1.2.Ở Việt Nam
Ở Việt nam, trong công cuộc đổi mới nền kinh tế – xã hội của đất nước, đã
đặt ra những yêu cầu mới cho Giáo dục, đòi hỏi phải đổi mới Giáo dục. Một
trong những phương hướng đổi mới đó là đổi mới phương pháp dạy học. Trong
những năm gần đây chúng ta nói nhiều đến phương pháp dạy học tích cực, lấy
người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, độc lập,
tự chủ, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với

học là dạy cách học cho học viên, trang bị cho họ những phương pháp và kỹ năng
tự học, thói quen học suốt đời, làm cho họ trở thành những thành viên nòng cốt
của “Xã hội học tập” ”
Trong khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu rất công phu về vấn đề
tự học, như: “Quá trình dạy – tự học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn,Vũ Văn Tảo
[25]; “Luận bàn về kinh nghiệm tự học” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [24] và
nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các Giáo sư, các nhà giáo dục học như
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên
Trong nhiều năm gần đây có khá nhiều Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục đã
đề cập nhiều đến khía cạnh hoạt động tự học và các biện pháp quản lý, tổ chức
hoạt động tự học của người học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào
tạo.
1.2. Hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng.
1.2.1. Khái niệm về sinh viên cao đẳng
Sinh viên là người học ở các cơ sở giáo dục đại học.Giáo dục đại học đào tạo
hai trình độ: cao đẳng và đại học. Như vậy sinh viên cao đẳng là người học ở cơ
sở giáo dục đại học theo trình độ đào tạo cao đẳng, thi tốt nghiệp( có bằng tốt
nghiệp cao đẳng) được gọi là cử nhân cao đẳng. Sinh viên là những người đến
trường để học một cái gì đó và không bao giờ ngại bỏ công sức để theo đuổi tri
thức.Một sinh viên hiện đại là ngoài chuyên môn của mình, phải học để biết cả 10
các chuyên ngành khác, bất kỳ một chuyên ngành nào mà mình thích là học. Một
sinh viên phải biết định hướng trong học tập để đáp ứng với yêu cầu của xã
hội.Một sinh viên đã đang và sẽ luôn là người học hỏi về cuộc sống, hành vi ứng
xử, nhu cầu, hy vọng, thành công hay thất bại của con người từ bắt đầu của lịch
sử đến thời điểm hiện tại như một câu nói: “ Hãy nghĩ về nguồn gốc của bạn, bạn
không được tạo ra để sống chỉ như một động vật, mà là để theo đuổi những phẩm
chất và kiến thức”.Đó cũng là vận mệnh của con người: học và học mãi, cố

và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc
lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa Để giải đáp các câu hỏi này,
khả năng nhận thức, đánh giá cũng như khả năng thực tiễn của mỗi cá nhân rất
khác nhau, thể hiện đặc biệt rõ khoảng cách giữa sự phát triển tự phát và sự. phát
triển có hướng dẫn của giáo dục với nghĩa rộng của khái niệm này. Ở nước ta
hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít thanh niên chưa
xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét và
do đó cũng không thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thề. Hiện
tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi
thành niên chưa chín muồi, mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong
giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội (thông qua các ấn phẩm sách báo,
văn hóa, nghệ thuật ).Sự hướng dẫn, giảng giải, giúp đỡ bằng các biện pháp cụ
thể, phù hợp của các thế hệ đi trước sự giúp thanh niên đạt đến "miền phát triển
gần" mà L.X. Vưgốtxki đã phát hiện ra.
1.2.3. Khái niệm về tự học
Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân
người học: có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập
mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy
sáng tạo.Nói cách khác, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các khả
năng trí tuệ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp( khi sử
dụng công cụ thực hành) cùng các phẩm chất cá nhân như động cơ, tình cảm,
nhân sinh quan( trung thực khách quan, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng
say mê khoa học, ý chí muốn thành đạt, biến khó khăn thành thuận lợi,….) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở
hữu của riêng mình. 12
Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí
óc để chiếm lĩnh kiến thức, một hình thức không thể thiếu được của sinh viên

Như vậy tự học có nghĩa là tự giác, chủ động chiếm lĩnh tri thức với niềm say
mê, hứng thú đặc biệt.Đối với học sinh sinh viên tự học để rèn luyện tư duy độc
lập, nâng cao khả năng phát hiện tìm tòi, khả năng khám phá thế giới xung
quanh.Thực tế đã chứng minh rằng hầu hết những nhà khoa học lớn, những danh
nhân văn hoá tầm cỡ thế giới đều trưởng thành từ con đường tự học.Bác Hồ của
chúng ta cũng là một tấm guơng sáng về tinh thần tự học suốt đời.
1.2.4. Các hình thức tự học của sinh viên cao đẳng
Hoạt động tự học diễn ra nhiều hình thức khác nhau:
Hình thức thứ nhất: Hình thức học với sự điều khiển trực tiếp của giáo
viên.
Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp của thầy
và các phương tiện kỹ thuật trên lớp, ở đây người học là chủ thể nhận thức tích
cực. Họ phải phát huy những năng lực và các phẩm chất cá nhân như óc phân
tích, tổng hợp, khái quát và khả năng tập trung, chú ý để tiếp thu tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo mà người dạy truyền đạt cho. Hình thức này bao gồm : Xemina,
thảo luận theo nhóm.
Hình thức thứ hai: Hình thức học với sự điều khiển gián tiếp của giáo viên
Tự học diễn ra khi không có sự điều khiển trực tiếp của thầy, hình thức này
người học phải tự sắp xếp thời gian, kế hoạch và điều kiện cơ sở vật chất, năng
lực bản thân để tự học, củng cố, đào sâu tri thức hoặc tự hình thành kỹ năng, kỹ
xảo về một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của chương trình đào tạo của nhà
trường. Hình thức này gồm: đọc sách, đọc bài giảng, nghiên cứu giáo trình, tài
liệu tại ký túc xá, tại nhà; làm bài tập, chuẩn bị bài cho thảo luận, xemina.
Hình thức thứ ba: Người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn nhu cầu
nâng cao hiểu biết của riêng mình, bổ xung, mở rộng tri thức ngoài chương trình
đào tạo của nhà trường. Đây là hình thức tự học ở mức độ cao. Hình thức này
gồm: Đọc sách tại thư viện, làm đề tài nghiên cứu khoa học.
Như vậy, tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học
cách học, cách tư duy. Năng lực tự học là nội lực phát triển bản thân người học.
Thầy dạy, cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy. Tác động dạy của thầy là ngoại

“hệ thống hoá” cũng là một nội dung của “cách học”Tuy nhiên ở nhà trường
chúng ta, việc “hệ thống hoá” lại chủ yếu do thầy làm, còn học trò chỉ tiếp nhận
một cách thụ động. 15
b.Yếu tố quản lý:
Các trường học chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích, động viên việc “tự
học”.Các kì thi của chúng ta chưa thử thách khả năng “tự học”.Ta có chính sách
khen thưởng người học giỏi nhưng chưa có chính sách khen thưởng những người
tự học giỏi mà trái lại còn phân biệt đối xử với những người có bằng không chính
qui.
Trong nhà trường, hoạt động “ tự học” của sinh viên bị ảnh hưởng cụ thể bởi
các yếu tố: cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh sinh viên, cơ sở vật chất, chương
trình các môn học……
c.Một số yếu tố khác
* Hoạt động Dạy: Đây là một hoạt động nhằm tác động đến người học và quá
trình học tập của họ để hình thành và phát triển hoạt động học tập của họ. Hoạt
động dạy phải nhằm đạt tới các mục đích: làm cho người học muốn học, biết học,
học cách bền bỉ thường xuyên liên tục, học cách thành công và lành mạnh.
Do vậy nếu như người dạy có kiến thức chuyên môn giỏi, phương pháp giảng
dạy tốt, biết cách khơi dậy và phát huy tính sáng tạo và tự học trong sinh viên thì
kết quả học tập của người học sẽ tốt và ngược lại.
* Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập.
Hoạt động học tập cũng đòi hỏi nhà trường phải trang bị đầy đủ các loại tài
liệu, giáo trình để sinh viên có thể tự nghiên cứu hoặc nghiên cứư với sự hướng
dẫn của giáo viên, đồng thời cũng cần phải có các phòng học tiện nghi, đủ điều
kiện để sinh viên có thể học tập tốt.
1.3. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, quản lý hoạt động tự học
1.3.1. Khái niệm, chức năng quản lý

không bao giờ đứng yên”[10]
Ngày nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa cụ thể hơn: “Quản lý là
quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động( chức
năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”[7]
1.3.1.2 Các chức năng quản lý
Khi bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu
người quản lý phải làm những gì, hay nói cách khác là tìm hiểu các chức năng
quản lý. Để đạt được mục tiêu của tổ chức, người quản lý phải biết cách vận dụng
các chức năng quản lý. 17
Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý:
Tác giả Henri Fayol: xuất phát từ các loại hình “hoạt động quản lý” ông là
người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản gồm: Kế hoạch hoá,
Tổ chức, Chỉ huy, Phối hợp và Kiểm tra.
Viện sĩ V.G Afanaxiep của Liên Xô, một nhà lý luận quản lý xã hội, nêu 5
chức năng cơ bản là: Xử lý và thông qua quyết định, tổ chức, điều chỉnh, sửa
chữa, kiểm kê và kiểm tra.
Tác giả Hà Sĩ Hồ đề xuất các chức năng sau: Soạn thảo và ra quyết định, tổ
chức thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện quyết định và tổng kết.
Các chức năng cơ bản của quản lý là sự nhóm gộp các hoạt động quản lý
trong mỗi công đoạn của quá trình đạt đến mục tiêu.
Với những quan điểm và thể hiện dưới dạng khác nhau về phân chia các chức
năng quản lý, song hoạt động quản lý có thể phân chia theo 4 chức năng cơ bản
sau:
Kế hoạch hoá( Planning); Tổ chức( Organizing); Chỉ đạo( Leading); Kiểm tra(
Controlling). Bốn chức năng cơ bản này liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành
một chu trình quản lý. Chúng đều cần đến thông tin.
Chức năng kế hoạch hoá bao gồm: Xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và

những điều chỉnh cần thiết.
Chức năng chỉ đạo là những việc hướng dẫn làm sao cho các thành viên,
các bộ phận hoạt động đồng bộ; động viên, cổ vũ họ hoàn thành kế hoạch.Đây là
chức năng quan trọng vì nó phát huy được chức năng kế hoạch hoá và chức năng
tổ chức.
Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:
Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của
hệ thống.
Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (gồm phân tích các
mâu thuẫn quá trình phát triển), phát hiện ra nhân tố mới.
Tổng kết được quy luật, tính quy luật xu thế phát triển của hệ thống.
Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống.
19
Chức năng kiểm tra là việc đánh giá hoạt động và tiến hành những hoạt
động uốn nắn, sửa chữa đi đến hoàn thành kế hoạch, đạt được mục tiêu, thích ứng
với môi trường, đảm bảo tính khả thi và tính thực tiễn của kế hoạch, tiến tới hoàn
thành mục tiêu, mục đích của tổ chức trong môi trường biến đổi.
Kiểm tra- trong hoạt động quản lý- là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác
định những chuẩn mực( tiêu chuẩn) của thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu
đã được kế hoạch hoá; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành
tựu hiện thực với các chuẩn mực đẫ định; xác định những lệch lạc nếu có và đo
lường ý nghĩa/ mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm
bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu nghiệm và
hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Tác giả Rorbert J. Mockler chia kiểm tra thành bốn bước:
Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu, các
tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội

cách người học sinh trong hoạt động và bằng hoạt động; bằng sự cộng tác, hợp
tác liên nhân cách giữa các thành viên trong nhà trường với nhau và với xã hội.
Các nguyên tắc cơ bản của quản lý giáo dục là những yêu cầu, những qui
định chung nhất, cơ bản, phổ biến nhất chi phối hoạt động của hệ thống quản lý
giáo dục, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý. Các nguyên tắc đó là:
Quán triệt đường lối chính trị trong quản lý giáo dục
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý giáo dục.
Thực hiện nguyên tắc khoa học trong quản lý giáo dục.
Thực hiện nguyên tắc tính hiệu quả trong quản lý giáo dục.
Các nguyên tắc này là cơ sở của việc hình thành các phương pháp quản lý,
chúng qui định cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý,
nhằm đảm bảo tính hiệu quả và chất lượng quản lý.Các nguyên tắc này liên hệ
chặt chẽ với nhau, bổ xung lẫn nhau.
Hệ thống Giáo dục là một hệ thống xã hội.QLGD cũng chịu sự chi phối
các qui luật xã hội và tác động của quản lý xã hội.QLGD có những đặc trưng chủ
yếu sau đây: 21
Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên QLGD
phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như
không được phép tạo ra phế phẩm.
QLGD nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác biệt
giữa đặc thù lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung.
Trong QLGD, các hoạt động hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp
chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời. Tạo thành
quản lý thống nhất.
QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính
liên tục, tính kế thừa, tính phát triển…
Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, QLGD phải quán triệt quan điểm

nhà trường. QLGD được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình dạy học, là bộ phận cấu
thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của một nhà trường.Do đó, QLGD là
bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường.QLGD là do nhà
trường tổ chức, quản lý, chỉ đạo nhưng nó quan hệ tương tác, liên thông với các
tổ chức GD&ĐT khác hoặc các tổ chức, cơ quan khoa học, kĩ thuật, công nghệ,
văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao mà học sinh có điều kiện tham gia hoạt
động.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cánh
mạng KHKT và công nghệ ngày nay, thì các mỗi quan hệ đó là điều kiện thuận
lợi cho việc quản lý quá trình Giáo dục cũng như để nâng cao chất lượng và hiệu
quả Giáo dục của nhà trường.Vì vậy, đối tượng của QLGD có thể coi là một hệ
thống xã hội, bao gồm 4 thành tố:
- Tư tưởng( quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ, nội dung, phương
pháp, tổ chức dạy học- Giáo dục….)
- Con người ( cán bộ, giáo viên, học sinh sinh viên….)
- Hoạt động dạy, học.
- Vật chất ( quản lý nhà trường, phòng học, phòng thí nghiệm, máy móc,
trang thiết bị, nguyên vật liệu…)
Như vậy khi nói đến quản lý con người, quản lý quá trình hoạt động dạy,
học hay quản lý vật chất là quản lý nội dung của hoạt động tương tác với từng
nhiệm vụ quản lý ở các đối tượng quản lý. 23
c) Chức năng , nhiệm vụ của quản lý giáo dục.
+/ Chức năng của QLGD: QLGD cũng có những chức năng cơ bản của quản lý
nói chung, theo sự thống nhất của đa số các tác giả có 4 chức năng: lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
* Lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động

trong hoạt động của mình.Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ
ràng.Thậm chí có chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá
trình đó.
+/ Nhiệm vụ của Quản lý Giáo dục:
Chúng ta biết rằng, hệ thống Giáo dục luôn luôn vận động phát triển theo
qui luật chung của sự phát triển KT-XH và chịu sự qui định của KT-XH.Do đó
QLGD cũng phải luôn đổi mới đảm bảo sự thích ứng của Giáo dục đối với sự
vận động và phát triển chung của xã hội. Nếu hệ thống Giáo dục được tổ chức,
quản lý hợp lý, vận hành đúng, tính năng động của Giáo dục sẽ ngày càng tác
động trở lại một cách tích cực với sự phát triển chung và sẽ đóng vai trò là động
lực giúp nền KT-XH phát triển mạnh mẽ, nhất là trong thời đại tri thức ngày nay.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, ngày nay công tác Giáo dục cũng
đã được định hướng rõ ràng, có nhiều chủ trương chính sách và biện pháp tốt,
giúp công tác quản lý có nhiều thuận lợi.Và trong “ Chiến lược phát triển Giáo
dục 2001- 2010”, chúng ta phải tập trung vào các nhiệm vụ sau:
“ Tạo bước chuyên biến cơ bản về chất lượng Giáo dục theo hướng tiếp
cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt nam, phục
vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước, của từng vùng, tùng
địa phương; hướng tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền Giáo dục nước ta
thoạt khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong
khu vực”
- Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng trong
nhân lực khoa học- công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và
công nhân kĩ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh
của nền kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập THCS.

Trích đoạn Quản lý nhà trường Tổ chức để sinh viờn rốn luyện cỏc kỹ năng phục vụ cho hoạt động tự học. Chỉ đạo giỏo viờn đổi mới phương phỏp dạyhọc theo hướng hỗ trợ cho KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status