Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ - Pdf 25


Đại học quốc gia hà nội
khoa s- phạm

Đặng Thanh H-ơng Các biện pháp quản lý hoạt động tự học
của sinh viên tr-ờng Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học quốc gia hà nội
đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục

đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục

Chuyên ngành: Qun lý giỏo dc
Mã số: 60 14 05 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Quốc Bảo Hà Nội - 2008 LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ và hướng dẫn của
tập thể giáo viên Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, bạn bè đồng nghiệp,
gia đình, với sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo Khoa
Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo và chuyên viên các phòng ban của
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã

6. Phạm vi nghiên cứu ………………………… 3
7. Phương pháp nghiên cứu ………………………… 4
8. Giới hạn của đề tài ………………………… 4
9. Cấu trúc luận văn ………………………… 4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1. Hoạt động tự học 7
1.2.2. Sinh viên 9
1.2.3. Quản lý 9
1.2.4. Học chế tín chỉ 14
1.3. Đặc trưng của việc tự học trong nhà trường Đại học 17
1.4. Quản lý dạy học theo học chế tín chỉ và sự thúc đẩy sinh viên có ý chí tự
học…………………………………………………………………………… 18
1.4.1. Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ 19
1.4.2. Quản lý dạy học theo học chế tín chỉ 20
1.5. Yêu cầu quản lý tự học theo học chế tín chỉ đối với sinh viên 29
1.5.1. Thực hiện đăng ký môn học của sinh viên có sự hướng dẫn cho sinh viên
chọn lựa môn học phù hợp nhu cầu - khả năng 30
1.5.2. Quản lý cung cấp học liệu phục vụ tự học theo môn học đăng ký ………… 31 1.5.3. Quản lý hoạt động của giảng viên, sinh viên ở trên lớp thực hiện sư phạm
cộng tác 32
1.5.4. Tổ chức đánh giá chất lượng học tập kịp thời 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 36
2.1. Tiến trình phát triển của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
trong Đại học Quốc gia Hà Nội……………………………………………………………………………. 36
2.1.1. Lịch sử phát triển 36

phương pháp/nội dung tự học theo học chế tín chỉ 72
3.2.4. Nhóm biện pháp 4: Tăng cường các điều kiện phục vụ tự học của sinh
viên 76
3.2.5. Nhóm biện pháp 5: Đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá thúc đẩy hoạt
động tự học của sinh viên để thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ
79
3.2.6. Nhóm biện pháp 6: Hoàn thiện công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận
liên quan hướng vào việc nâng cao kết quả hoạt động tự học của sinh viên theo
học chế tín chỉ 82
3.3. Thăm dò sự nhận thức về tính cần thiết, tính khả thi của các nhóm biện pháp
đã đề xuất 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1. Kết luận 88
2. Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BGD&ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
ĐHKHXH&NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đối với nước ta, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước đang là nhu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi chất
lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá. Trong xu
thế toàn cầu hoá kinh tế, vấn đề phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng xu
thế chuyển dần sang nền kinh tế tri thức đang được các nước ưu tiên. Trong
đó, lao động tri thức được coi là vốn nhân lực đóng vai trò hàng đầu của sự
phát triển kinh tế.
Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ bản nhất để thực hiện mục
đích của quá trình giáo dục tổng thể, trong đó tự học là phương thức cơ bản
để người học có được những hệ thống tri thức phong phú và thiết thực. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về việc “lấy tự học làm gốc” đã được nhân dân ta luôn
coi trọng. Điều 5 của Luật Giáo dục (2005) quy định “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học;
bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê
học tập và ý chí vươn lên”; “đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
- 2 - sinh, phát triển phong trào tự học, tự đào tạo ”; “tạo ra năng lực tự học sáng
tạo của mỗi học sinh”.
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đang trong cơ chế
chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ, điều này vừa đồng thời tạo ra vừa đòi hỏi một sự thay đổi
lớn về công tác quản lý đào tạo của Nhà trường. Đối với phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi là nhân
tố quan trọng, quyết định việc đẩy mạnh chất lượng đào tạo của trường. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy chất lượng đào tạo của trường chưa thực sự cao, chưa
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, điều này có thể do nhiều nguyên
nhân chủ quan, khách quan khác nhau, trong đó, các biện pháp quản lý có thể
là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo. Lý

5. Giả thuyết khoa học:
Nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên đáp ứng yêu cầu đào
tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là
điều cấp thiết. Nếu áp dụng đầy đủ, đồng bộ các biện pháp quản lý cùng với
sự đảm bảo điều kiện vật chất cần thiết thì hoạt động tự học của sinh viên khi
áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ đạt được hiệu quả mong
muốn, đảm bảo chất lượng đào tạo của Nhà trường, góp phần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực.
6. Phạm vi nghiên cứu:
- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu đã đặt ra, nội dung luận văn tập
trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, nơi tác giả đã và đang trực
tiếp làm việc.
- Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các biện
pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên theo học chế
tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong giai đoạn hiện
nay.

- 4 - 7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội, trên cơ sở thế giới quan khoa học
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương
pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp thống kê và phân tích số liệu
8. Giới hạn của đề tài:

chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập với phương hướng, con
đường thực hiện là kết hợp đến trường, giáo dục từ xa và tự học. Trong đó tự
học để trưởng thành là vô cùng quan trọng.
Một trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học
tập là tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “việc học không bao giờ là muộn”
(Ngạn ngữ), hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn). Quan
niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa
khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 - thế giới của nền kinh tế tri thức.
Nhằm đổi mới phương thức tổ chức đào tạo ở đại học trong điều kiện
Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sau Hội nghị Hiệu trưởng ở Vũng
Tàu năm 1988, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đã ban hành Qui chế tạm thời về quản lý đào tạo làm cơ sở cho
việc triển khai “qui trình đào tạo mới” theo học phần và sau một vài năm áp
dụng, qui chế này được chính thức hoá vào tháng 12 năm 1990.
Trên thế giới, đào tạo theo tín chỉ là một phương thức đào tạo không
mới. Nó ra đời vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, bắt đầu ở Đại học Harvard (Hoa
Kỳ) xuất phát từ quan niệm xem sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp
nhất cho mình, cũng như tư tưởng cho rằng đại học phải nhanh chóng thích
nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở
những tư tưởng đó, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard quyết định thay thế
hệ thống chương trình đào tạo cứng gắn với các lớp học cố định bằng hệ
- 6 - thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các modun mà mỗi sinh viên có
thể lựa chọn một cách phù hợp. Có thể xem sự kiện đó là mốc khai sinh hệ
thống tín chỉ. Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi trong
nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước cũng lần lượt áp
dụng hệ thống này như các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan,

không phải là một đề tài mới lạ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hoạt động tự học
trong học chế tín chỉ vẫn còn là vấn đề mới. Vì vậy trong luận văn này tác giả
tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh
viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học, nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường, theo học chế tín chỉ.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm
hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan đến đề tài.
1.2.1. Hoạt động tự học
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động học
Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
và những phương thức hành vi mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động
nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền vững. Để
lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách thức chiếm
lĩnh khác nhau. Đó có thể là do được người khác truyền thụ, do tự quan sát,
đúc kết từ lao động, môi trường sống… v.v.
Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và
nó diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc
qua lao động sản xuất, hoạt động vui chơi…, cách học này không có chủ định
dẫn đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ
thống. Ở người học chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm
mang lại.
Nhưng thực tiễn để có thể tự cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con
người thì đòi hỏi con người phải nắm được các quy luật của tự nhiên, xã hội
- 8 - và quy luật về sự hình thành, phát triển con người. Nói một cách khác, ngoài
việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra, con người cần phải

động mới bằng chính nỗ lực của bản thân mình. Tự học hình thành nên những
con người năng động sáng tạo.
1.2.2. Sinh viên
Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Student” có nghĩa
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó
được dùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh,
“Etudiant” trong tiếng Pháp và “Cmgenm” trong tiếng Nga. “Sinh viên” là để
chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo
học ở bậc phổ thông .
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người
bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh
viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học. (Từ điển Tiếng Việt, Nxb
Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 1977). Theo Quy chế
công tác HSSV trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: “
sinh viên” là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng.
Từ đó ta có thể hiểu : khái niệm "sinh viên" là những người đang học
tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu của xã hội.
1.2.3. Quản lý
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo
từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động. Quản lý
là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học
nghiên cứu quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa khác
nhau về quản lý. Chúng tôi sẽ trình bày dưới đây một số định nghĩa, quan
niệm về "Quản lý" của các nhà triết học, nhà khoa học quản lý như sau:
"Quản lý (cai trị) là công việc của các bậc đại nhân. Đó là biết tập hợp
quanh mình những người hiền". (Mặc Tử, Trung Hoa)
- 10 -

vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô hay
vi mô.
1.2.3.2. Chức năng quản lý
Tiến trình quản lý là một phức hợp những kỹ năng có tính hệ thống rất
sinh động và phức tạp. Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại
công việc khác nhau. Những loại công việc quản lý này gọi là các chức năng
quản lý. Như vậy, các chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý
khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được hình thành trong quá trình
chuyên môn hoá hoạt động quản lý. Có 4 chức năng cơ bản nhất đó là: lập kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
+ Chức năng lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức
phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được những
mục tiêu , nhiệm vụ đó. Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất
trong hệ thống chức năng quản lý theo giai đoạn, là cơ sở của các chức năng
còn lại. Để lập kế hoạch bao gồm có ba giai đoạn:
- Xác định các mục tiêu (phương hướng) cho tổ chức
- Nhận diện các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu đó
- Quyết định về những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu đã
đề ra.
+ Chức năng tổ chức:
Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng liên
kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống thống
nhất như một cơ thể sống. Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá trình,
những hoạt động trong hệ thống, thông qua đó để thực hiện các mục tiêu
chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý. Bằng cách thiết lập
một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp, điều phối
tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực.

- 13 - - Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều
chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn.
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai
đoạn với sự tham gia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và
quyết định. Trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý
đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Hình 1.1. Sơ đồ chức năng của quản lý
1.2.3.3. Vai trò quản lý
Quản lý có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Từ xa
xưa, vai trò của quản lý đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân
gian: “Một người biết lo bằng cả kho người hay làm”. Về sau Các Mác đã
khẳng định: “ Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực
hiện trên một quy mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản
lý”, và ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng
trong một dàn hợp xướng.
Các nhà lý luận về khoa học quản lý như Taylor (1856-1915) của Mỹ,
Fayol (1841-1925) của Pháp và Max Weber (1864-1920) của Đức đều khẳng

1.2.4. Học chế tín chỉ
1.2.4.1. Khái niệm tín chỉ
Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng qua việc tích luỹ
các kiến thức, kỹ năng khác nhau được đo lường bằng một đơn vị xác định,
căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của một sinh viên, gọi là
tín chỉ (credit).
- 15 - Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về giáo dục đại học có nhiều
định nghĩa khác nhau về tín chỉ. Theo định nghĩa của James Quann (Đại học
Quốc gia Washington): tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian
bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao
gồm: 1. thời gian lên lớp; 2. thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc
các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3. thời gian dành cho
đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các
môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà)
trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio
hay phòng thí nghiệm- ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà);
đối với việc tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần.
Quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt
nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ thì xác định: Tín
chỉ là đơn vị dùng để đo khối lượng kiến thức đồng thời là đơn vị để đánh giá
kết quả học tập của sinh viên dựa trên số lượng tín chỉ đã tích luỹ được. Mỗi
tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết. Để tiếp thu được 1 tiết học lý
thuyết, sinh viên cần ít nhất 2 tiết chuẩn bị cá nhân. Cứ 30 tiết thảo luận trên
lớp, bài tập thí nghiệm hoặc 45-60 tiết thực tập, kiến tập, làm tiểu luận, đồ
án, khoá luận tốt nghiệp được tính tương đương 1 tín chỉ [2].
1.2.4.2. Đặc điểm của học chế tín chỉ

hệ thống đào tạo theo niên chế. Theo GS. Lê Thạc Cán, nếu kế hoạch đào tạo
theo niên chế có thể ví như một tuyến đường đã được vạch sẵn cho tất cả sinh
viên (trong một khoá) đi theo trong suốt một khóa đào tạo thì kế hoạch đào
tạo theo học chế tín chỉ là một bản đồ học tập của một hệ thống các tri thức lý
luận và thực tiễn theo các ngành , chuyên ngành trên đó sinh viên có thể chọn
tuyến đi, cách đi, tốc độ đi tới mục đích của mình căn cứ vào mục đích, sở
thích, điểm mạnh, điểm yếu cụ thể. Lộ trình học tập này có thể giúp sinh viên
điều chỉnh tuyến đi lúc mục đích học tập của sinh viên thay đổi theo nguyện
vọng cá nhân, nhu cầu của thị trường nhân lực hoặc phát triển của khoa học
và công nghệ. Học chế này cho phép sinh viên có cơ hội linh hoạt chuyển đổi
- 17 - ngành học, tạo ra một “ngôn ngữ chung” giữa các trường Đại học, tạo điều
kiện cho việc chuyển đổi sinh viên giữa các trường trong nước và trên thế
giới, rất thuận lợi trong các chương trình đào tạo liên kết.
1.3. Đặc trƣng của việc tự học trong trƣờng Đại học
Hoạt động chủ đạo của sinh viên là hoạt động học tập. Nhưng so với
hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của sinh viên có nhiều
điểm khác. Trước hết hoạt động học tập của học sinh, sinh viên cũng là quá
trình nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí tuệ của
nhân loại. Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên
không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động nhận thức
mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở
mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn năng
lực cao. Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn gọi là hoạt động học tập
nghề nghiệp. Vốn học vấn tiếp thu được trong quá trình này hết sức quan
trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau
này và là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu.
Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông thì

chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng. Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học
tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến
hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư
duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Có nghĩa là, dưới vai trò chủ
đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn
mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức. Để có được những năng lực, khả
năng này, người học ở bậc đại học phải có cách học chủ động, khả năng tự
lực tìm kiếm và xử lí thông tin, năng lực tự học và khao khát sáng tạo. Do vậy
cũng có thể nói " học đại học là tự học".
1.4. Quản lý dạy học theo học chế tín chỉ và sự thúc đẩy sinh viên ý chí tự
học
Việc định lượng cụ thể và chính xác các nội dung yêu cầu tự học là vấn
đề rất phức tạp. Xét ở bình diện chung nhất, các yêu cầu của tự học là những
đòi hỏi, mục tiêu mà người học cần phải đạt được ở một mức độ nhất định.

Trích đoạn Lịch sử phỏt triển Chức năng, nhiệm vụ Nhúm biện phỏp 5: Đổi mới phương thức kiểm tra, đỏnh giỏ thỳc đẩy hoạt Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status