Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Đại học Y tế công cộng - Pdf 25



iv
MỤC LỤC
Ký hiệu viết tắt iii

Mục Lục iii

Mở Đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu: 3
4. Đối tượng nghiên cứu: 3
5. Các nhiệm vụ nghiên cứu: 3
6. Giả thuyết khoa học: 4
7. Phạm vi nghiên cứu: 4
8. Phương pháp nghiên cứu: 4
9. Cấu trúc của luận văn: 5

Chương 1: Cơ sơ lý luận về quản lý hoạt động dạy - tư học
6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học 6
1.1.1. Trên thế giới 6
1.1.2. ở Việt Nam 8
1.2. Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học 9
1.2.1. Hoạt động dạy-học 9
1.2.2 Hoạt động dạy - tự học 11
1.2.2.1. Khái niệm tự học 11
1.2.2.2. Hoạt động dạy - tự học: 13
1.2.3. Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ 17
1.2.4. Vị trí vai trò tự học của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học 18
1.3. Quản lý hoạt động tự học 20

sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69
2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69
2.4.4. Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên ở trường ĐHYTCC 71

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường đại
học y tế công cộng 73
3.1. Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học
ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường ĐHYTCC 73
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân
YTCC hệ chính quy trường ĐHYTCC 74
3.2.1 Nhóm biện pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức về vai trò và kỹ năng tự học
ngoại ngữ trong học tập, và công tác thuộc lĩnh vực YTCC 74 vi
3.2.2. Nhóm biện pháp thứ hai: Xây dựng động cơ tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử
nhân YTCC nhà trường. 76
3.2.3. Nhóm biện pháp thứ ba: Xây dựng và hoàn chỉnh nội quy, quy định hoạt động
tự học và tự học ngoại ngữ cho sinh viên: 77
3.2.4. Nhóm biện pháp thứ tư: Hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tự
học ngoại ngữ cho sinh viên 78
3.2.5. Nhóm biện pháp thứ năm: Tăng cường tổ chức thực hiện dạy- tự học ngoại
ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC 79
3.2.6. Nhóm biện pháp thứ sáu: Đảm bảo cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt
động tự học ngoại ngữ của sinh viên 82
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp 80

Kết luận và khuyến nghị 88

Cán bộ quản lý y tế
CLB
Câu lạc bộ
D
Dạy
ĐHYTCC
Đại học Y tế Công cộng
GV
Giảng viên
H
Học
HĐTH
Hoạt động tự học
KT
Kiến thức
QLSV
Quản lý sinh viên
SV
Sinh viên
YTCC
Y tế công cộng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của thế kỷ XXI,
thế kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn
cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ. Nền kinh tế tri thức

Văn kiện Đại hội Đảng IX cũng nhấn mạnh: “tiếp tục nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học Phát huy tinh
thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học,
tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”. Tinh thần của nghị quyết Đảng về tự học
được thể chế hoá trong luật giáo dục. Điều 4 khoản 2 luật Giáo dục nước Cộng
Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1998 có ghi: “Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi
dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Tự học đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với giáo dục và đào tạo nước ta.
Hoạt động tự học có ý nghĩa quyết định biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo.
Y tế công cộng là vấn đề toàn cầu và ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Đảng và nhà nước ta.
Trường ĐHYTCC, với trách nhiệm đào tạo ra các cán bộ YTCC cho Đảng và
nhà nước, luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo, đặc biệt chất lượng đào tạo cử
nhân YTCC. Tiếng Anh là ngôn ngữ của YTCC. Học tốt tiếng Anh, có trình độ
tiếng Anh tốt không những sẽ giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên môn
YTCC tốt mà còn giúp cho họ công tác tốt khi ra trường nhất là trong thời kỳ hội
nhập hiện nay. Tuy nhiên với thời gian học ngoại ngữ trên lớp có hạn theo 3
chương trình quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo, thì chỉ có tự học ngoại ngữ
mới giúp sinh viên có đủ trình độ để học tập tốt các môn chuyên môn khác.
Trường ĐHYTCC rất quan tâm đến việc học ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh
viên cử nhân YTCC. Việc phát triển năng lực tự học ngoại ngữ, quản lý hoạt
động tự học ngoại ngữ do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài:
“Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường

- Phạm vi thời gian: từ năm 2002 đến nay.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp phân tích,
tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên
cứu của đề tài qua hệ thống sách, báo, và tài liệu tham khảo.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp điều tra
bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, tọa đàm đối với sinh viên, giảng viên, cán bộ
quản lý để thu thập thông tin về thực trạng tự học ngoại ngữ của sinh viên và
thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ. 5
- Phân tích sử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý những
số liệu thu được từ khảo sát thực trạng hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh
viên và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ.
- Các phương pháp bổ trợ khác: trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn, quan sát sinh
viên, giảng viên, các cán bộ khác của nhà trường để tìm hiểu nhận thức, thái
độ của họ về hoạt động tự học ngoại ngữ và công tác quản lý hoạt động tự
học ngoại ngữ ở nhà trường.
- Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia.
9. Cấu trúc của luận văn:
- Ngoài phần mở đầu (5 trang), phần kết luận (4 trang), luận văn được cấu trúc
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy - tự học; ( 26 trang)
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường
Đại học Y tế Công cộng; ( 37 trang)
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên
trường đại học y tế công cộng. ( 23 trang)
Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục.


học sinh có thói quen không tự giác trong học tập [8].
Thế kỷ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như J.J. Rousseau (1712-
1778); Pestalogie (1746-1827); Distecvec (1790-1866); Usinxki (1824-1873)
đều có chung quan điểm cần hướng cho học sinh tự nắm bắt kiến thức bằng cách
tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tư tưởng của các
tác giả đi trước, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạng để tìm phương
pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy người học làm trung tâm” để phát huy
năng lực nội sinh của con người. Đại diện cho tư tưởng này John Dewey (1859-
1952), ông phát biểu “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương
tiện giáo dục”. Một loạt các phương pháp dạy học theo tư tưởng quan điểm này
đã được đưa vào thực nghiệm: “Phương pháp tích cực”, “phương pháp hợp tác”,
“phương pháp cá thể hoá”. Nói chung đây là các phương pháp mà người học
không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ HĐTH,
tự tìm tòi lĩnh hội tri thức. Giáo viên là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức
giúp cho học sinh biết cách làm, cách học.
T. Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật bản, trong những năm 30
của thể kỷ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học
tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh. Giáo dục xét như là
quá trình hướng dẫn học sinh tự học” [19].
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ
XXI, những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về
quá trình “Nhận biết dạy - học” và ông chủ trương rằng người học phải là người
tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học”. 8
Như vậy vấn đề tự học của học sinh - sinh viên đã được nghiên cứu từ rất
sớm trong lịch sử giáo dục và nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà
nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng,

1.2. Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học
1.2.1. Hoạt động dạy-học
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách. Dạy có hai
chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra
nhau (“chức năng kép”), đó là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học
tập.
Học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ thể, khái
niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh. Học là quá trình tự giác tích cực, tự
lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên.
Dạy và học có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học nhằm vào
việc chiếm lĩnh khái niệm, thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập.
Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản:
khái niệm khoa học, dạy, và học. Khái niệm khoa học là nột dung của bài học và
là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh, nó là một trong hai yếu tố khách quan
quyết định lô gích của bản thân quá trình dạy-học về mặt khoa học.
Hoạt động dạy gồm hai chức năng truyền đạt và điều khiển, luôn luôn
tương tác và thống nhất với nhau. Dạy phải xuất phát từ lô gích khoa học của 10
khái niệm và lô gích sư phạm của tâm lý học lĩnh hội. Hoạt động học là yếu tố
khách quan thứ hai quy định lô gích của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy
học; nghĩa là độ trí dục và quy luật lĩnh hội và tự điều khiển.
Cấu trúc của quá trình dạy - học có thể diễn tả trực quan bằng sơ đồ sau:
khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh
một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình”
[32, 59].
Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc
ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của
các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải là sự tự
học Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú
mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh
mình” [32, 55].
Tự học là nội lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân
người học. Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc
lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư
duy sáng tạo. Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành
kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học. Nhờ có tự học, người học mới 12
thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào
thực tiễn cuộc sống.
Hoạt động tự học diễn ra dưới ba hình thức chính sau:
- Hình thức thứ nhất: Có sách, tài liệu người học tự tìm kiếm tri thức để thoả
mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng
kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường. Đây là tự học ở mức độ
cao.
- Hình thức thứ hai: Có sách, tài liệu và có thêm những ông thầy ở xa hướng
dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác.
Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến
thức. Đó là tự học có hướng dẫn.
- Hình thức thứ ba: Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong
tuần. Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của thầy

Thời hai: H
2
- Tự thể hiện
Thời ba: H
3
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh H
1

H
2

H
3

T
T

ỰH

Sơ đồ 3: Chu trình dạy

Thầy: tác nhân Trò: chủ thể
D
1
: Hướng dẫn H
1
: Tự nghiên cứu
D
2
: Tổ chức H
2
: Tự thể hiện
D
3
: Trọng tài, cố vấn, H
3
: Tự kiểm tra,
kết luận và kiểm tra tự điều chỉnh
* Tri thức qua ba thời:
Theo tam giác sư phạm: thầy - trò - tri thức, tính chất của tri thức người
học chiếm lĩnh được qua từng thời kỳ như sau:
Thời một KT
1


Sơ đồ 4: Chu trình dạy - tự học
Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực - năng lực tự học, trên đường
tròn đó là các cực “trò” của tam giác sư phạm cùng với ba thời của chu trình tự
học: tự nghiên cứu => tự thể hiện => tự kiểm tra, tự điều chỉnh. (H
1
, H
2
, H
3
)
Đường tròn bên ngoài tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy,
trên đường tròn đó là các cực „thầy‟ của tam giác sư phạm cùng với ba thời của
chu trình dạy: Hướng dẫn => tổ chức => trọng tài, cố vấn, kết luận kiểm tra. (D
1
,
D
2
, D
3
)

3

H
1

H
2

H
3
17
Các mũi tên => trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực „thầy‟:
sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy- tự học đều thuộc về thầy. Thầy là
người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò.
1.2.3. Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ
Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ cũng như hoạt động dạy - tự học các
môn học nói chung, đều liên quan đến chu trình dạy - tự học gồm ba thời với ba
thành tố cơ bản thày (dạy), trò (tự học) và tri thức như đã trình bầy ở phần 1.2.2.
Tuy nhiên với đặc thù của môn học ngoại ngữ, cũng có những khác biệt ở
các thành tố ở các thời của chu kỳ dạy - tự học ngoại ngữ, đặc biệt là thành tố tri
thức. Đối với môn học ngoại ngữ, tri thức không chỉ là kiến thức về ngôn ngữ,
văn hoá của thứ tiếng đó mà còn phải được hiểu là các kỹ năng ngôn ngữ người
học phải đạt được để sử dụng như một công cụ giao tiếp. Trong việc học ngoại
ngữ, người ta thường đề cập đến bốn kỹ năng ngôn ngữ là: Nghe - Nói - Đọc -
Viết cùng với kiến thức về ngữ âm - từ vựng - ngữ pháp và kiến thức về văn hoá,
lịch sử của đất nước có thứ tiếng đó.
Chu trình dạy - tự học ngoại ngữ gồm ba thời sau:

được. Khi nói đến học, hàm ý nói đến mối quan hệ giữa nội lực của người học và
ngoại lực của người dạy, còn khi nói đến tự học thì chỉ xét riêng đến nội lực của
người học.
Chúng ta đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của thời đại thông tin và nền
kinh tế tri thức. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công 19
nghệ, tri thức mà nhà trường cung cấp luôn luôn ở trạng thái “lạc hậu”. Trong
bối cảnh của sự thay đổi thường xuyên như vậy, nếu người học chỉ hoàn toàn lệ
thuộc vào nhà trường, không tự mình cập nhật tri thức thì sẽ bị tụt hậu, không
theo kịp được cuộc sống hiện đại. Điều này hoàn toàn đúng với sinh viên đại
học. Như chúng ta đã biết, người tốt nghiệp đại học ngày nay phải có ba năng
lực, đó là khả năng thường xuyên cập nhật kiến thức của mình; chiếm lĩnh được
những trình độ thành thạo chuyên môn mới hay còn gọi là năng lực thích ứng với
việc làm và năng lực sáng nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm. Với những đòi hỏi như
thế, trong khoảng thời gian học tập có hạn 4 hoặc 5 năm học ở trường đại học,
nếu sinh viên không tự học, mày mò nghiên cứu, tự đào sâu suy nghĩ ngoài kiến
thức của nhà trường cung cấp thì khi ra trường họ không thể nào đáp ứng được
yêu cầu của xã hội.
Tự học sẽ giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề
nghiệp trong tương lai. Chính quá trình tự học giúp sinh viên hiểu sâu bài, mở
rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào
giải quyết các nhiệm vụ học tập mới. Tự học không những giúp sinh viên không
ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ở nhà trường mà còn
giúp sinh viên có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học để thường
xuyên làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình. Giúp họ
tránh được sự lạc hậu, tụt hậu trước sự „bùng nổ thông tin‟ khoa học kỹ thuật
trong thời đại hiện nay.
Như đã trình bầy ở trên, tự học là cốt lõi của việc học, tự học là phải tự lực


21
- Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. [6]
- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân
làm nhiệm vụ và các mục tiêu đã định [19]
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng bị
quản lý) về các mặt chính trị văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ta môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. [19]
- Quản lý là việc đảm bảo sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có
sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái
mới thích ứng với hoàn cảnh mới. [6]
Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả
có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:
- Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố
chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị
quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây
trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý
áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận
giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương
tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
- Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều
khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một

Trích đoạn Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ cho sinh viờn cử nhõn YTCC Thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viờn cử nhõn hệ chớnh Nguyờn nhõn của thực trạng cụng tỏc quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của Nhúm biện phỏp thứ nhất: Nõng cao nhận thức về vai trũ và kỹ năng tự học Nhúm biện phỏp thứ ba: Xõydựng và hoàn chỉnh nội quy, quy định hoạt động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status