ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
***
NGUYỄN BÁ HỌC
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hậu
HÀ NỘI - 2005 iv
MỤC LỤC
Ký hiệu viết tắt iii
Mục Lục iii
Mở Đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu: 3
4. Đối tượng nghiên cứu: 3
5. Các nhiệm vụ nghiên cứu: 3
6. Giả thuyết khoa học: 4
7. Phạm vi nghiên cứu: 4
8. Phương pháp nghiên cứu: 4
9. Cấu trúc của luận văn: 5
2.1.4. Tổ chức bộ máy quản lý của trường Đại học Y tế Công cộng. 39
2.2. Thực trạng dạy - học ngoại ngữ ở trường ĐHYTCC 42
2.2.1 Tình hình chung 42
2.2.2. Thực trạng dạy - học tiếng Anh cho sinh viên cử nhân YTCC 44
2.3. Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại
ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC. 46
2.3.1. Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC 46
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính
quy ở trường ĐHYTCC 47
2. 4. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ
của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 68
2.4.1. Những điểm mạnh trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 68
2.4.2. Những điểm hạn chế trong công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69
2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC 69
2.4.4. Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên ở trường ĐHYTCC 71
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường đại
học y tế công cộng 73
3.1. Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tự học
ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trường ĐHYTCC 73
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân
YTCC hệ chính quy trường ĐHYTCC 74
3.2.1 Nhóm biện pháp thứ nhất: Nâng cao nhận thức về vai trò và kỹ năng tự học
ngoại ngữ trong học tập, và công tác thuộc lĩnh vực YTCC 74
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của
thế kỷ XXI, thế kỷ với đặc trưng là sự phát triển của nền kinh tế tri
thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa
học công nghệ. Nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải có nhiều
kiến thức, kỹ năng mới và một thái độ tích cực để làm chủ cuộc
sống. Với sự bùng nổ của thông tin và khoa học công nghệ, kiến
thức của nhân loại ngày càng tăng nhanh. Kiến thức con người được
học ở nhà trường luôn có nguy cơ bị lạc hậu, và hơn thế nữa thời
gian học ở nhà trường là có hạn, không thể đủ để học tất cả kiến thức
ngày càng gia tăng của nhân loại. Để giải quyết mâu thuẫn trên, theo
giáo sư Phan Trọng Luận thì chỉ có cách tự học. Theo ông, tự học là
con đường khắc phục nghịch lý: Học vấn thì vô hạn mà tuổi học
đường thì có giới hạn.
Việt Nam mới bước vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện
đại hóa, nghĩa là phải thực hiện hai cuộc cách mạng cùng một lúc để
từ nền văn minh nông nghiệp tiến lên văn minh công nghiệp rồi tiến
thẳng luôn đến nền văn minh trí tuệ. Rõ ràng dân tộc ta đang phải
giải quyết một bài toán cực kỳ khó là làm sao trong một thời gian
lịch sử độ 20 năm sẽ phải thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, sánh
vai với các cường quốc năm châu. Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn,
một trong những cách để giải bài toán này là tự học.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước đặt ra
nhiệm vụ cho ngành giáo dục - đào tạo là phải đào tạo ra con người
có sức khoẻ, có đạo đức, có tri thức và trình độ chuyên môn sâu, có
các cán bộ YTCC cho Đảng và nhà nước, luôn quan tâm đến chất
lượng đào tạo, đặc biệt chất lượng đào tạo cử nhân YTCC. Tiếng
Anh là ngôn ngữ của YTCC. Học tốt tiếng Anh, có trình độ tiếng
Anh tốt không những sẽ giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên
môn YTCC tốt mà còn giúp cho họ công tác tốt khi ra trường nhất là
trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Tuy nhiên với thời gian học ngoại
ngữ trên lớp có hạn theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục -
Đào tạo, thì chỉ có tự học ngoại ngữ mới giúp sinh viên có đủ trình
độ để học tập tốt các môn chuyên môn khác. Trường ĐHYTCC rất
quan tâm đến việc học ngoại ngữ (tiếng Anh) của sinh viên cử nhân
YTCC. Việc phát triển năng lực tự học ngoại ngữ, quản lý hoạt động
tự học ngoại ngữ do vậy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng đào tạo của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài:
“Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh
viên trường Đại học Y tế Công Cộng” với mong muốn xây dựng
được các biện pháp khả thi và hiệu quả trên cơ sở lý luận khoa học
và thực tiễn nhằm nâng câo chất lượng quá trình đào tạo cử nhân
YTCC của nhà trường.
3
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ (tiếng
Anh) của sinh viên ở trường Đại học Y tế Công cộng nhằm nâng cao
chất lượng quá trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của nhà trường.
3. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý sinh viên trong trường Đại học Y tế Công
cộng.
4. Đối tƣợng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên
trạng tự học ngoại ngữ của sinh viên và thực trạng công tác quản
lý hoạt động tự học ngoại ngữ.
Phân tích sử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê toán học để
xử lý những số liệu thu được từ khảo sát thực trạng hoạt động tự
học ngoại ngữ của sinh viên và công tác quản lý hoạt động tự
học ngoại ngữ.
Các phương pháp bổ trợ khác: trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn,
quan sát sinh viên, giảng viên, các cán bộ khác của nhà trường
để tìm hiểu nhận thức, thái độ của họ về hoạt động tự học ngoại
ngữ và công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ ở nhà
trường.
Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia.
9. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được cấu trúc thành
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy-tự học (26 trang);
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh
viên trường Đại học Y tế Công cộng (37 trang);
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên trường đại học y tế công cộng (23 trang).
Cuối luận văn là danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục.
5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY - TỰ HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học
1.1.1. Trên thế giới
1.1.2. Ở Việt Nam
1.2. Cơ sở lý thuyết hoạt động dạy - tự học
6
viễn thông khác. Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy
trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Đó là tự học có hướng dẫn.
Hình thức thứ ba: Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong
ngày, trong tuần. Tự học diễn ra dưới sự điều khiển, chỉ đạo hướng
dẫn trực tiếp của thầy và các phương tiện kỹ thuật trên lớp. Đây là
học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn.
Hoạt động tự học có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, mọi
người, bằng mọi cách và qua nội dung nói như Giáo sư Nguyễn
Cảnh Toàn là thực hiện “năm mọi” trong học tập. Trong đề tài này,
do mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động
tự học của sinh viên dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của
thầy.
1.2.2.2. Hoạt động dạy - tự học:
1.2.3. Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ
Hoạt động dạy - tự học ngoại ngữ cũng như hoạt động dạy - tự
học các môn học nói chung, đều liên quan đến chu trình dạy - tự học
gồm ba thời với ba thành tố cơ bản thày (dạy), trò (tự học) và tri thức
như đã trình bầy ở phần 1.2.2.
Tuy nhiên với đặc thù của môn học ngoại ngữ, cũng có những
khác biệt ở các thành tố ở các thời của chu kỳ dạy - tự học ngoại
ngữ, đặc biệt là thành tố tri thức. Đối với môn học ngoại ngữ, tri thức
không chỉ là kiến thức về ngôn ngữ, văn hoá của thứ tiếng đó mà còn
phải được hiểu là các kỹ năng ngôn ngữ người học phải đạt được để
sử dụng như một công cụ giao tiếp. Trong việc học ngoại ngữ, người
ta thường đề cập đến bốn kỹ năng ngôn ngữ là: Nghe - Nói - Đọc -
Viết cùng với kiến thức về ngữ âm - từ vựng - ngữ pháp và kiến thức
về văn hoá, lịch sử của đất nước có thứ tiếng đó.
Chu trình dạy - tự học ngoại ngữ gồm ba thời sau:
nhưng thực tế cho thấy bất cứ hoạt động nào dù tự lực tốt nhưng khi
có thêm cộng hưởng bên ngoài (tác động ngoại lực) thì kết quả sẽ tốt
hơn rất nhiều. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Cách học tập
lấy tự học làm cốt. Có thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [22 - 18].
Chỉ đạo ở đây chính là một trong những chức năng của hoạt
động quản lý. Vậy tự học cũng phải có quản lý.
Quản lý hoạt động tự học của sinh viên là một trong những nội dung
cơ bản của quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy - học, quản lý
quá trình dạy - tự học ở các trường đại học. Đó là công tác nhằm cho
hoạt động tự học của sinh viên đạt kết quả tốt hơn.
Quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên
Ngoại ngữ là một môn học trong chương trình giảng dạy ở
trường đại học Việt Nam. Sinh viên các trường đại học đều phải học
một ngoại ngữ (không tính các trường chuyên ngữ) hiện tại hầu hết
các trường đều dạy tiếng Anh. Ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng
trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Sinh viên phải đọc được các tài liệu
8
tham khảo chuyên môn bằng ngoại ngữ. Theo quy định của Bộ Giáo
dục - Đào tạo, sinh viên các trường không chuyên ngữ học 15 đơn vị
học trình ngoại ngữ, tương đương 225 tiết học. Với thời lượng như
vậy đòi hỏi sinh viên phải tự học rất nhiều để sử dụng ngoại ngữ
được học như một công cụ giao tiếp và để đọc được các tài liệu tham
khảo chuyên môn bằng tiếng nước ngoài. Muốn đạt được kết quả
như trên công tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên
phải được quan tâm và thực hiện tốt.
1.3.5. Nội dung, biện pháp quản lý HĐTH ngoại ngữ của sinh
viên
Với ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao kết quả học tập môn
hướng dẫn nội dung tự học cho sinh viên theo các tiêu chí sau:
Hệ thống kiến thức về ngoại ngữ gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp đòi hỏi sinh viên phải nắm được.
Mức độ, trình độ, các kỹ năng ngôn ngữ nghe-nói-đọc-viết sinh
viên phải đạt được, sử dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao
tiếp
Định hướng, giới thiệu các tài liệu chuyên môn sinh viên phải
đọc hiểu được bằng ngoại ngữ.
Quản lý phương pháp tự học
Quản lý phương pháp tự học ngoại ngữ của sinh viên bắt đầu từ
việc xác định mục đích, động cơ của học ngoại ngữ đến việc lựa
chọn cách học, biện pháp phù hợp. Học ngoại ngữ với mục đích sử
dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp thì phương pháp tự học
phải là thực hành giao tiếp. Phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải
tự học theo cặp hoặc theo nhóm để thực hành, luyện tập các kỹ năng
giao tiếp.
Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh
viên
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập có
ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả học tập của sinh viên. Để tăng
cường hiệu quả tự học thì phải đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất
như phòng tự học, thư viện, tài liệu sách giáo khoa và các trang thiết
bị cho sinh viên tự học ngoại ngữ như đài các xét, đầu video, băng
hình, đầu đĩa hình, các chương trình dạy ngoại ngữ.
Quản lý các điều kiện phục vụ, dịch vụ khác tuy không phải là
nội dung trực tiếp của quản lý hoạt động tự học nhưng nó cũng
có ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên, điều này đòi
hỏi cán bộ quản lý phải quan tâm đến.
Kiểm tra đánh giá kết quả tự học của sinh viên là công việc của
giảng viên. Muốn cho sinh viên tự học có kết quả tốt, giảng viên
2.3.1. Thực trạng dạy-tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân
YTCC
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh
viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC
2.4. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động
tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trƣờng
ĐHYTCC
2.4.1. Những điểm mạnh trong công tác quản lý hoạt động tự
học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường
ĐHYTCC
Đánh giá của 3 chủ thể cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên ở
phần trên (2.3.2) về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học
12
ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường ĐHYTCC
cho thấy:
Hầu hết các nội dung của công tác quản lý hoạt động tự học
ngoại ngữ đã được triển khai thực hiện.
Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ được đánh
giá là đã thực hiện thường xuyên và chất lượng tốt như lấy kết quả
học tập ngoại ngữ làm tiêu chuẩn để phân chia lại các lớp học ngoại
ngữ theo các trình độ của sinh viên để xây dựng động cơ tự học
ngoại ngữ cho sinh viên. Các biện pháp về đảm bảo cơ sở vật chất
trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên
được đánh giá rất đầy đủ và chất lượng từ tương đối tốt trở lên.
Công tác kiểm tra và đánh giá kết quả tự học ngoại ngữ của sinh
viên cũng đã được giáo viên quan tâm và thực hiện ở một mức độ
nhất định.
2.4.2. Những điểm hạn chế trong công tác quản lý hoạt động
World Mission cũng như các tổ chức quốc tế khác trong việc dạy
tiếng Anh ở trường ĐHYTCC.
Toàn thể nhà trường (BGH, CBQL, GV) đều quan tâm đến chất
lượng của lớp cử nhân YTCC vì đây là loại hình đào tạo mới , đầu
tiên của nhà trường, kể từ khi trường được đổi tên thành trường
ĐHYTCC.
Tuy nhiên những điểm hạn chế trong công tác quản lý hoạt động
tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ chính quy ở trường
ĐHYTCC là do nhà trường mới bắt đầu thực hiện loại hình đào tạo
mới, chưa kịp quen với đối tượng sinh viên cử nhân. Trước kia, nhà
trường chủ yếu đào tạo cho đối tượng là cán bộ y tế, công tác quản lý
đơn giản. Nay nhà trường chuyển sang đào tạo thêm loại hình cử
nhân, nhưng công tác quản lý vẫn chưa được thay đổi nhiều. Các cán
bộ làm công tác quản lý hầu như không được đào tạo về quản lý, họ
được điều động từ các bộ phận khác sang, do đó công tác quản lý
của họ gặp nhiều khó khăn. Cán bộ quản lý ít, không có chuyên môn
quản lý công việc mới, (phòng công tác chính trị và quản lý sinh
viên mới được thành lập ngày 20 tháng 9 năm 2005) dẫn đến công
tác quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân hệ
chính quy ở nhà trường còn nhiều điểm hạn chế là điều dễ lý giải.
Các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoại ngữ được thực
hiện không thường xuyên và kết quả ở mức trung bình còn có
nguyên nhân là CBQL và GV chưa thực sự quan tâm đầy đủ tới đối
tượng SV cử nhân. Do có nhiều loại hình đào tạo, số lượng CBQL và
14
GV ít nên việc tập trung cho đối tượng SV cử nhân phần nào cũng bị
hạn chế.
2.4.4. Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý hoạt động tự
(4) Tăng cường đầu tư vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho
tự học ngoại ngữ của sinh viên
15
Hiện nay cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tự
học ngoại ngữ của ở trường ĐHYTCC được đánh giá là đầy đủ và có
chất lượng tốt. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho nhà trường là một mặt
phải thường xuyên di tu, bảo dưỡng để các trang thiết bị này luôn
hoạt động tốt, mặt khác phải có kế hoạch tăng cường đầu tư về cơ sở
vật chất trang thiết bị, đáp ứng với nhu cầu phát triển về số lượng
sinh viên của nhà trường.
(5) Đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên theo hướng dạy -
tự học cho sinh viên
Bộ môn ngoại ngữ đang áp dụng phương pháp giảng dạy thực
hành giao tiếp, lấy sinh viên làm trung tâm. Tuy nhiên, phương pháp
này chưa thúc đẩy sinh viên tự học ngoại ngữ. Rất nhiều sinh viên
YTCC chưa tự học ngoại ngữ. Việc học ngoại ngữ của sinh viên vẫn
lệ thuộc rất nhiều vào học trên lớp với giảng viên. Chỉ khi thay đổi
phương pháp dạy học của giảng viên theo hướng dạy - tự học cho
sinh viên thì hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên mới phát triển
tốt được. 16
CHƢƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ
HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
Y TẾ CÔNG CỘNG
3.1. Định hƣớng chung cho việc xây dựng các biện pháp quản lý
hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân trƣờng
ĐHYTCC
giới.
3.2.3. Nhóm biện pháp thứ ba: Xây dựng và hoàn chỉnh nội
quy, quy định hoạt động tự học và tự học ngoại ngữ cho sinh viên:
Nhóm bịên pháp này bao gồm:
(1) Biện pháp 3.1: Rà soát lại những nội quy, quy định tự học, tự học
ngoại ngữ hiện tại ở nhà trường. Sửa đổi, loại bỏ những quy định
không còn phù hợp với tình hình hiện nay của nhà trường; Xây
dựng, bổ sung những quy định mới nhằm giúp cho hoạt động tự học
tốt hơn.
(2) Biện pháp 3.2: Thường xuyên phổ biến nội quy, quy định mới
được sửa đổi, bổ sung của nhà trường về hoạt động tự học, tự học
ngoại ngữ dưới nhiều hình thức khác nhau.
3.2.4. Nhóm biện pháp thứ tư: Hướng dẫn xây dựng và tổ
chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ cho sinh viên
Nhóm bịên pháp này bao gồm:
(1) Biện pháp 4.1: Xây dựng kế hoạch về thời gian và địa điểm tự
học ngoại ngữ phải dựa trên thời khoá biểu chung của nhà trường,
thời khoá biểu cho các khoá học, lớp học.
(2) Biện pháp 4.2: Xây dựng kế hoạch về nội dung và phương pháp
tự học ngoại ngữ cho sinh viên đáp ứng yêu cầu về học ngoại ngữ
của bộ môn và nhà trường.
(3) Biện pháp 4.3: Tổ chức thực hiện kế hoạch tự học ngoại ngữ của
sinh viên đã xây dựng.
(4) Biện pháp 4.4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế
hoạch tự học ngoại ngữ.
3.2.5. Nhóm biện pháp thứ năm: Tăng cường tổ chức thực
hiện dạy- tự học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC
Nhóm bịên pháp này bao gồm:
18
ngữ ) là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý hoạt động tự học ngoại
ngữ của sinh viên. Các nhóm biện pháp thứ tư (Xây dựng, thực hiện
kế hoạch tự học ngoại ngữ cho sinh viên) và thứ sáu (đảm bảo các
điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động tự học
ngoại ngữ của sinh viên) là các biện pháp cơ bản.
19
Biện pháp then chốt, quyết định hoạt động tự học ngoại ngữ
của sinh viên là nhóm biện pháp thứ năm (tăng cường tổ chức thực
hiện dạy - tự học ngoại ngữ cho sinh viên).
Để cho hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên cử nhân
YTCC đạt kết quả tốt, các biện pháp quản lý nêu trên phải được thực
hiện đồng bộ, thường xuyên và chất lượng tốt. Đặc biệt phải chú
trọng thực hiện tốt nhóm biện pháp tổ chức thực hiện dạy - tự học
ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân YTCC.
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả
của các biện pháp
Để khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả
của 6 nhóm biện pháp nêu trên, tác giả đã xây dựng một mẫu phiếu
trưng cầu ý kiến về các biện pháp (mẫu 4) lấy ý kiến của giảng viên
và cán bộ quản lý nhà trường. Kết quả thu được như sau:
Bảng 9: Kết quả ý kiến giảng viên, CBQL về khảo nghiệm
tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp:
Biện pháp
Mức độ
Tính cấp
thiết
Tính
khả thi
3,2
4,2
3,9
20
gia sinh viên tình nguyện, phục vụ các
hoạt động chung của nhà trường, thành
phố, quốc gia.
2.3. Chọn, cử sinh viên ưu tú, giỏi tiếng
Anh đi trao đổi học tập với các trường đại
học YTCC trong khu vực và trên thế giới.
4,1
4,5
3,8
3. Xây dựng nội quy, quy định hoạt
động tự học ngoại ngữ
3.1. Xây dựng nội quy, quy đinh hoạt động
tự học ngoại ngữ phù hợp với điều kiện
nhà trường
4,4
3,7
4,3
3.2. Phổ biến, nội quy, quy định hoạt động
tự học và tự học ngoại ngữ, nội quy tự học
ở phòng tự học ngoại ngữ đa phương tiện
4,3
5,0
5. Tăng cƣờng tổ chức thực hiện dạy - tự
học ngoại ngữ cho sinh viên cử nhân
YTCC
5.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy, thực
hiện phương pháp dạy - tự học ngoại ngữ
4,6
3,4
4,7
5.2. Hướng dẫn nội dung, tài liệu, sách
băng đĩa chương trình tiếng Anh cho sinh
viên tự học
4,2
3,6
4,4
5.3. Xây dựng môi trường học tiếng Anh
tích cực qua tổ chức CLB tiếng Anh; sinh
hoạt dã ngoại nói tiếng Anh với chuyên gia
bản ngữ, dự các bài giảng của các chuyên
4,6
3,8
4,7