Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO XUÂN THÀNH
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HOC
CỦA HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN MỸ LỘC TỈNH NAM ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học : TS. Đặng Văn Cúc


5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phạm vi nghiên cứu
3
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
3
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
5
1.1.1. Trên thế giới
5
1.1.2. ở Việt Nam
6
1.2. Những vẫn đề lý luận về học sinh THCS
7
1.2.1. Khái niệm về học sinh THCS
7
1.2.2. Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS
7
1.3. Những vấn đề lý luận về tự học
8
1.3.1. Khái niệm về tự học
8
1.3.2. Vị trí, vai trò của tự học
9
1.3.3. Các hình thức tự học, hoạt động tự học của học sinh THCS
9

2.4. Thực trạng hoạt động tự học của học sinh trung học cơ sở huyện
Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
33
2.4.1. Về mặt nhận thức
33
2.4.2. Về điều kiện tự học
36
2.4.3. Về phƣơng pháp tự học
38
2.4.4. Nhận thức của học sinh trung học cơ sở về tự học
40
2.5. Một số nguyên nhân của thực trạng trên
43
2.6. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh các trƣờng
THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
46
2.6.1. Thực trạng về hoạt động xây dựng động cơ tự học cho học sinh
các trƣờng trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
46
2.6.2. Quản lý hoạt động dạy tự học của giáo viên THCS trong huyện
Mỹ Lộc
56
2.6.3. Đánh giá về nhận thức của giáo viên về hoạt động tự học
58
2.6.4. Quản lý việc học tập của học sinh
59
2.7. Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện các biện
pháp quản lý
60
2.8. Kết luận

3.3.4. Tổ chức, tập huấn giáo viên đổi mới phƣơng pháp dạy học theo
hƣớng thúc đẩy học sinh tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa
71
3.3.5. Hoàn thiện biện pháp quản lý, chỉ đạo học tập của học sinh trung
học cơ sở nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt động tự học
77
3.3.6. Cải tiến việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nhằm tăng cƣờng
chất lƣợng tự học
80
3.4. Mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động tự học
83
3.5. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp quản lý hoạt
động tự học
84
3.7. Kết luận
88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
89
1. Kết luận
89
2. Khuyến nghị
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
PHỤ LỤC

- 2 -
Những năm gần đây,công cuộc đổi mớivà cải cách giáo dục của cả nƣớc đã tác
động mạnh tới hoạt động dạy và học của các trƣờng THCS trong huyện Mỹ
Lộc, tuy nhiên chất lƣợng học tập của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế không
đƣợc nhƣ kết quả mong muốn. Tỉ lệ học sinh khá giỏi còn thấp, học sinh vẫn
còn thờ ơ với việc học, lƣời học bài và làm bài ở nhà, lƣời đọc sách, việc học
tập đối với học sinh còn phải mang tính bắt ép. Công tác quản lý,tổ chức của
nhà trƣờngđối với hoạt động tự học của học sinh chƣa đƣợc quan tâm đúng
mức; số lƣợng giáo viên tại địa bàn huyện còn ít,đa số là các giáo viên ở nơi
khác chuyển về do đó hay bị thay đổi xáo trộn khi thuyên chuyển giáo viên đi
nơi khác. Với các nguyên nhân đã nói ở trên đã một phần ảnh hƣởng đến kết
quả học tập của học sinh, dẫn đến kết quả học sinh của của các trƣờng THCS
trong huyện còn thấp. Muốn chất lƣợng học tập của học sinh các trƣờng THCS
trong huyện đạt kết quả cao, phải thay đổi cách dạy tự học của giáo viên cho
học sinh THCS trong huyện và phải bồi dƣỡng động cơ, thái độ tự học, kỹ
năng tự học cho học sinh
Việc tìm ra biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trƣờng
THCS huyện Mỹ Lộc là một trong những nhiệm vụ cấp thiết với các trƣờng,
do đó tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các
trường trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất một số biện
pháp quản lý hoạt động tự học nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh các
trƣờng THCS trong huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học của học sinh các trƣờng THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh
Nam Định
3.2. Đối tượng nghiên cứu:

Thịnh huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

- 4 -
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích tổng hợp
những tƣ liệu nhƣ: tƣ liệu về giáo dục học – tâm lý học, lý luận về quản lý giáo
dục, các văn bản về nhà trƣờng trung học cơ sở và luật giáo dục năm 2005
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: Phƣơng pháp quan sát, phƣơng
pháp điều tra bằng bảng hỏi, phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm, phƣơng pháp
chuyên gia.
- Nhóm các phƣơng pháp xử lý số liệu : Sử dụng các công thức toán học nhƣ
trung bình cộng, tính tổng số điểm của từng loại phiếu điều tra cho từng mức độ
khác nhau, rồi sau đó lấy trung bình chung để đƣa ra kết quả và kết luận cụ thể
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh các trƣờng
THCS huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
Chƣơng 3 : Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trƣờng
THCS huyện MỹLộc, tỉnh Nam Định

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có rất nhiều nhà giáo dục, nhà khoa học lỗi lạc tiêu biểu đã nhận ra
tầm quan trọng của việc tự học, những điều này đƣợc thể hiện qua tƣ tƣởng các
nhà giáo dục trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam.
1.1.1. Trên thế giới
- Socrate đã từng đề ra khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” thông qua
đó ông muốn ngƣời học tự phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt ra các câu hỏi

mới mạnh mẽ phƣơng pháp giáo dục, phát huy tính tích cực sáng tạo của ngƣời
học, khắc phục lối truyền thụ một chiều".

- 6 -
Tinh thần này cũng đƣợc thể hiện trong luật giáo dục, ở mục 2 điều 5
"Yêu cầu về nội dung, phƣơng pháp giáo dục" đã nêu rõ: "Phƣơng pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời
học, bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vƣơn lên" và mục 2 điều 28 "Yêu cầu về nội dung, phƣơng
pháp giáo dục phổ thông" cũng đã nêu rõ: "phƣơng pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học; môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả
năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh".
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "coi trọng việc tự học, tự đào
tạo… học ở mọi lúc, mọi nơi, học mọi ngƣời" [20, 194]. Ngƣời nhấn mạnh:
"phải nâng cao và hƣớng dẫn việc tự học", Ngƣời khuyên "không phải có thầy
thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập" [23, tr. 97].
- Nguyên tổng bí thƣ TW Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mƣời đã
khẳng định: "Tự học, tự đào tạo là một con đƣờng phát triển suốt đời của
mỗi ngƣời trong điều kiện kinh tế - xã hội nƣớc ta hiện nay và cả mai sau;
đó cũng là truyền thống quý báu của ngƣời Việt Nam và cả dân tộc Việt
Nam. Chất lƣợng và hiệu quả giáo dục đƣợc nâng cao khi tạo ra đƣợc năng
lực tự học, sáng tạo của ngƣời học, khi biến đƣợc quá trình giáo dục thành
quá trình tự giáo dục" [26]
Có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục ở Việt Nam viết về vấn đề tự
học nhƣ: "Để tự học đạt đƣợc hiệu quả" của Vũ Quốc Chung - Lê Hải Yến;
"Quá trình Dạy - Tự học" của Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ
Văn Tảo, Bùi Tƣờng; tuyển tập tác phẩm "Tự Giáo dục, tự học, tự nghiên cứu"
tập 1 - 2 của Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn; "Luận bàn về kinh nghiệm tự học"

em có những tính độc lập và tự chủ nhất định.
Một số em do tập trung vào học làm cho các em hiểu biết về tri thức,
sách vở nhƣng các mặt khác nhau trong đời sống thì hiểu biết rất ít, ngƣợc lại
có những em rất ít quan tâm đến học hành chỉ coi trọng việc giao tiếp với bạn

- 8 -
bè, với ngƣời lớn, quan tâm đến ăn mặc…để tỏ ra mình cũng nhƣ ngƣời lớn…,
lứa tuổi này là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhƣng không đồng đều về mặt cơ
thể: Sự phát triển các xƣơng tay, xƣơng chân rất nhanh, nhƣng xƣơng ngón
tay, ngón chân phát triển chậm, các em có vẻ lóng ngóng vụng về khi làm việc,
điều này gây cho các em biểu hiện tâm lý khó chịu. Ngoài ra sự phát triển của
hệ thống tim mạch cũng không cân đối, hệ thần kinh còn chƣa có khả năng
chịu đựng đƣợc các kích thích mạnh, do đó dẫn đến tình trạng các em hay bị
ức chế hoặc bị kích thích với những tác động trong học tập và trong cuộc sống.
Nói chung lứa tuổi học sinh THCS có tính tích cực cao, có nhiều dự
định trong học tập và trong cuộc sống, nhƣng thiếu kiên trì, không có các định
hƣớng rõ rệt. Do đó phụ huynh và các thầy, cô giáo, các nhà giáo dục cần có
những biện pháp hợp lý trong việc giáo dục các em để đạt đƣợc những hiệu
quả tốt nhất.
1.3. Những vấn đề lý luận về tự học
1.3.1. Khái niệm về tự học
Theo Giáo sƣ Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: "Tự học là tự mình động
não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm
chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm cả nhân sinh quan, thế giới quan để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình" [28, tr .60]
Theo Giáo sƣ Vũ Văn Tảo: "Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển
nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị
con ngƣời mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi
trƣờng sống của chủ thể [30, tr. 19].

trò nhìn mặt nhau, trao đổi thông tin bằng lời nói, chữ viết trực tiếp. Học sinh
là chủ thể nhận thức tích cực, phải tập trung để phân tích, tổng hợp, khái quát
để tiếp thu tri thức kỹ năng kỹ xảo mà giáo viên truyền đạt cho.
Hình thức tự học này bao gồm thảo luận theo nhóm, tổ chức các buổi hội
thảo về phƣơng pháp học tập bộ môn do học sinh chủ trì dƣới sự hƣớng dẫn và
điều khiển của giáo viên

- 10 -
* Hình thức 2: Tự học của học sinh diễn ra khi không có sự điều khiển
trực tiếp của giáo viên – gọi là học “không giáp mặt”, khi đó học sinh phải tự
bố trí, sắp xếp thời gian, có kế hoạch để tự bản thân củng cố tri thức, hình
thành kỹ năng kỹ xảo về môn học, hình thức này bao gồm: đọc sách giáo khoa,
làm bài tập ở nhà, tự chuẩn bị các vấn đề cho thảo luận nhóm.
* Hình thức 3: Học sinh tự học các kiến thức mới, tự tìm tòi khai thác một
vấn đề nào đó của môn học hoàn toàn không có sự tổ chức điều khiển của giáo
viên, các em tự mua sách báo tham khảo, tự sƣu tầm tài liệu trên mạng để
mở rộng tầm hiểu biết của mình. Đây là hình thức tự học ở mức độ cao thƣờng
có rất ít ở những học sinh giỏi hoặc lớp chuyên, lớp chọn.
Hoạt động tự học của học sinh về bản chất là một hoạt động nhận thức
độc lập của chính học sinh đó. Hoạt động tự học của học sinh có một phạm vi
rộng: tự học trên lớp dƣới sự tổ chức điều khiển trực tiếp giáo viên tới việc tự
học ở nhà dƣới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên, cao hơn nữa là tự học
hoàn toàn không có sự tổ chức điều khiển của giáo viên. Trong đề tài này, do
mục đích và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ đề cập tới hoạt động tự học của
học sinh dƣới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của giáo viên.
Trong đề tài các cụm từ “tự học”, “việc tự học”, “Quá trình tự học” đƣợc
hiểu là hoạt động tự học.
- Năng lực tự học là khả năng của chính học sinh đó có thể chiếm lĩnh
kiến thức mà không cần sự hỗ trợ nào khác từ bên ngoài .
- Chất lƣợng tự học: là kết quả thu đƣợc của bản thân ngƣời học sau một

kiện không thể thiếu cho bất cứ các hoạt động nào. Một trong những nội dung
cơ bản, ý nghĩa của công tác quản lý tự học là tạo nguồn nội lực tự học cho học
sinh.

1.3.4.2. Tạo môi trường tự học
Môi trƣờng tự học của học sinh THCS gồm:
- Góc học tập ở nhà: mỗi học sinh cần phải bố trí chỗ học hợp lý, yên tĩnh,
đủ ánh sáng không chịu ảnh hƣởng nhiều của tác động bên ngoài khi học sinh

- 12 -
tự học. Học sinh phải tạo cho mình thói quen tự học theo TKB đề ra một cách
nghiêm túc, tự giác.
- Xây dựng nhóm tự học:
Do yếu tố tâm lý và nhận thức, nếu quá trình tự học của cá nhân học sinh
hoàn toàn “khép kín” thì kết quả học tập không thể cao đƣợc, vì không phải
ngƣời nào cũng có đầu óc siêu việt để có thể đọc đến đâu trả lời đến đó, gặp
bài toán hay câu hỏi khó nào cũng đều trả lời đƣợc, kể cả các học sinh có ý chí
và nghị lực cao, có phƣơng pháp tự học đúng nhiều khi cũng gặp khó khăn
trong việc đọc sách, làm bài tập, trả lời các câu hỏi. Do đó các học sinh có thể
tập trung tự học theo nhóm để có thể trao đổi cùng bàn luận, tìm cách tháo gỡ
vấn đề còn khúc mắc mà chƣa tự mình giải quyết đƣợc.
Nhiều kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm bổ sung đóng góp ý
kiến, qua đó mỗi thành viên có thể tự rút ra đƣợc những kiến thức bổ ích cho
riêng mình, không khí học tập của nhóm sẽ thúc đẩy từng học sinh trong nhóm
phải chuẩn bị trƣớc các ý kiến, các câu hỏi của mình để lúc tranh luận bàn bạc
phải có chủ kiến trƣớc rồi sẽ đƣợc các bạn trong nhóm góp ý sửa đổi bổ sung
hoàn thiện, nếu ai cũng dựa dẫm, không chuẩn bị trƣớc thì khi học nhóm sẽ trở
nên vô tác dụng.
1.3.4.3. Cung cấp các điều kiện tự học
- Cung cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và

Kiểm tra đánh giá theo cách nào thì giáo viên dạy học sinh học theo cách
ấy. Chính vì thế chúng ta phải dùng kiểm tra đánh giá để khuyến khích giáo
viên sử dụng phƣơng pháp dạy học tích cực và động viên học sinh trong việc
nâng cao năng lực tự học.
Hiện nay hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan có thể kiểm tra học
sinh đƣợc nhiều nội dung của môn học buộc học sinh phải suy nghĩ và vận
dụng kiến thức, phải hiểu kiến thức mới trả lời đƣợc. Hình thức kiểm tra trắc
nghiệm khách quan còn có nhƣợc điểm là không thấy đƣợc quá trình tƣ duy
lập luận logic của học sinh mà chỉ thấy kết quả là “có” hoặc “không”. Do đó

- 14 -
bên cạnh trắc nghiệm khách quan phải có bài tập tự luận đi kèm, có thể cho
mẫu đáp án và thang điểm để học sinh theo đó tự chấm, tự đánh giá kiến thức
của mình xem chỗ nào đạt, chỗ nào chƣa đạt từ đó có cách khắc phục lập “lỗ
hổng kiến thức” cho phù hợp .
1.3.4.6. Khen thưởng, trách phạt
Yếu tố khen thƣởng là biện pháp nhằm kích thích học sinh cố gắng vƣơn
lên giành kết quả cao nhất trong học tập, từ đó các em nỗ lực tự học. Công tác
khen thƣởng làm tốt sẽ tác động vào tƣ tƣởng, tình cảm, ý thức của học sinh
xây dựng ở các em niềm tin để thúc đẩy mọi hành động. Để phát huy tốt công
tác thi đua khen thƣởng nhà trƣờng cần xây dựng chỉ tiêu, quy chế khen
thƣởng rõ ràng ngay từ đầu năm học phù hợp với tình hình của nhà trƣờng,
công khai kết quả thi đua theo từng tháng, học kỳ, năm học.
Bên cạnh đó cần có hình thức trách phạt với những học sinh không chịu
học tập, khi đó phải có các hình thức nhắc nhở trƣớc lớp, trƣờng Các hình
thức đó tuỳ theo mức độ của từng học sinh nhƣng vẫn trên cơ sở răn đe, giáo
dục là chính, làm cho học sinh ý thức đƣợc việc học là cho chính mình, từ đó
tính tự giác trong việc tự học đƣợc từng bƣớc củng cố và phát triển .
1.4. Những vấn đề chủ yếu của quản lý, quản lý hoạt động tự học
1.4.1. Khái niệm, chức năng quản lý, biện pháp quản lý

quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các
luật lệ, các chính sách, nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng [30, tr.11]
- Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng
các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm
tra.[32, tr. 1]
Các định nghĩa quản lý của các tác giả có quan niệm khác nhau nhƣng đều
thống nhất ở các điều sau đây :
+ Quản lý luôn luôn tồn tại với tƣ cách là một hệ thống các yếu tố: chủ thể
quản lý (tổ chức quản lý, ngƣời quản lý); đối tƣợng quản lý (khách thể quản lý)
gồm có: con ngƣời, thiết bị kỹ thuật, cây trồng, vật nuôi mục tiêu chung của

- 16 -
công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã
hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý, từ đó nảy sinh các
mối quan hệ tƣơng tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
+ Bản chất của quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ
huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra
1.4.1.2. Chức năng quản lý
Quản lý thực hiện nhiều chức năng, có nhiều quan điểm khác nhau về việc
phân chia các chức năng quản lý. Ngày nay việc mọi ngƣời đều thống nhất
hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo (chỉ
đạo) kiểm tra [32].
* Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là một chức năng của quản lý. Kế hoạch hoá
có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tƣơng lai của tổ chức
và các con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu và mục đích đó.
Chức năng kế hoạch hoá có ba nội dung cơ bản sau:
- Xác định và hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn

kế bộ máy hoàn tất, mà nó thấm vào và ảnh hƣởng quyết định tới hai chức
năng kia.
* Kiểm tra:
Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó mỗi cá nhân, nhóm hoặc
tổ chức theo dõi giám sát các kết quả của quá trình hoạt động và tiến hành
những uốn nắn, sửa chữa nếu cần thiết. Kết quả hoạt động phải phù hợp với
những chi phí bỏ ra, nếu không tƣơng ứng thì phải điều chỉnh cho phù hợp.
Theo quan điểm Rorbert J.Mockler thì kiểm tra đƣợc chia thành 4 bƣớc:
- Bƣớc 1: Xác định rõ tiêu chuẩn và phƣơng pháp đo lƣờng kết quả đạt
đƣợc: Các tiêu chuẩn phải rõ ràng, thống nhất, phƣơng pháp đo lƣờng phải
chính xác, chuẩn mực.
- Bƣớc 2: Đo lƣờng thành tựu, là quá trình lặp lại nhiều lần, liên tục, tần
suất phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản lý.
- Bƣớc 3: Xác định mức độ đáp ứng (mức độ phù hợp) của thành tựu so
với tiêu chuẩn đề ra .

- 18 -
- Bƣớc 4: Tiến hành hoạt động uốn nắn, sửa chữa khi phát hiện ra sai lệch
của thành tựu so với chuẩn mực hoặc sửa đổi chuẩn mực nếu thấy chúng
không có khả năng thực hiện đƣợc
Tóm lại bốn chức năng quản lý có quan hệ hữu cơ và biện chứng với
nhau, cả bốn chức năng đó đều đƣợc triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý
và tạo thành một chu trình quản lý. Khi thực hiện hoạt động quản lý thì yếu tố
thông tin có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện vừa là
phƣơng tiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý.
Quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin đƣợc biểu
diễn bằng sơ đồ:

cách giải quyết những vấn đề liên quan đến những việc: Kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo, kiểm tra công việc tự học của học sinh nhằm đạt đƣợc mục tiêu
của học sinh THCS là tự học và góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo.
1.4.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.4.2.1 Quản lý giáo dục
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:
- QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản
lý nhằm đƣa hoạt động sƣ phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong
muốn bằng cách hiệu quả cao nhất [30, tr. 12]
- QLGD là quá trình tác động có ý thức đƣợc định hƣớng của chủ thể
quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu
của giáo dục một cách có hiệu quả [30, tr. 12]
- QLGD nói chung và quản lý nhà trƣờng nói riêng có ba đối tƣợng quản
lý cơ bản: Đó là quản lý con ngƣời và các mối quan hệ lên nhân cách (mà ở
nhà trƣờng là đội ngũ giáo viên và học sinh). Quản lý toàn bộ quá trình giáo
dục và dạy học diễn ra trong nhà trƣờng cùng các mối quan hệ giữa nhà trƣờng
với gia đình học sinh và cộng đồng xã hội nơi trƣờng đóng; quản lý các điều
kiện cơ sở vật chất, điều kiện nguồn lực cho dạy và học [17, tr. 1].
Theo PGS – TS. Đặng Xuân Hải :
+ QLGD (QLNT) trong tiếp cận của quản lý hành chính nhà nƣớc đối với giáo
dục: đây là cách tiếp cận quan trọng xác định vai trò chủ đạo của quản lý nhà
nƣớc đối với giáo dục, để đảm bảo mục tiêu giáo dục của nhà nƣớc đƣợc thực
hiện và bảo đảm chế độ chính sách đối với các đối tƣợng tham gia giáo dục.

- 20 -
Nội dung cơ bản của cách tiếp cận này là tổ chức thực hiện những quy định
của nhà nƣớc về giáo dục, về nhà trƣờng với tiêu chí về tính hiệu lực đƣợc đặt
lên hàng đầu.
+ QLGD (QLNT) theo tiếp cận trong mối quan hệ với các yếu tố môi trƣờng
luôn tác động đến sự phát triển của giáo dục (nhà trƣờng) và nói ngắn gọn là

khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng nhƣ không đƣợc tạo ra phế
phẩm.
+ QLGD nói chung và quản lý nhà trƣờng nói riêng phải chú ý đến lao
động sƣ phạm so với lao động xã hội nói chung.
+ Trong QLGD các hoạt động quản lý chuyên môn, quản lý hành chính
đan xen vào nhau không thể tách rời.
+ QLGD đòi hỏi các yêu cầu cao về tính toàn diện, thống nhất, liên tục,
kế thừa và tính phát triển
+ QLGD phải thấm nhuần quan điểm quần chúng vì giáo dục là sự
nghiệp của quần chúng.
* Ngƣời ta chia QLGD ra hai loại là:
+ Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD đƣợc diễn ra ở tầm vĩ mô trên
phạm vi toàn quốc hoặc trên địa bàn tỉnh, thành phố.
+ QL nhà trƣờng: QLGD ở tầm vĩ mô trong phậm vi một đơn vị, một cơ
sở giáo dục.
+ Mục tiêu của QLGD: "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực
thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu
nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội".
1.4.2.2 Quản lý nhà trường.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trƣờng là thực hiện đƣờng
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đƣa nhà
trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status