Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim thái nguyên với doanh nghiệp - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
=======o O o=======
ĐỖ ĐÌNH TRƢỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA TRƢỜNG
CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN VỚI
DOANH NGHIỆP Luận văn thạc sĩ giáo dục học


Mã số : 60.14.05

Luận văn thạc sĩ giáo dục học Ngƣời hƣớng dẫn : PGS.TS Nguyễn Bá Dƣơng
Thái Nguyên, năm 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỤC LỤC TRANG
MỞ ĐẦU
3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
9

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
76
1. Kết luận 76
2. Kiến nghị 77
PHẦN PHỤ LỤC
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
92

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
MỘT SỐ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

BCH TW Ban chấp hành Trung ương
CB Cán bộ
CBGV Cán bộ giáo viên
CNH – HĐH Công nghiệp hoá hiện đại hoá
CNKT3 Công nhân kỹ thuật 3
CTCT HSSV Công tác chính trị học sinh sinh viên
CP Cổ phần
CSVC Cơ sở vật chất
Đoàn TNCSHCM Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
DN Doanh nghiệp
GD - ĐT Giáo dục - đào tạo
GV Giáo viên
HSSV Học sinh sinh viên

đề quản lý giáo dục - đào tạo.
Hiện nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người,
nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định
nhất đến sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia. Các nhà kinh tế đã
khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục và đào tạo
là đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng khinh tế nhanh và bền
vững của đất nước. Nhờ có sự ưu tiên đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển nguồn
nhân lực mà nhiều nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước
công nghiệp phát triển.
Ở Việt Nam, trong nhiều Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta
ngày càng nhấn mạnh vấn đề này. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng CSVN
khẳng định: “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững “.
Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, có chức năng đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật – nghiệp vụ ở trình độ sơ cấp
nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
thể tiếp tục học bổ sung hoặc nâng cấp trình độ lên cao nếu có nhu cầu và điều
kiện.

Trong vòng 1 thập kỷ gần đây chúng ta đã chuyển dần từ mô hình giáo dục
đào tạo khép kín sang mô hình giáo dục mở với hệ thống tạo điều kiện học tập suốt
đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, thực hiện liên kết đào
tạo giữa các nhà trường với các tổ chức kinh tế xã hội khác. Công tác quản lý giáo
dục đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học cũng đã được đổi mới một bước để
thích ứng với mô hình và cơ chế mới.Tuy nhiên thực tiễn cho thấy chất lượng đào

năm 1965 mà tiền thân là Trường công nhân kỹ thuật 3. Sau hơn 40 năm trưởng
thành và phát triển đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm gần
đây, bên cạnh việc mở rộng quy mô, ngành nghề đào tạo, đổi mới mục tiêu, nội
dung, phương pháp, hình thức đào tạo, nhà trường còn bắt đầu thực hiện liên kết
trong quá trình đào tạo giữa nhà trường và các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty
Thép Việt Nam – Nơi có nhu cầu sử dụng sản phẩm đào tạo của trường.
Liên kết đào tạo là kết quả đổi mới cả về nhận thức và hành động của nhà
trường trong công tác đào tạo, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi để gắn nhà
trường với thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo và đặc biệt là chủ động giải quyết vấn đề đầu ra – công ăn việc làm cho
Sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên thực tiễn liên kết đào tạo trong
mấy năm qua cho thấy:
- Còn khó khăn, lúng túng trong việc xây dựng lại mô hình đào tạo, đặc biệt
là cơ chế liên kết trong đào tạo, quản lý đào tạo nhằm thực hiện có hiệu quả mục
tiêu đào tạo đề ra.
- Việc bố trí, sử dụng và điều động giáo viên đi giảng dạy ở các doanh
nghịêp gặp rất nhiều khó khăn, nhất là ở một số Khoa có nhiều lớp đào tạo theo nhu
cầu của doanh nghiệp.
- Trong lĩnh vực quản lý đào tạo cũng có nhiều bất cập về mặt phân cấp quản
lý, phối hợp quản lý.
- Phần lớn các biện pháp quản lý công tác đào tạo là những biện pháp sử
dụng trong mô hình cũ, chưa được đổi mới trong điều kiện thực hiện liên kết đào
tạo nên bất cập, kém hiệu quả.
- Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với việc liên kết đào tạo giữa các
trường và các doanh nghiệp chưa cụ thể, chưa rõ ràng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Từ những lý do về mặt lý luận và thực tiễn như đã trình bày ở trên đã thôi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
5.1. Hiệu quả công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao đẳng
nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên hiện nay còn thấp nên đã ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng đào tạo.
5.2. Nếu xây dựng và thực thi một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết
đào tạo phù hợp, đồng bộ, có tính khả thi sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo của
Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên. 6. Phạm vi nghiên cứu :
6.1. Về khách thể nghiên cứu: Tập trung điều tra ở 200 sinh viên, 30 giảng
viên và cán bộ quản lý đào tạo, 30 cán bộ quản lý doanh nghiệp.
6.2. Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài luận văn chỉ tập trung điều tra, nghiên
cứu về các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo của Trường Cao đẳng nghề
Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên từ 2003 đến 2008.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu :
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những tài liệu lý luận có liên quan để làm
sáng tỏ cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Sử dụng các phương pháp của xã hội học để điều tra, khảo sát, trao đổi với
các khách thể nghiên cứu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp chuyên gia.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10 CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề :
Hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và doanh nghiệp đã được nhiều
nước tiên tiến trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng, nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo, đồng thời hiệu quả của hoạt động liên kết đào tạo đã mang lại lợi ích kinh tế to
lớn cho cả phía nhà trường và doanh nghiệp.
Đối với các trường thì sản phẩm là học sinh tốt nghiệp ra trường có tay nghề
cao, tiếp cận được với công nghệ thực tiễn của sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng

Thực tế ở Việt Nam chúng ta từ những năm 1995 đến nay, thực hiện Chủ
trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá công tác dạy nghề nên đã hình thành
mô hình các tập đoàn, tổng công ty, công ty trực tiếp quản lý một số trường đào tạo
nghề. Điển hình như Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dệt may
Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ, Tổng công ty Thép Việt Nam v..v.
Việc hình thành và phát triển các trường đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp để
đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật trực tiếp sản xuất của doanh
nghiệp và nhu cầu của xã hội ở nước ta trong thời gian qua là tất yếu khách quan.
Là nơi trực tiếp cung cấp lao động qua đào tạo nghề cho doanh nghiệp, phù hợp với
nhu cầu thực tế sử dụng của doanh nghiệp, người học được thực hành ngay trên
may móc, thiết bị đang được sử dụng ở doanh nghiệp.
Mặc dù có chủ trương, chính sách như vậy song ở nước ta cho đến nay thực
trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và doanh nghiệp được đánh giá là
vẫn còn yếu kém, chưa đồng bộ và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề
trên. Những nghiên cứu về liên kết đào tạo mới chỉ giới hạn trong ngành hoặc trong
lĩnh vực hẹp. Ví dụ: Vào những năm 70 của thế kỷ XX, tác giả Đạng Danh Ánh và
một số cán bộ thuộc Tổng cục dạy nghề lúc đó đã đi sâu nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy nghề trong các trường nghề.
Năm 1993, tác giả Trần Khánh Đức nghiên cứu vấn đề "Hoàn thiện đào tạo
nghề tại xí nghiệp". Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các trường, lớp dạy nghề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
đặt tại đơn vị sản xuất và trong một số lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa
chất. Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ đi sâu tìm hiểu: "Cơ sở lý luận và thực tiễn
phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất" . Năm
2004, trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học
cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy
nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng".
Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên được thành lập từ

hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa
những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là
những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản
xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản
xuất đó.
Khái niệm “ quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá
trình quản lý xã hội. Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, dưới đây là một số
nhận thức chung về khái niệm này.
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (
Người quản lý, tổ chức quản lý ) lên khách thể ( Đối tượng quản lý ) về các mặt
chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách,
các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có thể trên quy mô
toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị…
- Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương
tiện, tài chính v..v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước.
- Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển
của xã hội, đặc biệt là từ khi con người biết tiến hành những hoạt động lao động
chung.
- Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của quá trình lao động, nó là
hiện tượng xã hội xuất hiện sớm ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người. Khi con
người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội.
Theo K. Marx: Bất kỳ một hoạt động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào,
được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định sự quản
lý. Quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những
chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với
sự vận động riêng rẽ của nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14

“ thì : Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để
đạt mục tiêu của tổ chức.
Ở Việt Nam tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong giáo trình “ Quản lý kinh tế “ cho
rằng: Quản lý là tác động hướng đích của hệ thống chủ thể tới sự hoạt động của hệ
thống đối tượng bằng một hệ thống các biện pháp, phương pháp và các công cụ làm
cho hoạt động của hệ thống bị quản lý đó vận hành đúng theo yêu cầu của các quy
luật khách quan và phù hợp với định hướng và mục tiêu của hệ thống chủ thể quản
lý.
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng cần xem xét khái niệm quản lý ở hai góc
độ : Chính trị - xã hội và hành động. Ở góc độ chính trị – xã hội quản lý được hiểu
là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Còn ở góc độ hành động quản lý được hiểu
là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ
thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế – xã hội.
Một xã hội, một tổ chức muốn phát triển tốt thì trước hết phải có một cơ chế
quản lý tốt. Cơ chế quản lý ấy phải chi phối và tác động vào các lĩnh vực của xã
hội, tổ chức và làm cho nó vận động theo hướng tích cực mà chủ thể quản lý đã xác
định. Từ góc độ này tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng : Quản lý là quá trình
tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá
trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý
chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.
Những năm gần đây vấn đề nguồn nhân lực, nhân tài có vị trí đặc biệt quan
trọng đến nỗi nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý là quá trình tập hợp và sử
dụng các nhóm nguồn lực ( đặc biệt là nhân lực) theo định hướng mục tiêu để thực
hiện các nhiệm vụ.
Để khái quát và làm rõ được quy trình quản lý Richard Winter ( 2007) đã cho

- Tạo động lực : Đây là đòn bẩy, sức mạnh để tổ chức đơn vị phát triển, con
người tiến bộ.
- Phát huy nhân lực, vật lực, tài lực: Đây là điều kiện cụ thể tạo nên sức
mạnh nội lực, ngoại lực thúc đẩy tổ chức mình quản lý phát triển, đồng thời tránh
được lãng phí, tiêu cực trong bộ máy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Ở Việt Nam theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì quản lý có những
nhiệm vụ sau đây:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý.
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Xây dựng cơ cấu tổ chức.
- Xác định điều kiện, phương tiện để thực hiện mục tiêu kế hoạch.
- Chỉ đạo thực hiện.
- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất.
- Phối hợp hoạt động trong, ngoài tổ chức.
- Tổ chức, kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm.
- Điều chỉnh nội dung, cách thức, phương tiện, tổ chức cho phù hợp tình
hình.
- Đề xuất các chế độ chính sách và thực hiện chế độ chính sách.
Các nhà quản lý giáo dục ở các cấp cần xác định vai trò, chức năng quản lý.
Quản lý giáo dục phải căn cứ vào các chức năng nhiệm vụ trên để tác động đến bộ
máy mà mình quản lý.

1.2.2. Quản lý giáo dục.
Về nội hàm khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau.
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều khiển, phối hợp các
lực lượng xã hội nhằm thực hiện quá trình GD - ĐT của nhà trường theo yêu cầu

Quản lý giáo dục là một lĩnh vực quản lý kinh tế xã hội đặc biệt nhằm phát
triển dân tộc, phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội.

1.2.3. Quản lý đào tạo:
Quản lý đào tạo là một lĩnh vực quản lý bao gồm tất cả những vấn đề mà cơ
sở đào tạo thường làm và bằng cách đó cung cấp cho người học những tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo và năng lực nghề nghiệp có hiệu quả. Hay nói một cách khác, quản lý
đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý các mục tiêu cụ thể của các yếu tố sau:
- Mục tiêu đào tạo.
- Nội dung đào tạo.
- Phương pháp và hình thức đào tạo.
- Nguồn nhân lực đào tạo ( Giảng viên).
- Đối tượng đào tạo ( Sinh viên ).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
- Điều kiện đào tạo.
- Quy trình tổ chức đào tạo, đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các chuẩn mực
đảm bảo chất lượng đào tạo.
Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, nên người ta
còn cho rằng quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng.
Giáo dục đào tạo là một bộ phận của nền kinh tế xã hội. Nó được cơ cấu
thành hệ thống và là một bộ phận kết cấu hạ tầng của xã hội. Do đó quản lý giáo
dục, quản lý đào tạo thực chất là quản lý một lĩnh vực kinh tế – xã hội đặc biệt
nhằm đào tạo nguồn nhân lực lao động có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao
nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của một nền kinh tế – xã hội.
Cơ sở lý luận để đổi mới quản lý đào tạo được hình thành từ việc đúc kết quá
trình thực tiễn điều hành hoạt động đào tạo, kết hợp với lý luận quản lý kinh tế – xã
hội. Đồng thời từ cơ sở lý luận đó lại tác động trở lại, để hình thành chiến lược,

- Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa : Là một loại hoạt động đòi hỏi có
sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
- Khái niệm nghề ở Pháp: Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ
xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống.
- Khái niệm nghề ở Anh : Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo
trong khoa học, nghệ thuật.
- Khái niệm nghề ở Đức : Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực
lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó.
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt
với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.
Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác
nhau.

Ở Việt Nam: Nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất,
chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao
động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối,
nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có
thể thấy 1 số nét đặc trưng nhất định đó là :
+ Đó là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại.
+ Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
+ Là phương tiện để sinh sống.
+ Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội,
đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Nghề biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.


là thuộc về lãnh đạo của các trường dạy nghề. Chính bản thân họ phải ý thức được
việc cần phải cải tổ công tác quản lý để không ngừng tăng cường mối quan hệ hợp
tác giữa trường dạy nghề và doanh nghiệp trong liên kết đào tạo để góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo của đơn vị.

1.3. Mối quan hệ giữa quản lý và chất lƣợng đào tạo nghề.
1.3.1. Chất lƣợng và chất lƣợng đào tạo nghề.
Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp,
các hệ thống kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đối với các doanh
nghiệp chất lượng là chìa khoá và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay cũng cạnh tranh gay gắt, thu hút
người học và cung ứng sản phẩm sau đào tạo cho các thị trường lao động trong
nước và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.
Có nhiều khái niệm về chất lượng. Sau đây là một số khái niệm có thể xem
xét.
- Theo quan niệm của tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu : Chất lượng của
sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.
- Theo J.Juran ( Mỹ ): Chất lượng là tiềm năng thoả mãn nhu cầu của thị
trường với chi phí thấp nhất.
- Theo ISO 8402 -86: Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm,
những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những
điều kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công cụ, tên gọi sản phẩm.
- Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 – 94: Chất lượng là sự tập hợp các đặc tính
của một thực thể ( đối tượng ) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thoả mãn
những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
- Tại hội thảo “ Nâng cao chất lượng đào tạo” - Đại học quốc gia Hà Nội, tác
giả Lê Đức Ngọc cho rằng : Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của
người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo. Những năng lực đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- Khả năng hợp tác.
- Khả năng thuyết phục.
- Khả năng quản lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status