Nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng nghề cơ điện Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập - Pdf 24

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THỊ MINH PHƢƠNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO
CỦA TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
CƠ ĐIỆN - LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Thái Nguyên - 2012
2
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam được đánh giá là một nền kinh tế nhiều
tiềm năng với dân số trẻ đang là điểm thu hút các nhà đầu tư từ nhiều nước trên

hiện thành công đề án "Đổi mới và phát triển dạy nghề đến năm 2020" của Bộ
Lao Động - TB & XH với dự kiến đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo
nghề đạt 55%.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản bằng lý luận và thực tiễn về đào tạo
nghề ở một số nước trên thế giới và Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng đào tạo nghề của Trường Cao đẳng nghề Cơ điện –
Luyện kim Thái Nguyên trong giai đoạn vừa qua, tìm ra những ưu nhược điểm
của hoạt động đào tạo nghề, phân tích nguyên nhân dẫn đến kết quả đó.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi phù hợp với điều kiện nhà
trường để nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời kỳ hội nhập.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo
nghề của trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên và giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường trong thời kỳ hội nhập.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện thông qua số liệu từ năm
2008 – 2010 tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên .
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của một luận văn thạc sỹ, đề
xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường
Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên trong thời kỳ mới. Luận văn
có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong lĩnh vực đào tạo nghề.
4
4.2. Đóng góp mới của đề tài
Những nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho trường CĐN Cơ điện -
Luyện kim Thái Nguyên nói riêng và ngành dạy nghề nói chung nâng cao chất
lượng đào tạo nghề, góp phần thực hiện thành công chiến lược đào tạo nghề
giai đoạn 2011 – 2015.
5. Kết cấu của đề tài

phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Trên thế giới hiện nay có trên 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên
môn. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế
từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những
biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường,
nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng
hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề,
khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này
6
như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết
định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ
chế thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh,
nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn
nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”. Nhiều
nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác. Hơn nữa, các
nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa
học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về
phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa
dạng hóa. Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào
thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường
(dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300
nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau.
Luật dạy nghề số 76/2006/QH2011 ngày 29/ 11/ 2006 đã nêu rõ: " Dạy
nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khoá học" với "mục tiêu là đào tạo nhân lực kỹ
thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng
với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác
phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau

trong việc phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả nguồn nhân lực.
Trong đào tạo nghề, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu lao động mà
trước hết là gắn với người sử dụng lao động (các doanh nghiệp). Ở nhiều nước
như Nhật, Hàn Quốc…việc đào tạo nghề được tiến hành trong công ty, xí
nghiệp và đã chứng tỏ rất hiệu quả. Thực tế cho thấy, bao giờ cũng có độ trễ về
đào tạo so với nhu cầu sử dụng nên trong đào tạo nghề, có thể khắc phục bằng
cách chia nhỏ các giai đoạn đào tạo (đào tạo theo modul) hay thiết kế các
modul thích ứng…Đối với người lao động, việc đào tạo nghề và đào tạo lại có
thể tiến hành trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời.
Theo văn kiện Hội nghị thế giới về Giáo dục nghề nghiệp-UNESCO-
1999 thì “Hầu hết các học viên sau khi hoàn thành các chương trình giáo dục
nghề nghiệp đều hy vọng sẽ có cơ hội tiếp tục được đào tạo tại nơi làm việc hay
trong các cơ sở đào tạo. Vì vậy, việc quản lý chương trình và nội dung đào tạo
phải đảm bảo đầu vào linh hoạt và các cơ hội đầu ra trong suốt cuộc đời. Các
học viên tốt nghiệp các chương trình giáo dục nghề nghiệp mong muốn thu
nhận được những kỹ năng mới thông qua việc đào tạo lại, cần có các cơ hội học
tập suốt đời. Một số đề xuất nhằm tạo điều kiện cho hướng đi này bao gồm:
thiết kế các khóa học theo mô hình modul, giới thiệu phương pháp đánh giá dựa
trên năng lực, sử dụng hình thức học tập tự điều chỉnh nhằm đáp ứng các nhu
cầu của cá nhân và công nhận những kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng được
tích luỹ trước đó của người được đào tạo”. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, công
9
nghệ tin học phát triển hàng ngày, hàng giờ. Kinh tế phát triển mạnh, xã hội
thay đổi, nhiều ngành nghề mới xuất hiện và một số ngành nghề cũng mất đi.
Nền kinh tế chuyển từ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng
XHCN, năm 2006, Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO).
Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những
thách thức không nhỏ cho giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam . Quá trình tăng

Trong vài năm gần đây, kinh tế-xã hội Việt Nam có những bước phát
triển mạnh, việc thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao động
trong xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu của người lao động. Đó là được bồi dưỡng
nâng cao trình độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc cũng
như nghề nghiệp. Thực trạng về lao động và việc làm, về chất lượng nguồn
nhân lực ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo nghề. Nhà nước ta
đã đặt ra mục tiêu: ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú
trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công
nhân kỹ thuật lành nghề, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế.
Trong đào tạo nghề, không chỉ dừng ở việc đào tạo cho người lao động
có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà còn đào tạo và hình thành các năng lực
mềm (thích nghi, biến đổi ) để con người có thể linh hoạt trong lựa chọn nghề
và chuyển đổi nghề nghiệp. Các trường nghề cần được đầu tư chuyên sâu cho
nghề trọng điểm để có thể đào tạo được một đội ngũ đông đảo những người lao
động có trình độ lành nghề và tay nghề bậc cao.
Đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết trên, việc đào tạo nghề ở nước ta
sẽ có những bước chuyển biến mạnh mẽ, hòa nhập với thế giới. Sản phẩm đào
tạo-nguồn nhân lực-sẽ phát triển và có chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước và đáp ứng được những thách thức của quá trình toàn cầu
hóa mạnh mẽ hiện nay.
11
Như vậy, nền kinh tế hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao,
có thể thích ứng với nhiều loại hình nghề nghiệp. Từ đó, giáo dục nghề nghiệp
phải chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhân lực phải đa
năng…Người lao động phải biết di chuyển kĩ năng, di chuyển cảm xúc…khi
chuyển đổi công việc. Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho giáo dục nghề nghiệp
hiện đại.
1.1.1.4. Đặc điểm của đào tạo nghề:
- Thay đổi sự phân loại nghề nghiệp truyền thống theo lĩnh vực kinh tế-xã

Dạy nghề bao gồm phương thức dạy nghề chính quy và dạy nghề thường xuyên:
* Dạy nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề,
các trường trung cấp, đại học có đăng ký dạy nghề theo các khoá học tập trung
và liên tục kéo dài từ 3 tháng đến 36 tháng.
Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ năng
thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề.
Phương pháp dạy nghề trình độ trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng
lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực,
tự giác, khả năng làm việc độc lập của người học nghề.
Phương pháp dạy nghề trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực
thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự
giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm.
* Dạy nghề thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm,
phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo
điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo
việc làm.
1.1.1.6. Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề:
Trong thực tế, dạy nghề chịu ảnh hưởng vởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan:
13
* Yếu tố khách quan:
- Chính sách của nhà nước: Những năm gần đây mặc dù ngành dạy nghề
đã được quan tâm lớn của Nhà nước bằng các dự án chương trình mục tiêu
quốc gia về trang thiết bị dạy học, về nguồn cấp kinh phí cho đào tạo lao động
nông thôn với mục đích dịch chuyển dần cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp song kết quả thực hiện còn nhiều bất cập do đầu tư quá dàn trải.
- Tâm lý người học: Chủ yếu do tâm lý chuộng bằng cấp của người dân
cho rằng cơ hội tăng tiến của học sinh tại các trường đại học cao hơn các
trường dạy nghề, mặt khác nguồn đầu tư tài chính của gia đình cho các học sinh

khác cấp trung ương. Ở cấp cơ sở, hệ thống này được chính quyền tỉnh và địa
phương quản lý một phần. Vào năm 1998, trách nhiệm về Dạy nghề ở Việt
Nam được chuyển từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang một cơ quan mới được
thành lập là Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
tuy nhiên việc đào tạo kỹ thuật (chuyên nghiệp) ở trìknh độ trung cấp và đại
học vẫn thuộc Bộ GD-ĐT. Các trường đại học Sư phạm Kỹ thuật thuộc Bộ GD-
ĐT cung cấp giáo viên cho trường và các cơ sở đào tạo thuộc Bộ và các bộ
ngành khác.
Ngày 03 tháng 10 năm 2012 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có
công văn số 3566/LĐTBXH-TCDN gửi các Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc thông báo Danh sách mã
trường hình thức sở hữu trường CĐN,TCN đến ngày 01/8/2012. Theo đó, các
trường dạy nghề được phân bổ đều khắp các tỉnh thành trong cả nước với 317
trường dạy nghề công lập và 131 trường dạy nghề tư thục, các trường dạy nghề
tư thục chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh

15

(Nguồn : Tổng cục Dạy nghề)

16

CÔNG TY, TẬP
ĐOÀN CÁC TRƢỜNG
THUỘC ĐỊA
PHƢƠNG

Trƣờng
Trung
cấp nghề

Trƣờng
Cao
đẳng
nghề

Trƣờng
Trung
cấp nghề

Trƣờng
Cao
đẳng
nghề

Trƣờng
Trung
cấp nghề


CĐN
-
TCN
- SCN
- BDN
Được
đào
tạo:
-
TCN
- SCN
- BDN

Được
đào tạo:
-
CĐN
-
TCN
- SCN
- BDN

Được
đào
tạo:
- SCN
- BDN

17
- Về hình thức dạy nghề: Các cơ sở Dạy nghề với nhiều loại hình khác

nhu cầu của thị trường lao động về tay nghề và các kỹ năng mềm như tác phong
công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm. Kỹ năng nghề, năng lực nghề
nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát
triển trên thế giới và trong khu vực.
- Về số lượng trường nghề và số lao động được đào tạo: Mạng lưới cơ
sở dạy nghề mở rộng, phân bố tương đối hợp lý ở các ngành kinh tế, địa
phương, vùng, miền. Hiện nay cả nước có 136 trường cao đẳng nghề, 308
trường trung cấp nghề; 849 trung tâm dạy nghề (trong đó có 296 trung tâm
ngoài công lập) và hơn 1000 cơ sở khác (các cơ sở giáo dục - đào tạo, doanh
nghiệp,…) tham gia dạy nghề. Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập chiếm 35,4%.
Bộ LĐ-TBXH hội cho biết năm 2010, hệ thống Dạy nghề đã đào tạo
được khoảng 1,84 triệu học viên/sinh viên. Nhưng có lẽ, đóng góp lớn nhất
trong hệ thống Dạy nghề là đào tạo phi chính quy, tức là đào tạo tại chỗ trong
quá trình đi làm tại các doanh nghiệp, cho đến nay chưa có sự công nhận chính
thức nào về những năng lực mà người học đạt được qua hình thức này. Không
có số liệu thống kê cụ thể nào về số lượng người theo học nghề không chính
quy, nhưng khả năng và tiềm lực của loại hình này được chính phủ công nhận.
Việc cải cách hệ thống theo dự án sẽ giải quyết vấn đề công nhận các hình thức
đào tạo không chính quy thông qua cách tiếp cận về đào tạo và đánh giá đầu ra
dựa trên các tiêu chuẩn nghề.
1.1.2.3. Tiêu chuẩn đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của trường dạy nghề
a. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề
Quyết định số 09/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 27 tháng 3 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định:
- Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia bao gồm các quy định về mức độ
thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công
việc của một nghề.
19
- Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ

 Làm được các công việc đơn giản và công việc của nghề có tính lặp lại;
 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản ở một phạm vi hẹp về hoạt động của
nghề trong một số lĩnh vực, áp dụng được một số kiến thức nhất định khi thực
hiện công việc;
 Có khả năng tiếp nhận, ghi chép và chuyển thông tin theo yêu cầu, chịu
một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình.
+ Bậc 2 (chứng chỉ 2):
 Làm được các công việc đơn giản, công việc có tính lặp lại và làm được
một số công việc có tính phức tạp trong một số tình huống khác nhau nhưng
cần có sự chỉ dẫn;
 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản về hoạt động của nghề; áp dụng được
một số kiến thức chuyên môn và có khả năng đưa ra được một số giải pháp để
giải quyết vấn đề thông thường khi thực hiện công việc;
 Có khả năng suy xét, phán đoán và giải thích thông tin; có khà năng
làm việc theo nhóm, trong một số trường hợp có khả năng làm việc độc lập và
chịu phần lớn trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình.
+ Bậc 3 (chứng chỉ 3):
 Làm được phần lớn các công việc của nghề có tính phức tạp, công việc có
sự lựa chọn khác nhau và có khả năng làm việc độc lập mà không cần có sự chỉ dẫn;
 Hiểu biết và có kiến thức cơ bản về lý thuyết cơ sở, kiến thức chuyên
môn của nghề; áp dụng được các kiến thức chuyên môn và có khả năng nhận
biết để vận dụng các kiến thức để xử lý, giải quyết các vấn đề thông thường
trong các tình huống khác nhau:
 Có khả năng nhận biết, phân tích và đánh giá thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau; có khả năng hướng dẫn người khác trong tổ, nhóm; chịu trách
21
nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của mình về chất lượng theo tiêu
chuẩn quy định và chịu một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản
phẩm của người khác trong tổ, nhóm.
+ Bậc 4 (chứng chỉ 4):

TTDN là 11.600 người. Chia theo cấp trình độ giảng dạy có 6.880 giáo viên
dạy chuyên môn nghề ở trình độ cao đẳng nghề, 8.630 giáo viên dạy chuyên
môn nghề ở trình độ trung cấp nghề, 16.150 giáo viên dạy trình độ sơ cấp nghề
và 4.140 giáo viên dạy môn chung.
- Về chất lượng: Chất lượng của đội ngũ GVDN cũng rất khác nhau, chia
theo trình độ của giáo viên có 3,1% trên đại học, 73,7% Đại học và cao đẳng,
còn lại là Trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật. Trình độ tay nghề
đa phần đạt từ 3/7 trở lên. Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên đạt tiêu chuẩn trong các
trường dạy nghề mới chỉ đạt khoảng 63%.
- Một số tồn tại của đội ngũ giáo viên dạy nghề: Do hệ thống dạy nghề đa
dạng về cả loại hình cơ sở , ngành nghề và trình độ đào tạo nên đội ngũ giáo
viên dạy nghề (GVDN) của cả nước nói chung, cũng như Tỉnh Thái Nguyên và
Trường CĐN Cơ điện – Luyện kim nói riêng đa dạng về mọi mặt, trình độ
không đồng đều nên những tồn tại của đội ngũ GVDN hiện nay không phải là ít.
Những tồn tại, yếu kém của đội ngũ GVDN hiện nay nổi lên mấy vấn đề là
thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo. Đặc biệt thiếu
nghiêm trọng giáo viên cho các nghề mới, thiếu giáo viên giỏi thực sự. Mặt
khác, giáo viên dạy nghề nước ta ít đựoc tiếp cận với khoa học kỹ thuật
(KHKT), công nghệ sản xuất hiện đại nên chất lượng đào tạo nghề chắc chắn bị
hạn chế. Không những thế, họ còn nhiều hạn chế về năng lực sư phạm, cũng
như trình độ ngoại ngữ, tin học nên việc giảng dạy, cũng như khai thác, sử dụng
các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại vào đào tạo nghề còn gặp nhiều khó
khăn. Việc đào tạo GVDN ở các trường sư phạm kỹ thuật hiện nay là quá ít
( chiếm khoảng 10%), trong khi nhu cầu của xã hội ngày càng nhiều hơn. Điều
này đặt ra sự cần thiết phải có những phương hướng, mô hình đào tạo GVDN
23
một cách linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đào tạo giáo viên cho nhiều ngành nghề
khác nhau trong xã hội, đồng thời phải gắn đào tạo với mục đích sử dụng họ
sau khi ra trường. Phần lớn vẫn phân biệt giáo viên dạy nghề thành 2 loại giáo
viên lý thuyết và thực hành, nay chỉ nên có 1 loại giáo viên dạy nghề là tích

dạy nghề đáp ứng nhu cầu nguồn lao động có tay nghề cho sự nghiệp CNH,
HĐH. Mặt khác, các nguồn lực huy động từ nguồn trái phiếu Chính phủ, thu xổ
số kiến thiết chỉ dành đầu tư cho các bậc giáo dục - đào tạo khác, đào tạo
nghề chưa được quan tâm.
 Tốc độ tuyển sinh học nghề trong các năm qua tăng gấp 3 lần so với
tốc độ tăng nguồn lực đầu tư từ NSNN cho đào tạo nghề. Ngân sách Nhà nước
chỉ đảm bảo cho đào tạo nghề theo tốc độ tăng NSNN bình quân hàng năm.
Trong khi các nguồn lực tài chính khác đầu tư cho đào tạo nghề không tăng; giá
cả vật tư, nguyên nhiên vật liệu thực hành tăng nhanh, lạm phát năm sau cao
hơn năm trước Như vậy, dẫn đến kinh phí đầu tư cho một suất học nghề liên
tục bị giảm xuống trong thời gian qua.
 Do thiếu nguồn đầu tư cho đào tạo nghề, nên Ngân sách Nhà nước bố
trí dàn trải, nhiều khoản chỉ được chi “cầm chừng”, không được bố trí ngân
sách tới ngưỡng cần thiết. Do đó, thời gian đầu tư bị kéo dài nên việc sử dụng
nguồn ngân sách kém hiệu quả.
 Nguồn lực tài chính chưa đáp ứng được việc tập trung đầu tư hoàn
chỉnh theo từng nghề, từng nhóm nghề, từng trường trọng điểm tiếp cận trình
độ khu vực, quốc tế, vùng kinh tế trọng điểm, các vùng khó khăn như Tây Bắc,
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ
- Nguồn đóng góp của người học :
 Chính sách học phí học nghề tuy đã được sửa đổi, nhưng cũng chỉ đáp
ứng được khoảng 20% trong tổng chi cho đào tạo nghề. Vì đối với đào tạo nghề
việc chi phí đầu tư về cơ sở vật chất, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu thực tập rất
tốn kém.
 Mức đóng học phí của người học nghề hiện nay chưa cao, nhưng so
với người học nghề là những người có thu nhập thấp, thì mức đóng học phí
25
hiện hành là rất khó khăn. Vì vậy, nếu tăng mức đóng học phí của người học
nghề trên 20% trong tổng chi cho đào tạo nghề, để đạt mục tiêu: tính đúng, tính
đủ chi phí, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo nghề và có tích lũy cho các cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status