BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN DUY TIẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO
HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN DUY TIẾN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO
HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN NGỌC HỢI
NGHỆ AN - 2014
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Đóng góp của đề tài
8. Cấu trúc luận văn
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu trong nước
1.1.2. Nghiên cứu ngoài nước
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học
1.2.2. Quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường Cao đẳng
1.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của
giảng viên trường Cao đẳng
1.3. Một số vấn đề về quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường
Cao đẳng
1.3.1. Sự cần thiết phải quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
1.3.2. Mục đích, yêu cầu quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
1.3.3. Nội dung quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
1.3.4. Phương pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCKH của giảng
viên trường Cao đẳng
1.4.1. Đổi mới quản lý giáo dục đại học Việt Nam
Kết luận chương 1
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
39
KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót
Kết luận chương 2
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
74
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
VINATEX TP.HCM
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
3.2. Các giải pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường
Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí
Minh
3.2.1. Tăng cường công tác chỉ đạo và sự phối hợp giữa các đơn vị
trong và ngoài trường tổ chức có hiệu quả hoạt động
NCKH của giảng viên
3.2.2. Xây dựng phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động
NCKH, đa dạng hóa các nguồn lực
3.2.3. Kết hợp nghiên cứu khoa học với hoạt động giảng dạy
3.2.4. Kết hợp với doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu khoa học
3.2.5. Hoàn thiện qui chế về quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
89
3.2.6. Xây dựng cơ chế thi đua khen thưởng, nhân điển hình tiên tiến
trong hoạt động NCKH
3.3. Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
3.3.1. Mục đích Thăm dò
3.3.2. Nội dung và phương pháp Thăm dò
3.3.3. Đối tượng Thăm dò
Biểu:
Biểu đồ 2.1: Kết quả học tập của HSSV từ năm 2009 - 2013
Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Kết quả rèn luyện của HSSV từ năm 2009 - 2013
Reference source not found
Sơ đồ 1.1: Chức năng quản lý
Sơ đồ 2.1- Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường Cao đẳng
Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex TP.Hồ Chí Minh
Bảng 2.6 - Kết quả học tập của HSSV ở Trường Cao đẳng KT-KT
Vinatex TP.Hồ Chí Minh
Biểu đồ 2.2 - Kết quả học tập của HSSV từ năm 2009 - 2013
Bảng 2.7- Kết quả rèn luyện của HSSV ở Trường cao đẳng KT-KT
Vinatex TP.Hồ Chí Minh
48
Biểu đồ 2.3- Kết quả rèn luyện của HSSV từ năm 2009 - 2013
Bảng 2.8 - Các công trình khoa học đã được nghiệm thu
Bảng 2.9 - Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện
các biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
Bảng 2.10 - Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện
quy trình quản lý hoạt động NCKH của giảng viên
Bảng 2.11-Tổng hợp kết quả khảo sát quan niệm của giảng viên
Bảng 2.12 - Khảo sát thực trạng nhận thức của giảng viên về công tác
quản lý hoạt động NCKH
Bảng 3.1: Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất (n=178 )
Bảng 3.2 - Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất (n= 178)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, trong xu thế
hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hóa hiện nay thì giáo dục và đào tạo
đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và ngày càng được Đảng và Nhà nước ta
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học của giảng viên ở Trường Cao đẳng KT-KT Vinatex
TP.HCM.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên trường Cao đẳng.
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng KT-KT Vinatex
TP.HCM.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên là một nội dung quan trọng
trong hoạt động đào tạo của nhà trường; nếu đề xuất được các giải pháp có tính
khoa học, thiết thực, khả thi thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng KT- KT Vinatex TP.HCM.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động NCKH của
giảng viên ở trường cao đẳng.
5.2. Nghiên cứu thực trạng của công tác quản lý hoạt động NCKH
của giảng viên Trường Cao đẳng KT-KT Vinatex TP.HCM.
3
5.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng KT-KT Vinatex TP.HCM.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp các cơ sở, tài liệu lý luận về quản
lý giáo dục và lý luận quản lý nghiên cứu khoa học.
Phương pháp lịch sử nghiên cứu lịch sử vấn đề, tìm hiểu, khai thác
các công trình nghiên cứu về quản lý công tác NCKH trong trường và
quản lý nhà trường để làm cơ sở tiếp tục cho các hoạt động nghiên cứu.
khoa học của giảng viên trường Cao đẳng
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng
viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ
Chí Minh
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục đại học được quan tâm hàng đầu vào giai đoạn những thập
niên cuối thế kỷ XX, khi khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ mạnh
mẽ. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình
đào tạo ở các trường đại học đã gắn chặt chẽ với NCKH, với thực tiễn cuộc
sống. NCKH đóng một vai trò, một sứ mệnh to lớn là căn cứ để các trường
cập nhật, đổi mới chương trình và nội dung đào tạo nhằm đưa nền giáo dục
nước ta hội nhập với khu vực và thế giới. Việc tìm ra các giải pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng NCKH trong các trường đại học là một trong
những vấn đề được quan tâm của rất nhiều nhiều chuyên gia, khoa học có
tâm huyết trong và ngoài nước.
1.1.1. Nghiên cứu trong nước
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển KHCN, GD&ĐT,
các nghị quyết, các chủ trương đều luôn coi trọng KHCN. Tại Đại hội Đảng
lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó KHCN được coi là
động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước; Nghị quyết
TW2 khoá VIII (1996) đã khẳng định quyết tâm của Đảng trong phát triển
KHCN, coi KHCN là quốc sách hàng đầu, khẳng định vai trò nền tảng động
lực để thúc đẩy CNH-HĐH đất nước, nghị quyết đã nhấn mạnh "Các trường
đại học phải là trung tâm NCKH, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công
Đây cũng là các văn bản quan trọng trong định hướng sự phát triển
KHCN, đặt ra các mục tiêu cụ thể về quản lý hoạt động KHCN trong các
trường đại học, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Từ nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý hoạt
động KHCN nên một số nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về tính
hiệu quả của nó qua các đề tài:
Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao
cho chủ trì đề tài: "Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao
hiệu quả hoạt động KHCN và lao động sản xuất trong nhà trường" mã số
B91 - 38-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm [30].
Năm 1995, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao
cho chủ trì đề tài "Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công
nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam", do Thân Đức Hiền làm
chủ nhiệm [17].
Các đề tài có tên trên được tiến hành nghiên cứu và đã có những đóng
góp cho công tác quản lý hoạt động KHCN của ngành giáo dục cũng như điều
tra thống kê nguồn lực KHCN của các trường đại học. Các biện pháp được đề
ra cũng chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định do sự nghiệp đổi mới
quản lý kinh tế xã hội có nhiều thay đổi đang đặt ra nhiều yêu cầu mới.
Bài viết "Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng
đào tạo" của Nguyễn Tấn Phát (1999); tác giả đều nhấn mạnh việc đưa
NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại
những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao
hiệu quả đào tạo ở các trường đại học [22].
Năm 1992, giáo trình "Phương pháp luận và các phương pháp nghiên
cứu khoa học giáo dục" của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức đã đưa ra
những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, những
8
nguyên tắc phương pháp luận chung về phương pháp luận khoa học giáo dục,
những nguyên tắc và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa học để
Tóm lại, qua các văn bản, hội thảo và công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước, có thể thấy các tác giả quan tâm tới các vấn đề về phương pháp
luận và phương pháp tổ chức quản lý NCKH của GV cũng như những kỹ
thuật và thủ tục tổ chức cho giảng viên NCKH. Những kết quả nghiên cứu
trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng NCKH của GV trong
các trường đại học.
Tuy nhiên, để chất lượng hiệu quả hoạt động đề tài NCKH của GV được
nâng cao hơn nữa, chúng ta cần tăng cường nghiên cứu các biện pháp cụ thể
phù hợp với thực tế đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Nghiên cứu ngoài nước
Trong các công trình triết học, thiên tài Lênin đã xây dựng cơ sở phương
pháp luận khoa học của nền khoa học tự nhiên hiện đại và cũng theo sáng
kiến của Lênin lần đầu tiên trong lịch sử khoa học, Liên Xô bắt đầu kế hoạch
hoá khoa học trong quy mô toàn quốc đề ra và thực hiện thành công chính
sách phát triển khoa học thống nhất trong toàn quốc.
W. Humboldt (1976 - 1835) người sáng lập trường đại học Berlin cũng
đã có ý kiến cho rằng với nhiệm vụ đi tìm tri thức, trường đại học không thể
gạt bỏ toàn bộ lĩnh vực NCKH cho các viện khoa học và nếu làm như vậy thì
đã tự phủ định mình.
Trong tác phẩm “Quản lý công tác nghiên cứu khoa học” của K.Bexle,
E.deisen, Xlasinxki do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếng Nga, Nguyễn Xuân
Khoa hiệu đính (1983), tại thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội [34]. Đây là một
quyển sách phản ánh lý luận quản lý xã hội chủ nghĩa, mang nặng tư tưởng
10
bao cấp, kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ Liên Xô và hệ thống các
nước xã hội chủ nghĩa đang phát triển. Dù có nhiều điểm lạc hậu do lịch sử
nhưng có nhiều vấn đề vẫn còn giá trị. Chẳng hạn, các tác giả đã đề cao vai
trò của hoạt động nghiên cứu khoa học trong sự phát triển của xã hội và chỉ ra
những điểm đặc thù của công tác quản lý hoạt động NCKH so với quản lý các
lĩnh vực khác. Trong đó, đáng lưu ý là việc cần xây dựng chính sách ưu tiên
hành năm 2000 nêu “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật,
quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” [26, tr.1].
1.2.1.2. Nghiên cứu khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học
* Nghiên cứu khoa học
Trong các tài liệu hiện nay có khá nhiều định nghĩa về NCKH, sau đây
xin trình bày một số tiêu biểu nhất:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm (2000): "NCKH là hoạt động hướng xã hội
vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc phát hiện ra bản
chất sự việc, phát triển nhận thức khoa học và thế giới khách quan và cách
vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới" [9,tr.9].
Theo tác giả Nguyễn Văn Đệ - Phạm Minh Hùng (2013) thì “Nghiên cứu
khoa học là hoạt động nhằm khám phá ra những cái mới về bản chất của đối
tượng nghiên cứu, sáng tạo ra những phương pháp và phương tiện kỹ thuật
mới cao hơn, giá trị hơn” [10,tr.14].
Tác giả Phạm Viết Vượng (2001) đã viết: "NCKH là hoạt động có mục
đích, có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ của các nhà khoa học nhằm khám
phá ra bản chất và quy luật của thế giới khách quan và vận dụng chúng vào
việc cải tạo thế giới" [25,tr.21].
12
Tác giả Lưu Xuân Mới (2003), trình bày quan điểm của mình như sau:
"NCKH là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc
thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiến, để chỉ ra một
cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến" [20]
Theo Luật Khoa học và Công nghệ " Nghiên cứu khoa học là hoạt động
khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự
nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn"
[26,tr.1].
Có thể hiểu: NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất,
quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp
nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
1.2.2. Quản lý hoạt động NCKH của giảng viên trường Cao đẳng
1.2.2.1. Quản lý
Người ta quan niệm “quản lý” là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là
một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế
độ xã hội, mọi quốc gia, dân tộc và trong mọi thời đại. Trong thời đại ngày
nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Quản lý trở
thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và có
liên quan đến tất cả mọi người.
Khái niệm “quản lý” là một khái niệm rất chung và rộng. Nó được dùng
cho cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như quản lý giới
sinh vật, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý.
Theo quan điểm của điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, kỹ thuật, sinh học) nó bảo
14
toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là tác động hợp quy
luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động
có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các
ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm
duy trì tính hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu.
Như vậy, hoạt động quản lý là tất yếu tồn tại ở mọi loại hình tổ chức,
mọi xã hội. Khái niệm “quản lý” đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Theo Harol Koontz (1999): "Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự
nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức" [32,tr.31].
Theo Thomas.J.Robbins - Wayned Morrison (1999): "Quản lý là một
nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [35,tr.19].
Theo Aunapu F.F (1994): "Quản lý là khoa học và là một nghệ thuật tác
động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được
những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều
thành phần có tác động qua lại lẫn nhau" [31,tr.75].
lý là một khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ, đặc biệt là
mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Quản lý không những là một khoa học mà còn là một nghệ thuật bởi lẽ
quản lý là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong
những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã đúc kết được, người
quản lý qua đó để áp dụng kỹ năng tổ chức con người và công việc. Sự tác
động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi,
16
phấn khởi, đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho
tổ chức và cho cả xã hội.
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và những
biến động không ngừng của nền KT-XH, công tác quản lý ngày càng trở
thành nhân tố quan trọng trong sự thành bại của đơn vị, thậm chí ảnh hưởng
đến cả vận mệnh quốc gia. Vì thế, những người làm công tác quản lý hôm nay
không những phải có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, có phẩm chất
đạo đức tốt mà còn phải là người được bồi dưỡng về khoa học quản lý, nghệ
thuật quản lý, năng lực tổ chức và có lòng tận tâm với công việc.
Thực chất của hoạt động quản lý là việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể
quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý luôn là con người và có cơ cấu
tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản lý. Khách thể
quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý, bao
gồm con người, các tài nguyên, tư liệu sản xuất. Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt
lịch sử khoa học quản lý: Con người là yếu tố quan trọng nhất trong khách thể
quản lý.
Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được những nhân tố
con người trong tổ chức.
Hoạt động quản lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với
người làm quản lý, đó là những chức năng chung và cơ bản của hoạt động
quản lý.
* Chức năng quản lý