1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Trang
Lời cảm ơn
i
Mục lục
ii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
vi
Danh mục các bảng
viii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG
VIÊN Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC
6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
6
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước
9
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
14
2
nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên ở Trường Dự bị Đại
học Dân tộc
Tiểu kết chương 1
35
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC SẦM SƠN
37
2.1. Khái quát về Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
37
2.1.1. Lịch sử xây dựng phát triển của Trường Dự bị Đại học Dân tộc
Sầm Sơn
37
2.1.2. Nhiệm vụ của Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
38
2.1.3. Cơ cấu tổ chức Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
41
2.1.4. Đội ngũ cán bộ giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm
Sơn
42
2.1.5. Thực trạng cơ sở vật chất thiết bị dạy học và quản lý cơ sở vật
chất thiết bị dạy học ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
44
2.2. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ,
giảng viên ở Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn.
49
2.2.1. Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học
49
2.2.2. Kết quả số lượng công trình công bố
LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
SẦM SƠN
3.1. Nguyên tắc đề xuất giải pháp
68
3.1.1. Bảo đảm tính mục tiêu
68
3.1.2. Bảo đảm tính đồng bộ
68
3.1.3. Bảo đảm tính thực tiễn
69
3.1.4. Bảo đảm tính khả thi
69
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân
tộc Sầm Sơn
70
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ giảng viên Trường Dự bị Đại
học Dân tộc Sầm Sơn về sự cần thiết phải quản lý hoạt động nghiên
cứu khoa học
70
3.2.1.1. Mục tiêu của giải pháp
70
3.2.1.2. Nội dung giải pháp
70
3.2.1.3. Cách thức thực hiện giải pháp
70
3.2.2. Xây dựng định mức nghiên cứu khoa học cho từng chức danh
trong Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn
75
Đại học Dân tộc Sầm Sơn
3.2.5.1. Mục tiêu của giải pháp
90
3.2.5.2. Nội dung giải pháp
91
3.2.5.3. Cách thức thực hiện giải pháp
91
3.3. Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất
95
Tiểu kết chương 3
98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
100
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU - SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Tổng hợp chung trình độ đội ngũ giảng viên Trường DBĐH Dân tộc
Sầm Sơn, tính đến tháng 3/2014 42
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn 42
Bảng 2.2: Tổng hợp chung thâm niên dạy học đội ngũ giảng viên trường DBĐH
dân tộc, tính đến tháng 12/2013 43
Bảng 2.3: Tổng hợp chung kết quả xếp loại năng lực chuyên môn đội ngũ giảng
viên Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn năm học 2013 - 2014 43
Bảng 2.4: Tổng hợp chung CSVC Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn tính
trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản
lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công
nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và
công nghệ. Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát
triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và
Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ
khoa học và công nghệ.
6
Ngày 07/11/2013 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân
công bố khởi động dự án FIRT do Ngân hàng thế giới World Bank dự án tài
trợ đầu tiên cho Việt Nam với số vốn lên tới 110 triệu USD. Thông qua việc
tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng
công nghệ, thúc đẩy sáng tạo, đổi mới công nghệ để tạo thêm giá trị gia tăng
cho nền kinh tế. Những tiêu chí rất phù hợp với định hướng phát triển khoa
học công nghệ của Việt Nam, điều này sẽ giúp lĩnh vực này hoàn thành những
mục tiêu đã và đang đặt ra.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) ngày
05/11/2013 nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ
trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lượng GDĐT trong thời kỳ
CNH-HĐH, lĩnh vực GDĐT nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng,
góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên chất
lượng và hiệu quả còn thấp so với yêu cầu nhất là giáo dục Đại học, giáo dục
nghề nghiệp. Hệ thống GDĐT thiếu tính liên thông giữa các trình độ và giữa
các phương thức. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất,
kinh doanh và nhu cầu thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc… Đặc biệt là 9 nhiệm vụ, giải
pháp cho nền giáo dục từ nay cho đến năm 2030: “Thứ 8, nâng cao chất lượng,
hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học
chất lượng NCKH cũng như chất lượng đào tạo giảng viên và cán bộ quản lý.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu
quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng
viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
8
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH học của đội ngũ CBGV Trường
Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý hoạt động NCKH của CBGV Trường Dự bị Đại học
Dân tộc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội
ngũ CBGV Trường DBĐH Dân tộc Sầm Sơn
4. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của đội ngũ CBGV
Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn nếu đề xuất được các giải pháp có
cơ sở khoa học và có tính khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động NCKH của
đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc.
5.2. Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động NCKH của
đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn.
5.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH
của đội ngũ CBGV Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm Sơn.
6. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu
10
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học Dân tộc Sầm
Sơn.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Dự bị Đại học
Dân tộc Sầm Sơn.
11
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN
Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC DÂN TỘC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục đại học được quan tâm hàng đầu vào giai đoạn những thập
niên cuối thế kỷ XX, khi KHCN phát triển với tốc độ mạnh mẽ. Để đáp ứng
yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, quá trình đào tạo ở các
trường đại học đã gắn chặt chẽ với NCKH, với thực tiễn cuộc sống. NCKH
đóng một vai trò, một sứ mệnh to lớn là căn cứ để các trường cập nhật, đổi
mới chương trình và nội dung đào tạo nhằm đưa nền giáo dục nước ta hội
nhập với khu vực và thế giới. Việc tìm ra các giải pháp hay các biện pháp
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả NCKH trong các trường đại học là một trong
những vấn đề được quan tâm của rất nhiều nhà chuyên gia, khoa học có tâm
huyết trong và ngoài nước.
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
dạy và nghiên cứu các trường đại học tiến hành đánh giá thường xuyên các
mặt mạnh và mặt yếu liên quan đến các chương trình nghiên cứu và giảng
dạy” [2, tr.59]
Trong quản lý NCKH, một số nước phát triển đã sử dụng phương pháp
đánh giá để quản lý hiệu quả các công trình NCKH như: Đại học Hà Lan, Hoa
Kì, Thụy Sĩ, Đức. Ở Đại học Bắc Kinh, Thanh Hoa của Trung Quốc đã quan
tâm đến năng lực đào tạo, nghiên cứu chuyển giao công nghệ hiện đại. Sự
hoạt động nghiên cứu và phát triển KTXH; tổ chức nghiên cứu; quản lý nâng
cao chất lượng nghiên cứu… [17, tr.264-291].
Hoa Kỳ có quy định riêng cho quản lý NCKH của giảng viên, như Khoa
13
Sinh trường Đại học Brokport Bang New York năm 2000 đã đề ra những tiêu
chí cụ thể hóa 30% số giờ chuẩn hoạt động NCKH của giảng viên. Quy định
này thuận lợi cho việc xem xét đánh giá những đóng góp của giảng viên và để
xem xét chức danh khoa học. Trong báo cáo tự đánh giá của trường Đại học
Newcastle (Úc) và Đại học Ganganagar (Ấn Độ) các tiêu chí đánh giá về
NCKH của giảng viên các trường được xem là một mặt quan trọng trong đánh
giá chất lượng GDĐT của trường.
Nghiên cứu phát triển giáo dục và NCKH các nước châu Âu để đưa tư
tưởng mới vào giáo dục đại học sư phạm với các môn học sâu rộng, tổng quát
cùng với tham khảo nội dung chương trình dạy tại đại học Oxford và Đại học
Camridge. Tại Ấn Độ thiết lập ủy ban nghiên cứu giáo dục để tái tổ chức
khoa học, cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá; giáo dục tuyền thông… [33
tr.27]
Trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đánh giá
NCKH giáo dục góp phần cải thiện nề giáo dục quốc gia và xây dựng kế
hoạch phát triển khoa học giáo dục theo hướng phát triển đào tạo liên thông
và dịch vụ xã hội.
UNESCO đã tổng kết kinh nghiệm: “Cơ cấu tổ chức quản lý chỉ phát
Ba là, xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD đại học có bản lĩnh
chính trị, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên
môn cao, phong cách quản lý và giảng dạy tiên tiến hiện đại.
Bốn là, tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo, trực tiếp giải quyết những vấn đề từ thực tiễn phát triển
KTXH và tăng nguồn thu cho nhà trường.
Năm là, đổi mới cơ chế tài chính GDĐH nhằm đa dạng hoá nguồn lực
và nâng cao hiệu quả đầu tư.
15
Sáu là, đổi mới quản lý GDĐH theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao
trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các trường đại học.
Bảy là, nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH trong quá trình hội
nhập quốc tế.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển KHCN, GDĐT,
các nghị quyết, các chủ trương đều luôn coi trọng KHCN. Tại Đại hội Đảng
lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó KHCN được coi là
động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước; nghị quyết TW2
khoá VIII (1996) đã khẳng định quyết tâm của Đảng trong phát triển KHCN,
coi KHCN là quốc sách hàng đầu, khẳng định vai trò nền tảng động lực để
thúc đẩy CNH-HĐH đất nước, Nghị quyết đã nhấn mạnh “Các trường đại học
phải là trung tâm NCKH, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào
sản xuất và đời sống”. Nghị quyết 37/TW của Bộ Chính trị khẳng định “Mỗi
trường đại học phải là một cơ sở giảng dạy, đồng thời là một cơ sở NCKH”
cho thấy sự quan tâm hơn nữa của Đảng về vai trò của KHCN trong các
trường đại học. Tại Nghị quyết 26/TW của Bộ chính trị tiếp tục nhấn mạnh
“Các trường đại học vừa là cơ sở nghiên cứu và ứng dụng KHCN” và “đảm
bảo kết hợp giữa viện nghiên cứu và trường đại học, gắn nghiên cứu triển
khai với sản xuất kinh doanh”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) ngày 05/11/2013 nêu rõ, thực
động KHCN mà đã có các nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về tính
hiệu quả của nó qua các đề tài:
Năm 1991 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GDĐT giao
cho chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao
hiệu quả hoạt động KHCN và lao động sản xuất trong nhà trường” mã số
B91-38-14 do KS Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm [49].
17
Năm 1995 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GDĐT giao
cho chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực KHCN của các
trường đại học và cao đẳng Việt Nam” đề tài độc lập cấp Bộ, do GS.TS Thân
Đức Hiền làm chủ nhiệm [20].
Các đề tài có tên trên được tiến hành nghiên cứu và đã có những đóng
góp cho công tác quản lý hoạt động KHCN của ngành giáo dục cũng như điều
tra thống kê nguồn lực KHCN của các trường đại học. Các biện pháp được đề
ra cũng chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định do sự nghiệp đổi mới
quản lý KTXH có nhiều thay đổi đang đặt ra nhiều yêu cầu mới.
Bài viết “Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng
đào tạo” của Nguyễn Tấn Phát [36]; Các tác giả đều nhấn mạnh việc đưa
NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại
những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao
hiệu quả đào tạo ở các trường sư phạm.
Năm 1992, giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên
cứu khoa học giáo dục” của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức [21] đã đưa
ra những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, những
nguyên tắc phương pháp luận và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa
học.
Lê Tử Thành (1996), “Giáo trình Logic học và phương pháp luận
nghiên cứu khoa học”, đã giải đáp những yêu cầu của sinh viên, học viên cao
học về kiến thức và cách tiến hành NCKH hiệu quả [47]. Tác giả Nguyễn Văn
dự bị đại học.
Trong những năm gần đây, có khá nhiều bài viết về hoạt động KHCN
của các trường đại học, cao đẳng được đăng trên các tạp chí đều đề cập tới các
giải pháp, biện pháp nâng cao chất lượng KHCN với đào tạo và thực tiễn kinh
19
tế xã hội trong việc thực hiện các mục tiêu của các trường đại học.
Các giáo trình về phương pháp NCKH hay phương pháp luận NCKH
của các tác giả, như: Phạm Viết Vượng, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Hộ, Phạm
Hồng Quang, Lưu Xuân Mới,… đều nhằm cung cấp những kiến thức chung
về phương pháp luận, phương pháp cấu trúc công trình NCKH.
Tóm lại, qua các văn bản, hội thảo và công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước, có thể thấy các tác giả rất quan tâm tới các vấn đề phương pháp
luận và phương pháp tổ chức quản lý NCKH cũng như những kỹ thuật và thủ
tục tổ chức NCKH. Những kết quả nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào
việc nâng cao chất lượng NCKH trong các trường cao đẳng, đại học.
Tuy nhiên, để chất lượng hiệu quả hoạt động đề tài NCKH của đội ngũ
CBGV được nâng cao hơn nữa, chúng ta cần tăng cường nghiên cứu các biện
pháp cụ thể phù hợp với thực tế đào tạo của Trường Dự bị Đại học Dân tộc
Sầm Sơn trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Nghiên cứu khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học
1.2.1.1. Nghiên cứu khoa học
- Khoa học: Khoa học là những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Hay nói cách khác khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm
tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy
để sáng tạo ra các nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hiện tượng
nhằm biến đổi trạng thái của chúng.
- Nghiên cứu khoa học: Trong các tài liệu hiện nay có khá nhiều định
nghĩa về NCKH, sau đây xin được điểm tới những ví dụ tiêu biểu nhất:
phương pháp triển khai, phương pháp thực nghiệm đến quá trình nhận thức để
cải tạo thế giới. Kết quả trong nghiên cứu còn là quá trình phát triển tư duy
21
khoa học một cách mới mẻ, sản phẩm khoa học còn chứa đựng yếu tố mới.
1.2.2.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động NCKH mang tính đặc trưng thông tin, đó là đòi hỏi phải có
tính chất khái quát cao, thông tin mới, có giá trị phục vụ cho nghiên cứu,
thông tin do nghiên cứu đem lại phải khách quan và có độ tin cậy cao.
Hoạt động NCKH đòi hỏi phải mạnh dạn, mạo hiểm chính là ở chỗ chủ
thể nghiên cứu dám đi sâu vào nghiên cứu những lĩnh vực khó khăn, hoặc ít
người quan tâm, đó là các đề xuất các ý kiến mạnh dạn, thẳng thắn, có khi cả
vấn đề nhạy cảm… các nhà khoa học phải dấn thân vào nghiên cứu với những
giả thiết mới có luận cứ và sẵn sàng chấp nhận sự thất bại.
Hoạt động NCKH còn mang tính “phi kinh tế” trong nghiên cứu. Đặc
điểm này cho thấy thực tế trong NCKH không thể tính lời hay lãi, giá trị kinh
tế không thể đưa lên bàn cân để đong đếm, khó hạch toán về giá trị kinh tế,
chúng ta chỉ xem xét kết quả hay sản phẩm nghiên cứu đóng góp cho sự
nghiệp khoa học.
Tính độc đáo của cá nhân kết hợp với vai trò của tập thể khoa học trong
xu thế hội nhập hiện nay sự hợp tác trong NCKH là rất quan trọng. Nếu
không có đặc trưng này trong NCKH thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không tạo
được các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sự thiếu hợp tác gắn kết giữa các nhà
khoa học, các chuyên ngành nghiên cứu với nhau là sự lãng phí rất lớn trong
hoạt động NCKH, thể hiện sự thiếu đồng nhất chưa tìm được tiếng nói chung
trong NCKH.
- Hoạt động KHCN: Bao gồm NCKH, nghiên cứu và phát triển công
nghệ, dịch vụ KHCN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý
hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KHCN.
Dưới góc độ hành động: “Quản lý là quá trình điều khiển những đối
tượng quản lý để đạt được mục tiêu mong muốn”
Dưới góc độ kinh tế học: “Quản lý là tính toán sử dụng các nguồn lực
một cách hợp lý nhất để đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất”
Tóm lại quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều
khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý.
Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng
quản lý, nếu không xác định được các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý
không thể điều hành được hệ thống quản lý.
1.2.2.2. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học: Được hiểu theo hai cấp độ
khác nhau cấp vĩ mô và cấp vi mô:
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý nghiên cứu khoa học được hiểu là những
tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy
luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất
đến các đề tài nghiên cứu khoa học) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu phát triển KHCN nói chung và GDĐT nói riêng.
Cũng có thể định nghĩa quản lý nghiên cứu khoa học là hoạt động tự
giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám
sát… một cách có hiệu quả các khâu, các nguồn lực cho NCKH (nhân lực, vật
lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển KHCN, đáp ứng yêu cầu phát
triển KTXH.
Đối với cấp vi mô: Quản lý nghiên cứu khoa học được hiểu là hệ thống
những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp
quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, công nhân viên, tập thể
học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GDĐT của nhà trường.
24
Cũng có thể định nghĩa quản lý NCKH thực chất là những tác động của
phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Trong xã hội học, một hiện
tượng, một sự biến cố có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực đối với
lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực đó. Hiệu quả của một cuộc
điều tra xã hội học là kết quả tối ưu đạt được so với mục tiêu của cuộc điều tra
đó.
Có thể hiểu hiệu quả là: mức độ thực hiện mục tiêu liên quan đến việc
sử dụng nguồn lực được huy động.
Theo quan điểm của chúng tôi: Hiệu quả là kết quả đạt được tối ưu và làm
cho những vấn đề trong phạm vi ảnh hưởng của nó tốt lên mà không làm những
cái khác xấu đi
1.2.3.2. Hiệu quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Được hiểu là mức độ thực hiện những mục tiêu NCKH đã đề ra trong
phạm vi nguồn lực của mình.
Mục tiêu giáo dục là kết quả dự định cần đạt được của hoạt động giáo
dục. Kết quả này đạt được trên hai mức độ. Đó là: Những phẩm chất, năng
lực đạt được của người học trong quá trình đào tạo ở trong nhà trường và sự
phát huy những phẩm chất, năng lực đó khi người học bước vào cuộc sống
lao động ngoài xã hội.
Có thể thấy rằng khái niệm về hiệu quả rất đa dạng. Do đó các nhà nghiên
cứu giáo dục đã đưa ra khái niệm tương đối về hiệu quả giáo dục nói chung, hiệu
quả NCKH nói riêng
Nâng cao hiệu quả công tác quản ký hoạt động NCKH trong đơn vị
trường học sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động giảng dạy trong các trường đại
học, nâng cao chất lượng dạy và học.
Hoạt động NCKH nói chung, hiệu quả quản lý hoạt động NCKH nói riêng