1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Các thành phần kinh tế nói chung và các đơn vị hành chính sự nghiệp nói
riêng đều mong muốn đơn vị mình hoạt động hiệu quả, tuy nhiên hoạt động của
đơn vị không phải lúc nào cũng như mong muốn mà luôn tiềm ẩn rủi ro do những
yếu kém và sai phạm của các nhà quản lý, nhân viên gây ra hay do việc đưa ra các
quy định không phù hợp. Vì thế, việc xây dựng hệ thống KSNB là một trong
những biện pháp quan trọng vì chúng giúp ngăn ngừa và phát hiện các sai phạm
và yếu kém, nâng cao hiệu quả, góp phần giúp đơn vị đạt được mục tiêu.
Trên thế giới, KSNB trong khu vực công cũng rất được quan tâm. Hướng
dẫn KSNB của tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban
hành năm 1992, cập nhật năm 2001 và công bố vào năm 2004 đã đưa ra các
quan điểm và hướng dẫn về KSNB phục vụ cho khu vực công. Tại Hoa Kỳ,
chuẩn mực về KSNB trong chính quyền liên bang được cơ quan Kiểm toán Nhà
nước ban hành năm 1999. Và nhìn chung chuẩn mực KSNB trong khu vực công
hiện nay đặt trên nền tảng của báo cáo COSO 1992.
Ở Việt Nam, khái niệm về KSNB trong các đơn vị hành chính sự nghiệp
còn khá mới mẻ, vì vậy việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống KSNB trong đơn
vị hành chính sự nghiệp quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết bởi các nhà
quản lý trong các đơn vị này thường dựa trên các quy định của pháp luật, kinh
nghiệm cá nhân để hành xử hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về
công tác kiểm soát. Chính vì lý do này, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex
Thành Phố Hồ Chí Minh" để nghiên cứu, đây cũng là vấn đề mang tính cấp
thiết cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.
2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo
một số nghiên cứu khoa học và luận văn của một số tác giả:
* Nghiên cứu ngoài nƣớc:
Khoảng trống của luận văn:
- Chưa xây dựng được bảng mô tả công việc.
- Chưa xây dựng được các biểu mẫu liên quan đến hoạt động kiểm soát
công tác HSSV.
3
(2) Phan Nam Anh (2013), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
trường Trung học Công nghệ Lương thực Thực phẩm, luận văn cao học,
Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Những điểm đạt đƣợc:
- Hệ thống hoá được lý luận về KSNB trong khu vực công và hoạt động
của hệ thống KSNB tại các đơn vị sự nghiệp có thu và đặc điểm của hệ thống
KSNB ở trường Trung học chuyên nghiệp.
- Luận văn đã đánh giá hệ thống KSNB tại trường Trung học Công nghệ
Lương thực Thực phẩm và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện
- Xây dựng được một số biểu mẫu, tiêu chí cụ thể để ứng dụng ngay.
- Xây dựng bảng câu hỏi cho toàn trường và riêng cho phòng Tài chính Kế toán.
Khoảng trống của luận văn:
Chưa xây dựng được bảng đánh giá mức độ hài lòng của HSSV về chất
lượng phục vụ của trường.
(3) Phạm Thị Hoàng (2013), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn
cao học, Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Những điểm đạt đƣợc:
- Hệ thống hoá được lý luận về KSNB trong khu vực công theo hướng
dẫn của INTOSAI và đặc điểm của hệ thống KSNB ở các cơ sở giáo dục đại học
tại Việt Nam.
- Luận văn đã đánh giá hệ thống KSNB tại trường Cao đẳng Công nghệ
Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện.
Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trong giới hạn của đề tài, tác giả tập trung nghiên
cứu về hệ thống KSNB tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu tại trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nội dung thực hiện
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sẽ giải quyết các vấn đề sau:
- Phân tích thực trạng hệ thống KSNB tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra những hạn chế của hệ thống làm
ảnh hưởng đến công tác quản lý của đơn vị.
5
- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống KSNB tại
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên phương pháp định tính, thông qua việc khảo sát,
phỏng vấn, thống kê dữ liệu thực tế tại trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đưa ra những nhận xét, phân tích, tổng
hợp, đánh giá cùng với những đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
KSNB tại trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Về mặt lý thuyết: Hệ thống hóa lý thuyết và các nghiên cứu về hệ thống
KSNB từ kết quả đó hoàn thiện hơn hệ thống KSNB tại trường cao đẳng Kinh tế
- Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một số quy trình, bảng biểu phục vụ cho
công tác quản lý tại trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố Hồ
Chí Minh.
động tranh cử trái phép và rửa tiền liên quan đến nước ngoài. Lần đầu tiên, khái
niệm KSNB được đề cập trong văn bản pháp luật, nhấn mạnh việc KSNB nhằm
ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp cho nước ngoài.
- Theo Uỷ ban Chứng khoán Quốc gia Hoa Kỳ (SEC) (1979), đưa ra
bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán tại đơn
vị của mình. Trong thời gian này, yêu cầu về báo cáo KSNB của công ty cho
công chúng cũng là một chủ đề gây nhiều tranh cãi. Một trong những quan
điểm chống đối liên quan đến việc thiếu các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu
hiệu của KSNB.
- Ủy ban COSO ra đời (1985) từ những tranh luận này, dưới sự bảo trợ
của năm tổ chức nghề nghiệp, đó là: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ,
Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp
hội Kế toán viên quản trị (IMA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA). Mỗi tổ
chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO – là một Ủy ban
thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên BCTC. COSO đã
sử dụng chính thức từ "Kiểm soát nội bộ" thay vì "Kiểm soát nội bộ về kế toán".
7
1.1.1.2. Giai đoạn từ 1992 đến nay
- Sau một thời gian dài làm việc, vào năm 1992, COSO đã phát hành Báo
cáo COSO, đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về
KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Báo cáo này đã cung cấp một tầm nhìn
rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ là một vấn đề liên quan
đến BCTC mà được mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ. Báo
cáo COSO đã đưa ra năm bộ phận của KSNB, đó là: môi trường kiểm soát, đánh
giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
- Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực ra
đời như:
+ Phát triển về phía quản trị: Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ
COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC.
+ Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ: Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ
định nghĩa các mục tiêu của KSNB gồm:
Độ tin cậy và trung thực của thông tin.
Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định.
Bảo vệ tài sản.
Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực.
Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động và các
chương trình.
+ Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo
cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) đã đưa ra
công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng (Framwork for Internal Control
System in Banking Organisations).
+ Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB: COSO cũng đã đưa ra dự thảo
Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) nhằm
bao gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động
kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
- Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ
chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy
tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán.
- Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình
thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho
việc thực hiện và đánh giá KSNB.
- Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm và
công bố vào năm 2004 về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối
tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB. Điều cần lưu ý là tài
liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO.
- Năm 1996, Kiểm toán nhà nước (KTNN) Việt Nam là thành viên chính
thức của tổ chức INTOSAI. Đến năm 1997, Việt Nam tham gia Tổ chức các cơ
quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI). ASOSAI thành lập năm 1979, hiện
nay có 45 thành viên. Tại Đại hội ASOSAI XI (12-15/10/2009) tại Pakistan,
KTNN Việt Nam được bầu làm thành viên Ban điều hành ASOSAI nhiệm kỳ
2009-2012. Ngay sau đó, tại Kỳ họp lần thứ 41 (15/10/2009), Ban điều hành
ASOSAI quyết định giao cho KTNN Việt Nam đăng cai tổ chức Kỳ họp 42 vào
năm 2010 tại Hà Nội.
10
- INTOSAI đưa ra hai nhóm chuẩn mực về KSNB: chuẩn mực chung và
chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về đảm bảo hợp lý;
tinh thần tuân thủ năng lực và phẩm chất; mục tiêu kiểm soát và giám sát. Chuẩn
mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; ghi chép kịp thời và
đúng đắn các nghiệp vụ; phân tích trách nhiệm; tiếp cận và báo cáo về nhân lực
và sổ sách.
1.2.2. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ theo INTOSAI
của tổ chức.
- KSNB được thiết lập để đối phó với rủi ro: Hoạt động của tổ chức luôn
phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn. KSNB có thể giúp tổ chức nhận diện, chủ
động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng
đạt được mục tiêu.
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Trong tổ chức luôn có những
rủi ro tiềm tàng và trong bản thân hệ thống KSNB cũng tồn tại những hạn chế
tiềm tàng. Đó là sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị, sự thông đồng của các
cá nhân hay lạm quyền của nhà quản lý... Do đó, KSNB chỉ có thể cung cấp một
sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm
bảo tuyệt đối.
- Các mục tiêu của KSNB: Hoạt động của tổ chức luôn hướng về mục
tiêu đề ra. Ở khu vực công, mục tiêu thường liên quan đến các dịch vụ công
cộng và lợi ích cộng đồng bao gồm:
+ Mục tiêu hoạt động: nhằm đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt
động của đơn vị.
+ Mục tiêu báo cáo: báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài
chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng.
+ Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia và
các quy định có liên quan.
+ Mục tiêu về bảo vệ nguồn lực: mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục
tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI
muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách,
tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia.
1.2.3. Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 1992
Tương tự như báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra năm yếu tố của KSNB,
gồm: môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin
và truyền thông; và giám sát.
mà sự kết hợp của chúng có thể dẫn đến sự vi phạm và che giấu sai lầm và gian
lận. Cơ cấu tổ chức bao gồm:
- Sự phân chia quyền và trách nhiệm báo cáo
13
- Hệ thống báo cáo phù hợp.
Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, ban kiểm
soát, bộ phận thanh tra, kiểm tra được tổ chức độc lập với các đối tượng kiểm
toán và báo cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong cơ quan.
Năng lực nhân viên
Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần
thiết để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và
hữu hiệu, cũng như có sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong
việc thiết lập hệ thống KSNB.
Lãnh đão và nhân viên phải duy trì một trình độ đủ để hiểu được việc xây
dựng thực hiện, duy trì KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của họ trong
việc thực hiện sứ mạng chung của tổ chức. Mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ
một vai trò trong hệ thống KSNB bởi trách nhiệm của họ.
Lãnh đạo và nhân viên cũng cần có kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro.
Việc đánh giá rủi ro đảm bảo hoàn thành trách nhiệm của họ trong tổ chức.
Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thành
viên trong tổ chức. Một trong những nội dung đào tạo là hướng dẫn về mục tiêu
KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc.
Chính sách nhân sự
Chính sách nhân sự bao gồm việc tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh
giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, hướng dẫn nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy
của nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển
dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một
Phát triển các biện pháp đối phó
Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, né
tránh rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro. Trong phần lớn các trường hợp các rủi ro
phải được xử lý hạn chế và đơn vị duy trì KSNB để có biện pháp thích hợp, bởi
vì đơn vị của nhà nước phải làm theo nhiệm vụ được giao. Các biện pháp xử lý
hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí nhưng nếu
nhận dạng được và đánh giá được rủi ro thì có sự chuẩn bị tốt hơn.
Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của nhà
nước, công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng
nên thường xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ.
15
1.2.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro
và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị. Để đạt được hiệu quả, hoạt
động kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa các thời kỳ, dễ hiểu, đáng tin cậy
và liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát. Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên
suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các chức năng. Hoạt động kiểm soát bao
gồm kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro.
Cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa là phối hợp các
hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát.
Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền
theo trách nhiệm và phạm vi của họ. Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm
bảo rằng chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn
của người lãnh đạo. Các thủ tục ủy quyền phải được tài liệu hóa và công bố rõ
ràng, phải bao gồm những điều kiện cụ thể.
Tuân thủ những quy định chi tiết của sự ủy quyền, nhân viên hành động
đúng theo hướng dẫn, trong giới hạn được quy định bởi người lãnh đạo và pháp luật
để dễ quản lý, dễ truy tìm và giảm thiểu các gian lận, sai phạm có thể xảy ra.
Bảo vệ tài sản
Tài sản của một tổ chức không chỉ là tiền, hàng hóa, máy móc thiết
bị …mà còn là thông tin. Các thủ tục cần có để bảo vệ tài sản gồm:
- Giám sát hiệu quả và phân định riêng biệt các chức năng
- Bảo quản và ghi chép về tài sản, bao gồm cả thông tin
- Giới hạn việc tiếp cận với tài sản
- Giữ tài sản ở nơi riêng biệt, đảm bảo an toàn, bảo quản con dấu và chữ
ký khắc sẵn (nếu có)
Kiểm tra, đối chiếu
Các nghiệp vụ và sự kiện phải được kiểm tra trước và sau khi xử lý. VD:
phải kiểm tra hàng hóa trước khi nhập kho…Sổ sách được đối chiếu với các
chứng từ thích hợp để kịp thời phát hiện và xử lý các sai sót.
1.2.3.4. Thông tin và truyền thông
Thông tin trong một tổ chức được nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình ra
quyết định điều khiển các hoạt động của đơn vị. Như vậy không phải bất kỳ tin tức
nào cũng trở thành thông tin cần thiết mà nó phải đáp ứng được các yêu cầu:
- Tính chính xác: thông tin phải phản ánh đúng bản chất, nội dung tình huống.
- Tính kịp thời: thông tin được cung cấp đúng lúc, đúng thời điểm theo
yêu cầu của các nhà quản trị.
17
- Tính đầy đủ và hệ thống: thông tin phải phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh
của tình huống giúp người sử dụng có thể đánh giá vấn đề một cách toàn diện.
- Tính bảo mật: đòi hỏi thông tin phải được cung cấp đúng người, phù
hợp với quyền hạn và trách nhiệm của họ.
Thông tin được cung cấp qua hệ thống thông tin. Trong đó, hệ thống
thông tin kế toán là một phân hệ quan trọng. Ngoài ra các phân hệ thông tin khác
như lưu trữ, tra cứu cũng rất cần thiết đối với KSNB vì nó cung cấp cơ sở cho
1.4. Đặc điểm hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở đơn vị hành chính
sự nghiệp có thu.
1.4.1. Đặc điểm của đơn vị hành chính sự nghiệp có thu.
1.4.1.1. Khái niệm.
Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị:
- Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập.
- Thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước
về một hoạt động nào đó.
- Hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN và các nguồn khác đảm bảo chi
phí hoạt động thường xuyên theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp.
Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực có phát sinh có khoản thu về phí, lệ phí được phép giữ lại để bù đắp chi phí.
1.4.1.2. Phân loại
- Căn cứ lĩnh vực hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại
như sau:
+ Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo
+ Đơn vị sự nghiệp y tế
+ Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ và môi trường
+ Đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin
+ Đơn vị sự nghiệp thể dục thể thao
+ Đơn vị sự nghiệp kinh tế
+ Đơn vị sự nghiệp dịch vụ việc làm...
- Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp có thu được
phân loại như sau:
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động
thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm được toàn bộ chi phí
hoạt động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động
thường xuyên cho đơn vị.
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động
thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi
hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hằng năm, vốn đối ứng cho các dự
án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Riêng đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí: NSNN cấp kinh phí
hoạt động thường xuyên. Mức kinh phí NSNN cấp được ổn định theo định kỳ 3
năm và hằng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Hết thời hạn 3 năm, mức NSNN bảo đảm sẽ được xác định lại cho phù hợp.
- Nguồn tài chính do nguồn thu sự nghiệp của đơn vị:
+ Tiền thu phí, lệ phí thuộc NSNN (phần được để lại đơn vị thu theo quy
định). Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng và nội
dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với
từng loại phí, lệ phí.
+ Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ. Mức thu từ các hoạt động
này do Thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và
có tích lũy.
+ Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)
20
- Nguồn khác theo quy định (nếu có): Các dự án viện trợ, quà biếu tặng,
vay tín dụng...
1.4.2. Hoạt động của hệ thống KSNB ở đơn vị hành chính sự nghiệp có thu
Hoạt động KSNB ở đơn vị hành chính sự nghiệp có thu gắn liền với việc
thực hiện một số mục tiêu như: Mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo, mục
tiêu về tính tuân thủ.
1.4.2.1. Đối với mục tiêu về hoạt động
Mục tiêu hoạt động của các đơn vị sự nghiệp không phải là việc tối đa
hóa lợi nhuận mà là tối đa hóa lợi ích cộng đồng thông qua việc sử dụng hợp lý
nguồn lực của Nhà nước. Theo đó, xây dựng hệ thống KSNB trong khu vực này
để bảo đảm rằng:
+ Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước
đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất
+ Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây
dựng cơ sở vật chất.
- Quyền tự chủ của đơn vị giáo dục đại học:
+ Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các
lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ,
hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học
thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp
hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục.
+ Cơ sở giáo dục đại học không còn đủ năng lực thực hiện quyền tự chủ
hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tùy thuộc mức độ,
bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Nguồn tài chính của cơ sở giáo dục đại học:
+ Ngân sách nhà nước (nếu có)
+ Học phí và lệ phí tuyển sinh
+ Thu từ các hoạt động hợp tác đào tạo, khoa học công nghệ, sản xuất,
kinh doanh và dịch vụ
+ Tài trợ, viện trợ, quà biếu, tặng của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
+ Đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
+ Nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
22
1.5.2. Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ ở cơ sở giáo dục đại học
- Đối với BCTC: hệ thống KSNB ở cơ sở giáo dục đại học phải đảm bảo
tính hợp lý ở các khoản mục sau:
+ Tiền và các khoản tương đương tiền
23
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Thực hiện đổi mới công tác quản lý theo chỉ đạo của cấp trên, cần thiết
phải đi vào đổi mới nhận thức, phương pháp, biện pháp, quy trình…hay nói cách
khác đó là đi vào đổi mới hệ thống KSNB trong tổ chức.
KSNB được thế giới đặc biệt quan tâm đến kể từ những năm 70 của thế
kỷ XX sau hàng loạt các vấn đề về tài chính và chính trị xảy ra ở Hoa kỳ. Báo
cáo COSO ra đời tạo nền tảng lý luận cơ bản về KSNB, trên cơ sở đó, tổ chức
INTOSAI đã trình bày vấn đề đặc thù của KSNB trong khu vực công.
Tương tự báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của hệ thống KSNB,
bao gồm:
+ Môi trường kiểm soát
+ Đánh giá rủi ro
+ Các hoạt động kiểm soát
+ Thông tin và truyền thông
+ Giám sát
Các yếu tố này chính là tiêu chí đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống, chúng
tác động qua lại lẫn nhau. Một hệ thống KSNB hoạt động hữu hiệu có thể ngăn
ngừa và phát hiện những sai phạm, yếu kém trong hoạt động của tổ chức. KSNB
nhằm đạt các mục tiêu:
+ Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
+ Đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của BCTC
+ Tuân thủ các luật lệ và quy định.
24
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Tổng quan về trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vinatex Thành phố
25
năm 2009, trường chính thức đổi tên thành Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Vinatex Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ
của ngành Dệt May, nhà trường đã liên kết với các Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Hưng Yên, Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đào tạo cán bộ có trình độ đại học và cao học.
Đồng thời nhà trường còn thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng ngắn hạn cho
hàng ngàn học viên là cán bộ quản lý tại các công ty, xí nghiệp của ngành Dệt
May ở khu vực phía Nam.
Sứ mạng: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, nghiên
cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có hiệu quả.
Tầm nhìn: Trở thành trường Đại học có uy tín trong và ngoài nước vào
năm 2020.
Bảng 2.1: Tổng hợp số lƣợng CB - GV - CNV tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Vinatex TP. HCM
Số lƣợng
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tháng
6/2014
Công nhân viên
110
251
263
263
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính)
Bảng 2.2: Trình độ học vấn CB - GV - CNV tại trƣờng Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Vinatex TP. HCM
Trình độ học vấn
Năm 2011
Năm 2012 Năm 2013
Tháng 6/2014
Tiến sỹ
2
2
1
1
Thạc sỹ
24
251
263
263
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính)