PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI SUY NGHĨ GIÚP HỌC SINH LỚP 4
RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
Người thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hà
Số điện thoại : 0904021364
Năm học: 2011 - 2012
1
MỤC LỤC Trang
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
A.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
I CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1.Khái niệm về cảm thụ văn học 4
2.Đặc trưng vế cảm thụ văn học ở lứa tuổi Tiểu học 2
3.Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS Tiểu học 6
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
1.Về phía giáo viên 7
2.Về phía học sinh 7
B.CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CTVH CHO HS LỚP 4 9
I.NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4-NGỮ LIỆU
DÙNG ĐỂ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN CHO HỌC SINH 9
II.BỒI DƯỠNG NĂNG LỤC CTVH CHO HS TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 12
1.Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh .12
2.Nội dung cảm thụ văn học 12
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 13
1. Bồi dưỡng kiến thứcTiếng Việt, văn học cho học sinh .13
phá nghệ thuật của tác phẩm. Đó là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận diện,
làm quen, hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ Với tác phẩm văn học,
bồi dưỡng năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và
chính xác các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Giúp học sinh xác định đúng nội dung
chính của tác phẩm, hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm. Từ đó sẽ hình thành và phát triển tình cảm, tâm
hồn, nhân cách cho các em. Giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong văn
chương và trong cuộc sống…, môn Tiếng Việt sẽ dần dần xây dựng được những tâm
hồn, nhân cách theo mục tiêu giáo dục đề ra trong chiến lược phát triển con người.
Vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4 là một vấn đề
khó, chưa được nhiều công trình khoa học nghiên cứu. Đây là vấn đề phức tạp vì học
sinh tiểu học tư duy trừu tượng đang được hình thành và phát triển, các em tiếp nhận
vấn đề này tương đối vất vả. Mà ở tiểu học lại chưa có phân môn học riêng cho cảm
thụ văn học, chủ yếu giáo viên phải bồi dưỡng lồng ghép thông qua các phân môn của
môn Tiếng Việt như Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn…Không những thế, cảm thụ
văn học cũng được đánh giá là một vấn đề khó đối với giáo viên.
3
Thực tế cho thấy, khả năng cảm thụ văn học của giáo viên và học sinh còn
nhiều hạn chế. Học sinh không tìm được những từ “chìa khoá”, những từ cốt lõi, ẩn
chứa nội dung, những dấu hiệu mang tính nghệ thuật của văn bản. Học sinh chưa phát
hiện được,
chưa hiểu hết được cái hay, cái đẹp của từ, ngữ, ý thơ, câu văn…trong một văn
bản cụ thể. Nếu có cảm nhận được thì học sinh diễn đạt ý còn rườm rà hoặc cộc lốc
chưa thể hiện hết nội dung cảm nhận. Đó chính là những nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến năng lực cảm thụ văn học của học sinh còn nhiều hạn chế.
Chính vì vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra biện pháp hữu
hiệu nhằm bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh ở bậc tiểu học là một
việc làm thiết thực, góp phần thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
Tiếng Việt ở Tiểu học. Trong khuôn khổ SKKN này tôi chỉ trao đổi " Một vài suy
nghĩ giúp học sinh lớp 4 rèn kỹ năng cảm thụ văn học" thông qua phân môn Tập
Ngay cả khi còn chưa biết chữ, mỗi lần được đắm mình vào thế giới những câu
chuyện cổ tích kì diệu, trong trí tưởng tượng của các em có thể phần nào hình dung và
nhớ được một số chi tiết. Sở dĩ, các em có cảm giác yêu nhân vật này hơn nhân vật
khác, thích câu chuyện này hay không thích câu chuyện kia là vì các em đã có những
" cảm nhận chủ quan" về câu chuyện được nghe.
- Đến bậc Tiểu học, lần đầu tiên các em được tiếp xúc với tác phẩm văn học
bằng chữ viết, chữ viết tiếp tục đưa các em đi xa hơn nữa trong việc cảm thụ thế giới
văn chương. Mở trang sách Tiếng việt ở trường Tiểu học: học chữ, học vần, học tập
đọc, làm văn, kể chuyện dần dần các em thấy tự tin hơn, hứng thú hơn với việc mình
tự đọc một đoạn văn, đoạn thơ và có khi các em thuộc lòng đoạn văn, đoạn thơ ấy từ
lúc nào không biết.
Trường tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện một số kĩ
năng, năng lực cần thiết cho cảm thụ văn học. Học sinh bắt đầu làm quen với các thao
tác, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật cuả tác phẩm. Đó là những câu hỏi, những bài tập
yêu cầu phát hiện ý của đoạn văn, đoạn thơ, ý chính hay nội dung của bài thơ, bài văn,
hoặc tìm từ, ngữ "chìa khoá" làm nên cái hay cái đẹp của đoạn văn bản Học sinh
cũng được trang bị một số kiến thức về hình tượng, về ngôn ngữ nghệ thuật thông qua
hệ thống câu hỏi, bài của bài tập đọc.
Ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng nhạy cảm, tinh tế trong cảm thụ các em mang những
đặc thù riêng. Tình cảm, tâm hồn của các em rấtt hồn nhiên, trong sáng rất dễ rung
động trước những kích thích, trong đó có kích thích thẩm mĩ.
Chẳng hạn : Học sinh lớp 1 chuẩn bị được nghỉ hè để năm học tới lên học lớp Hai,
trong buổi học cuối cùng, các em luyện đọc:
Lớp Một ơi! Lớp Một!
Đón em vào năm trước
Chào bảng đen cửa sổ
Chào nơi ngồi thân quen
Tất cả! Chào ở lại
Đón các bạn nhỏ lên
Chào cô giáo kính mến
sự mới lạ, hấp dẫn. Đó chính là "tính ngạc nhiên" trong quan sát và thể hiện trong
cuộc sống của tuổi thơ.
"Tính ngạc nhiên" là sự tất yếu trong cách nhìn của trẻ. Đó là vì lần đầu tiên,
các em được chứng kiến tất cả những gì đang diễn ra, đang phát triển trước mắt mình.
"Tính ngạc nhiên" làm nên đặc trưng riêng biệt cho nhãn quan trẻ thơ: vừa ngộ
nghĩnh, đáng yêu, lại vừa cho ta thấy vẻ đẹp trung thực, trong sáng, cội nguồn của
tinh thần con người.
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em, "tính ngạc nhiên" là điều kiện
không thể thiếu trong mọi tác phẩm. Do vậy, cảm thụ văn học đối với trẻ thơ cũng
phải luôn chứa đầy "tính ngạc nhiên".
3. Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS tiểu học
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh xác định đúng nội dung
chính của tác phẩm.
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh nhận biết nhanh nhạy và
chính xác các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm.
-Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh hình thành một số kĩ năng
sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
6
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh hình thành và phát triển
tình cảm, tâm hồn và nhân cách.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Về phía giáo viên:
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
cho học sinh, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã liên tục đưa ra
nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng
dạy học môn Tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý phần cảm thụ văn học. Những việc
làm đó là: đổi mới chương trình SGK, tập huấn chương trình thay sách, tổ chức các
hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và các
báo cáo khoa học về nâng cao chất lượng các môn học, triển khai chương trình bồi
dưỡng thường xuyên theo các chu kỳ. Tuy nhiên, như một vết hằn đã in sâu trong
3 7,5 6 15 24 60 7 17,5
Sự rung động có tính thẩm mĩ
3 7,5 7 17,5 18 45 12 30
Vốn ngôn ngữ
6 15 7 17,5 18 45 9 22,5
Khả năng diễn đạt theo ý riêng
3 7.5 7 17,5 19 47,5 11 27,5
Qua chất lượng bài làm của học sinh, tôi thấy về vốn văn học của học sinh tỉ lệ
Trung bình chiếm đa số (60%) và Yếu chiếm (17,5%), số em đạt Tốt chỉ có 7,5% và
khá 15%.
* Về sự rung cảm có tính thẩm mĩ : Tốt có 7,5% Yếu : 30 %
Trung bình đạt 45% Khá : 17,5%.
* Vốn ngôn ngữ, chữ viết của học sinh có cao hơn, tỉ lệ đạt Tốt là 15%, Khá là
17,5%, Trung bình là 45% nhưng vẫn có đến 22,5% Yếu.
* Về khả năng diễn đạt theo ý riêng, tốt chỉ có 5,7%, khá có 17,5%, yếu có đến
27,5%, có 47,5% Trung bình.
Để khảo sát toàn diện hơn chất lượng về kĩ năng cảm thụ văn học của học sinh lớp 4,
tôi đã tiến hành thêm một thực nghiệm mang tính thăm dò làm bài kiểm tra cảm thụ
kết quả như sau:
Nội dung kiểm tra Kết
quả
Nhận diện
ngôn ngữ
BT1: Đọc, nghe và phát hiện các từ ngữ mới (từ khó hiểu) có trong văn
bản
42,6
BT2: Xác định đề tài của văn bản
21,73
Tìm hiểu nội
dung văn bản
sinh không trả lời được hoặc diễn đạt ngắc ngứ. Phần đông học sinh chỉ dừng lại ở
phần tìm hiểu văn bản mà chưa chủ động trong việc diễn đạt kết quả cảm thụ, chưa
biết rút ra bài học về nhận thức, về tình cảm, hành vi sau khi được đọc, được nghe.
Đặc biệt học sinh chưa biết suy nghĩ để phê phán hay khẳng định nội dung văn bản
đưa ra, học sinh không biết quan tâm đến mong muốn mà người viết đặt vào chính đối
tượng người đọc, người nghe.
Như vậy, quá trình nhận thức và thực hành cảm thụ văn học của giáo viên và
học sinh trong nhà trường tiểu học đang còn nhiều tồn tại. Việc dạy cảm thụ văn học
còn hình thức, chiếu lệ và chủ yếu là thực hiện bằng kinh nghiệm giảng dạy của giáo
viên chứ chưa có một quy trình nào đảm bảo tính khoa học để bồi dưỡng năng lực
cảm thụ văn học cho các em. Bản thân các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình
cảm thụ và diễn đạt kết quả cảm thụ, khiến cho học sinh không thấy hứng thú khi học
cảm thụ văn học. Đôi khi học sinh cảm thấy sợ khi làm các bài tập về cảm thụ văn
học, đặc biệt là dạng hồi đáp văn bản, học sinh không chủ động trong việc diễn đạt
kết quả cảm thụ, “ngại”bày tỏ cảm xúc bằng ngôn ngữ của mình. Nếu như giáo viên
có vốn kiến thức và kỹ năng nhất định về cảm thụ văn học, biết tạo hứng thú học tập ở
học sinh bằng cách đưa ra hệ thống các biện pháp phù hợp kích thích sự tò mò, ham
hiểu biết của các em thì chắc chắn sẽ giải quyết được những khó khăn này, đồng thời
rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh để quá trình bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
cho học sinh từng bước được nâng lên.
B. CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4.
I. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 - NGỮ LIỆU DÙNG ĐỂ BỒI
DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH.
Hệ thống văn bản, câu hỏi, bài tập trong Tập đọc lớp 4 nhằm nâng cao năng
lực cảm thụ văn học cho học sinh:
Chương trình SGK Tiếng Việt 4 được đưa vào giảng dạy chính thức từ năm
học 2005 - 2006. Phân môn Tập đọc lớp 4, tập 1 được dạy trong 18 tuần, trừ 2 tuần ôn
9
tập, kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài tập đọc, tất cả có 32 bài. Phần môn Tập đọc lớp 4 tập
Thứ tư: trong cả 2 quyển SGK Tiếng Việt 4 (T1 và T2) có tổng cộng 264 câu
hỏi, bài tập tìm hiểu bài sau các bài Tập đọc. Có thể chia các câu hỏi, bài tập này
thành các thể loại sau:
Loại thứ nhất: nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản. Loại
câu hỏi này chiếm tỉ lệ cao (khoảng 75%) toàn bộ hệ thống câu hỏi, bài tập dành cho
phân môn Tập đọc, loại câu hỏi thể hiện ý chính của đoạn nhằm khắc sâu nội dung bài
học thì không nhiều. Dạng câu hỏi, bài tập chủ yếu trong loại này là tìm chi tiết trong
bài để minh hoạ một nhận định, một nhận xét trong bài.
10
Ví dụ: “Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt.” Hay “Những lời nói
và cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn?” (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu
-TV4 )
Loại thứ hai: Câu hỏi, bài tập làm rõ ý nghĩa nội dung trong bài. Loại câu hỏi
này đã tìm được sự quan tâm của các tác giả trong SGK, có khoảng (6%) trong tổng
số câu hỏi thuộc dạng này.
Ví dụ: “Vì sao cách làm của cô em giúp được chị tỉnh ngộ?” (Chị em tôi - TV4
- T1 - tr59); “Vì sao chú bé Hiền được gọi là “Ông trạng thả diều?” (Ông trạng thả
diều TV4 - T1 - tr104);
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo độc đáo của
tác giả.
Ví dụ: “Chiếc bè được ví với cái gì? (Bè xuôi Sông La - TV4 - T2); “Cách nói:
“dòng sông mặc áo” có gì hay? (Dòng sông mặc áo - TV4 - T2).
Loại Thứ tư: Yêu cầu học sinh nêu mục đích tác động của tác giả gửi vào văn
bản và yêu cầu nêu sự hồi đáp của các em về nội dung văn bản. Loại câu hỏi, bài tập
này thể hiện tương đối nhiều, thể hiện sự quan tâm của tác giả SGK tới bước hồi đáp
văn bản.
Ví dụ: “Qua các câu thơ mở bài và kết bài, tác giả muốn nói điều gì về cánh
diều tuổi thơ?
a. Cánh diều là kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ.
b. Cánh diều khơi gợi những ước mơ tốt đẹp cho tuổi thơ.
II. BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH
TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC:
1. Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trong phân môn Tập
đọc nhằm trang bị cho học sinh vốn văn hoá - văn học cần thiết, giúp học sinh rèn
luyện năng lực đọc - hiểu và hình thành những kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm,
từ đó bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn cho các em.
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học khác với mục đích
chung của bài tập đọc ở chỗ: Nội dung của một bài dạy Tập đọc có nhiều mục đích,
trong đó trọng tâm là luyện đọc thành tiếng và luyện đọc hiểu. Bồi dưỡng năng lực
cảm thụ văn học không quan tâm đến việc luyện đọc các từ khó và một số nhiệm vụ
khác như mục đích của bài Tập đọc nói chung.
2. Nội dung cảm thụ văn học
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bồi dưỡng năng
lực cảm thụ văn học cho học sinh. Bởi vì, Tập đọc cung cấp một khối lương ngữ liệu
văn chương nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau, rèn kĩ năng
đọc - hiểu nhiều nhất và rèn kĩ năng đọc diễn cảm, đọc phân vai tập trung nhất, ở đây
có một số đoạn trích, hoặc toàn bộ tác phẩm của các tác giả văn học lớn được đưa vào
chương trình. Cũng có nhiều bài do các nhà giáo soạn ra, hoặc phỏng theo các nhà
văn hoặc sưu tầm trên báo chí. Chúng được biên soạn lại, sắp xếp theo hệ thống chủ
đề và theo các kiểu văn bản. Phân môn Tập đọc sẽ giúp các em hiểu được nội dung,
nghệ thuật, rung cảm trước những từ ngữ, những câu, những hình ảnh, những hình
tượng thẩm mỹ. Những sáng tác được đưa vào chương trình, hoặc là những tác phẩm
văn học đích thực, hoặc là những sáng tác có nhiều yếu tố văn học, cũng đủ giúp các
em hình thành và phát triển năng lực cảm thụ văn học.
Nội dung cụ thể của cảm thụ văn học trong các bài Tập đọc là học sinh được
đọc trực tiếp các ngữ liệu văn học, tìm hiểu nội dung và nghệ thuật, đồng thời diễn đạt
những suy nghĩ và cảm xúc của mình khi trả lời các câu hỏi và bài tập. Phân môn Tập
12
đọc còn tạo điều kiện để học sinh rung cảm, thưởng thức vẻ đẹp của hình tượng ngôn
học sinh về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của bài Tập đọc và cách thể
hiện sự hiểu biết đó qua việc học sinh đọc diễn cảm bài Tập đọc, cao hơn nữa là khả
năng trình bày sự hiểu biết đó bằng ngôn ngữ nói và viết của học sinh.
Giáo viên giúp học sinh hiểu được cảm thụ văn học là một quá trình nhận thức
cái đẹp chứa trong thế giới ngôn từ, cảm thụ kiến thức văn học là quá trình tiếp nhận,
hiểu và cảm được tính hình tượng của văn học, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn
học.
13
Năng lực cảm thụ văn học là khả năng phát hiện được những tín hiệu nghệ
thuật và đánh giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cảm thụ văn học là cảm
nhận được những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể
hiện trong văn bản được đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, sự chia sẻ của người đọc
với những gì đã học. Ở đây, chúng ta không yêu cầu học sinh phải tìm ra khái niệm và
học thuộc từng khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việc làm cụ thể của giáo
viên và học sinh như khi chúng ta giới thiệu bài đưa học sinh vào nội dung bài học,
đọc mẫu cho học sinh nghe, giúp học sinh hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặc sắc,
một số biện pháp tu từ trong bài… Hay khi học sinh làm việc trong nhóm: nghe bạn
đọc rồi lại đọc cho bạn nghe, cùng bạn trao đồi về nghĩa của một số từ mới trong bài
hay cùng bạn tìm hiểu cách đọc, ý chính của đoạn, đại ý của bài…để học sinh làm
quen với việc cảm thụ. Từ đó, sẽ hình thành cho học sinh những suy nghĩ, những thao
tác về cảm thụ văn học. Đồng thời tích ôn luyện lại các kiến thức về Tiếng Việt như:
Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện pháp tu từ trong Tiếng Việt. Chẳng hạn, khi
hướng dẫn học sinh đọc và cảm thụ đoạn:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
Giáo viên nêu vấn đề học sinh suy nghĩ:
- Tại sao tác giả lại chọn thời gian "ban trưa" mà không chọn thời gian khác?
- Mồ hôi của người nông dân được so sánh với gì? (Mưa ruộng cày-so sánh,
phân tích trên nhằm làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ năng quan sát toàn bài
để đọc lướt, đọc quét, đọc đoán nghĩa.
Ý nghĩa đích thực của biện pháp này là nó khơi gợi và làm sống lại những kiến
thức đã học, thức tỉnh động cơ học tập năng động, tạo ra sự ôn luyện tích cực những
gì đã học.
Bên cạnh việc luyện tập kĩ thuật đọc, đọc hoàn thiện có tính chất tìm hiểu cò
phát triển phẩm chất tinh thần của năng lực đọc và kết quả tư tduy trong mối qua hệ
với văn bản đọc. Điều đó, đặc biệt có tác dụng tạo ra những nội dung đã đọc và năng
lực cặt nghĩa hoàn cảnh làm nên sự thấu hiểu các ý tưởng cơ bản, những thông tin
quan trọng và sự nhận thức về cầu trúc của văn bản.
Ở Tiểu học không có phân môn riêng cho cảm thụ văn học. Tập đọc là phân
môn góp phần nhiều nhât vào quá trình hình thành và phát triển năng lực cảm thụ văn
học cho học sinh. Luyện đọc cho học sinh là một hoạt động đặc trưng của phân môn
Tập đọc đồng thời cũng là một khâu rất quan trọng trong việc giúp học sinh cảm thụ
kiến thức văn học. Để tìm hiểu tác phẩm văn học nói chung hay cảm thụ đoạn trích,
bài thơ ở tiểu học nói riêng, yêu cầu đầu tiên phải thể hiện được khả năng đọc. Phải
đọc đúng và đọc rõ ràng từng từ, từng câu, từng đoạn, gọi là thao tác đọc trơn (có đọc
thầm và đọc thành tiếng). Thực hiện xong thao tác này, cần tìm hiểu các từ khó và
phần “Chú giải”nhằm hiểu rõ ý nghĩa của bài văn, bào thơ. Sau đó, tuỳ theo thể loại
văn bản mà xác định giọng đọc, cách nghỉ hơi, ngặt nhịp cho phù hợp. Cho học sinh
đọc nhiều lần đonạ văn, đoạn thơ, yêu cầu học sinh phải đọc đúng, trôi chảy, lưu loát.
Đọc hiểu nội dung cơ bản của bài văn, bài thơ, phân biệt đọc văn khác với đọc thơ,
đọc văn miêu tả không giống văn kể chuyện, đọc lời trần thuật không giống đọc câu
hỏi hay câu cảm và với mỗi bài sẽ có cách đọc khác nhau. Khi đọc phải ngắt nghỉ cho
đúng, tốc độ đọc phù hợp với từng bài. Khi đọc, học sinh phải chú ý đến cao độ,
trường độ từng câu, từng dòng trong bài. Khi đọc thơ cần thể hiện sự phối hợp giữa
nhịp điệu, tiết tấu, ngắt hơi hợp lí giữa các ý thơ, mạch thơ, dòng thơ.
15
Yêu cầu học sinh đọc diễn cảm là để giúp các em nâng cao cảm xúc thẩm mĩ và
kích thích các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn học. Đọc diễn cảm là hình
Ở đây, tôi muốn nói rằng, sử dụng những câu hỏi có chất lượng cao để tìm hiểu
sâu sắc nội dung giáo dục, ý nghĩa nhân văn trong những bài Tập đọc là biện pháp tốt
nhất để bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh. Những câu hỏi có chất lượng cao là
những câu hỏi vừa có yêu cầu cao, vừa phù hợp với đối tượng học sinh, có khả năng
giúp học sinh tìm hiểu, phát hiện được những ý nghĩa sâu sắc nhất trong văn bản đọc.
Tất nhiên, không phải học sinh nào cũng có thể trả lời được những câu hỏi này,
nhưng sự thất bại của những học sinh trung bình sẽ là động lực để các em này cố gắng
trong lần trả lời sau.
16
Ví dụ: Trong bài Tập đọc: “ Tre Việt Nam” (TV lớp 4 - tập 1)
Tìm hiểu bài có câu hỏi phục vụ cho việc giúp học sinh cảm thụ là: Em thích
những hình ảnh nào về cây tre và búp măng non? Vì sao?
Để trả lời hai câu hỏi trên, chúng ta cùng đọc bài viết sau đây:
Đọc xong bài thơ, chúng ta tự hỏi: có mấy hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Hình
như có một hình ảnh. Điều này chẳng những đã được dự báo từ đầu đề của bài thơ.
Đúng, bài thơ nói về cây tre mọc khắp làng quê ta. Đó là tre Việt Nam, có thể hiểu là
tre của Việt Nam, tre ở Việt Nam.
Cây tre thân thiết với mỗi người Việt Nam nên mỗi chi tiết về tre, dù mới
thoáng qua vẫn gợi nên tình cảm thân thương, quý mến. Ta xúc động khi nhận ra
hình ảnh của tre: Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Mấy từ “gầy guộc”, “mong manh” trong câu thơ thật giản dị, không trau
chuất gì nhưng khi đọc lên làm cho mỗi chúng ta xúcc động? Đúng là tả tre nhưng
sao thân thiết như nói với ta, nói về chính chúng ta?
Ta rưng rưng khi nhận ra luỹ tre làng trong dáng điệu:
Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm.
“Thân bọc lấy thân”, “tay ôm tay níu” đúng là hình ảnh cây tre trong luỹ tre
nhưng sao cứ vương vấn một cái gì khác nữa ngoài tre?
Ta vui thích khi thấy hình ảnh măng non được khắc hoạ chi tiết, cụ thể:
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
Chi tiết "Lưng trần phơi nắng, phơi sương " đích thực là chi tiết tả con người
nông dân một nắng hai sương nơi đồng quê. Cái chuyện nhường áo cho con đâu phải
chỉ riêng của tre mà còn của người. Nó gợi cho chúng ta chuyện cha con Chử Đồng
Tử, gợi tới đức hi sinh cao đẹp của bao thế hệ đi trước.
Cả bài thơ, như vậy là có hai hình ảnh. Hình ảnh thực, hình ảnh dễ nhận thấy
là hình ảnh cây tre. Hình ảnh ảo, hình ảnh khó nhận thấy là hình ảnh con người Việt
Nam. hai hình ảnh ấy quấn quýt lấy nhau, hòa vào nhau tạo nên cho bề sâu giọng thơ
chân tình, chân thành như tơ lòng vương vấn khắp câu, khắp chữ của bài thơ.
Tạo nên cái kì ảo của bài thơ không chỉ có cách cấu trúc ẩn dụ của hình ảnh
xuyên suốt bài thơ mà còn có màu xanh đặc trưng của tre, một màu xanh trải dài từ
câu đầu tiên đến câu cuối cùng. Tác giả tả "tre xanh" nhưng lại kì ảo hóa qua lời tự
hỏi "xanh tự bao giờ?" để rồi tự trả lời:
Chuyện ngày xưa…đã có bờ tre xanh
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Thành Gióng nhổ cả bụi tre để đánh giặc.
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Cây tre trăm đốt nhân tình nhân nghĩa. Cái bờ tre
xanh ấy từng tỏa bóng ôm trùm làng quê ta từ thời xa xưa, đến ngày nay vẫn vậy:
Thương nhau, tre chẳng ở riêng
18
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.
Và còn kéo dài mãi mãi trong sự kế tiếp "Năm qua đi, tháng qua đi" đến tương
lai:
Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
Bài thơ kép lại trong màu xanh hi vọng, màu xanh của sự sống đang nảy nở ra
cả chân trời. Ta đi trong màu xanh ấy để đến tương lai với niềm tin yêu vào đất nước
mình.
3. Luyện tập và củng cố vững chắc các thao tác trong cảm thụ văn học cho
19
Tập đọc, với nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, có trách nhiệm
lớn nhất trong việc phát triển vốn sống, nhất là vốn kinh nghiệm sống cho học sinh.
Vì hơn bất cứ môn học nào khác, phân môn Tập đọc có khả năng đem đến cho các em
nhiều tình huống đạo đức - nhân văn. Mà ở đó, con người trong quá khứ, con người ở
nhiều nơi trên thế giới đã từng ứng xử một cách giàu trí tuệ và giàu lòng nhân ái. Đó
là những tri thức và kinh nghiệm có tác dụng làm giàu thêm vốn sống cũng như phát
triển tốt tình cảm, tâm hồn cho các em.
Hướng dẫn học sinh ghi chép những gì thu nhận được, tích lũy lại những điều
bổ ích làm giàu thêm cho vốn sống. Rèn cho học sinh thói quen ghi "Sổ tay văn học",
ghi lại những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp, câu thơ, đoạn văn em thích hoặc những
điều em cảm nhận được để trau dồi năng lực cảm thụ văn học cho bản thân.
c. Kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng là những kĩ năng thuộc tư
duy logic và tư duy hình tượng. Đặc biệt, các kĩ năng, thao tác này được sử dụng để
phát hiện ra đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra sự khác nhau
giữa hình tượng này với hình tượng khác, từ đó làm nỗi bật vẻ đẹp độc đáo của tác
phẩm và tài năng của nhà văn.
d. Kĩ năng diễn đạt: được sử dụng trong tất cả các hoạt động của cảm thụ văn
học, đó là khâu cuối cùng, diễn đạt kết quả cảm thụ bằng lời văn của mình. Khi nói
hoặc khi viết, lời văn phải đủ ý, rõ ràng, dùng từ phải chính xác và phải được trau
chuốt.
Khi viết những điều em cảm thụ được khi đọc xong bài "Khúc hát ru những em
bé lớn trên lưng mẹ" (TV lớp 4 - tập 2) có học sinh đã viết:
“Dưới hình thức một lời ru mới, "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ"
của Nguyễn Khoa Điềm ca ngợi hình ảnh người mẹ Việt Nam vừa có những nét
truyền thống: cần cù và yêu lao động, vừa có những nét rất hiện đại: các công việc giã
gạo, phát rẫy làm nương ở đây là để nuôi bộ đội, nuôi dân làng và đánh giặc. Tình
cảm của mẹ trong lời ru với con mình và với bộ đội, với dân làng, với đất nước được
thể hiện trong sự đan kết, quấn quýt; cách cấu trúc tình cảm "Mẹ thương a- kay, mẹ
thương bộ đội" khẳng định tình cảm đó tuy hai mà một, đậm đà, ruột thịt. Hình ảnh
hiệu để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học. Bởi vì, rung cảm
nghệ thuật tác động đến tình cảm của học sinh, giúp học sinh tiếp cận được với độ sâu
sắc và tinh tế của nội dung tác phẩm, đồng thời rung cảm nghệ thuật giúp cho giờ học
có nhiều hứng thú.
Trong thực tế, vì nhiều nguyên nhân, sự say mê, hứng thú của học sinh trong
giờ học Tập đọc, đặc biệt là phần cảm thụ văn học đang có phần bị giảm sút. Cần làm
thêm hứng thú, say mê ở các em nhờ tăng cường các hoạt động cảm thụ văn học cho
học sinh. Những giờ học đầy xúc động này sẽ gây ấn tượng tốt đẹp, tạo động lực thúc
đẩy các em phấn đấu trở thành những công dân tốt, những con người biết sống có ích
cho xã hội.
Trong quá trình khuyến khích học sinh rung cảm nghệ thuật trong mọi hoạt
động dạy học của tiết Tập đọc, chúng ta cần làm rõ nội dung của từng hoạt động như
sau:
a. Giúp học sinh rung cảm nghệ thuật ở hoạt động giới thiệu bài cho giáo viên:
Chẳng hạn: Khi học Tập đọc bài "Trung thu độc lập" của Thép Mới (TV lớp 4
- tập 1) các em học sinh được cô giáo dẫn dắt vào bài như sau: giáo viên cho cả lớp
quan sát tranh trong SGK (tranh phóng to) và hỏi: các em hãy suy nghĩ và cho cô biết
nội dung bức tranh là gì? (Anh bộ đội đang cầm súng đứng gác)
Giáo viên giới thiệu: Đây là hình ảnh anh bộ đội đang cầm súng đứng gác dưới
đêm trăng trung thu năm 1945, lúc đó nước ta vừa giành được độc lập. Trong đêm
trung thu độc lập đầu tiên, anh đã suy nghĩ và ước mơ về tương lai của đất nước,
21
tương lai của các em. Vậy ớc mơ đó là gì và cuộc sống của chúng ta hôm nay có gì
giống và khác với mong ước của anh chiến sỹ 60 năm trước đây, các em cùng cô giáo
đọc bài “Trung thu độc lập” để cùng hiểu được điều đó.
Như vậy, qua lời giới thiệu của giáo viên, học sinh nắm được hoàn cảnh sáng
tác của bài đọc. Học sinh cảm thụ được một điều: Trung thu đẹp, tết trung thu vui;
Trung thu độc lập lại càng đẹp và vui hơn nhiều. Vì đất nước được độc lập, nhân dân
được tự do. Đồng thời các em cũng cảm nhận được tình yêu thương các em nhỏ của
anh chiến sỹ, mơ ước của anh về tương lai của các em, của đất nước trong đêm trung
còn là hoạt động nuôi dưỡng và phát triển cảm thụ sáng tạo của con ngừi. Đó là một
“hành động năng sản” những cảm xúc tươi mát, độc đáo của người đọc trong những
cộng cảm thẩm mĩ và thể nghiệm nghệ thuật. Vấn đề còn lại là giáo viên phải làm thế
22
nào để bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh năng lực đọc diễn cảm và khơi dậy ở các
em cái khát vọng trình bày, cái động cơ thể hiện việc truyền cảm như một hành vi văn
hoá đầy tinh thần sáng tạo.
- Đọc diễn cảm kích thích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, giúp học sinh
nhập thân vào nội dung bài học:
Những con chữ trên trang văn chỉ thực sự lên tiếng, đối thoại, bộc bạch khi nó
được tác động, đánh thức bởi hoạt động tri giác ngôn ngữ của người đọc, Cụ thể là
người đọc bằng hành động đọc của mình biến những "kí hiệu chết" trở thành những
"sinh ngữ nghệ thuật" và quan trọng hơn là thông qua đọc diễn cảm để làm sống dậy,
bừng tỉnh cái thế giới nghệ thuật vốn không thể soi ngắm bằng mắt thường, một bức
tranh chân dung về hình ảnh người mẹ:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gậy nhấp nhô làm gối
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Tất cả chỉ hiện ra trong nội quan của người đọc. Nói cách khác người đọc chỉ trông
thấy nó bằng "con mắt thứ ba". Đi qua "cây cầu đọc diễn cảm" người đọc bước vào
thế giới kì diệu vừa quen vừa lạ của văn học. Theo tâm lí học cảm thụ, âm vang của
giọng đọc đã kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng và tái hiện hình ảnh ở người
đọc, đưa người đọc vào thế giới của tác phẩm, tạo nên trạng thái tam lí cần có khi đọc
sách hay xem nghệ thuật mà người ta quen gọi là "nhập thân". Như vậy, đọc diễn cảm
đã góp phần đánh thức những năng lực cảm thụ chủ quan của người nghe đồng thời
thúc đẩy tính sáng tạo của người đọc trong hoạt động đọc.
Lơ lửng lên trước nhà".
Hai chữ "lơ lửng" gợi tả vầng trăng nhẹ, từ từ bay lên "trước nhà"thật gần gũi
thân thương.
Trăng từ biển xanh diệu kì đến, nơi có lắm cá nhiều tôm. Trăng tròn lung linh
được so sánh với mắt cá "chẳng bao giờ chớp mi" là một hình tượng ngộ nghĩnh, giàu
chất thơ:
"Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi".
Trăng là một quả bóng từ sân chơi của các bạn đã được "Bạn nào đá lên trời"
thật hóm hỉnh.
Trăng từ lời ru của mẹ "Chú Cuội ngồi gốc cây đa - Thả trâu ăn lúa gọi cha ời
ời…" đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ khi còn nằm trong nôi, ngắm trăng, bé Khoa hỏi
Cuội và thương Cuội biết bao nhiêu:
"Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ"
Hai khổ thơ cuối, vầng trăng gợi mở tâm hồn tuổi thơ, Bài thơ này được viết
vào năm 1967, khi đất nước đang còn kháng chiến chống Mĩ. Trăng không chỉ soi
sáng sân nhà em mà còn soi chú Giải phóng hành quân trên đường ra trận:
"Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân"
24
Nước Việt Nam chúng ta đã đẹp, quê hương chúng ta đã đẹp "Đẹp vô cùng Tổ
quốc ta ơi" (Tố Hữu). Dưới vầng trăng sáng, đất nước ta càng thêm đẹp:
"Trăng ơi có nơi nào
Sáng hơn đất nước em"
Đó chính là niềm tự hào và tình yêu đất nước quê hương.
"Trăng ơi…từ đâu đến?" là một bài thơ đẹp và hay. Giọng thơ nhẹ nhàng
thanh tao, tình yêu trăng dạt dào với tình yêu đất nước, quê hương. Lời thơ trong
sáng, hình tượng đẹp và mới lạ. Trăng đã trở thành một mảnh tâm hồn của tuổi thơ.