SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ GIÚP HỌC SINH LỚP 4 RÈN KỸ
NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC"
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở ban đầu hết
sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho
giáo dục phổ thông. Mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh
những tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản mang tính đúng đắn và
lâu dài để các em học tiếp Trung học cơ sở. Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ
mới, chất lượng giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục.
Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những người có trí tuệ
sắc bén, có bàn tay vàng, có kỹ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là
việc làm thực sự cần thiết.
Ở tiểu học, việc bồi dưỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trường.
Trong hệ thống các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng việt là môn học rất quan trọng,
được coi là môn học công cụ để học tốt các môn học khác. Môn Tiếng việt gồm nhiều
phân môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phần nhằm phát triển tư duy cho học sinh,
nhằm bồi dưỡng để các em có thể trở thành học sinh giỏi môn Tiếng việt.
Khi cảm thụ được tác phẩm văn học, con người không chỉ được thức tỉnh về mặt
nhận thức mà còn rung động về tình cảm. Từ đó, con người sẽ nảy nở những ước mơ tốt
đẹp, khơi dậy năng lực hành động, cũng như được bồi dưỡng về tâm hồn.
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh nhằm hướng tới việc khám phá
nghệ thuật của tác phẩm. Đó là việc hướng dẫn học sinh từng bước nhận diện, làm quen,
hiểu biết và sáng tạo được các sản phẩm thẩm mĩ Với tác phẩm văn học, bồi dưỡng
năng lực cảm thụ chính là nhằm giúp các em nhận biết nhanh nhạy và chính xác các tín
hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Giúp học sinh xác định đúng nội dung chính của tác phẩm,
hình thành một số kĩ năng sơ giản trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm. Từ đó sẽ hình thành và phát triển tình cảm, tâm hồn, nhân cách cho các em.
Giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong văn chương và trong cuộc sống…,
phẩm văn học quy định. Mỗi một tác phẩm văn học đều mang một vẻ đẹp toàn diện về cả
nội dung và cả giá trị nghệ thuật. Đó chính là vẻ đẹp về ngôn ngữ, về các hình thức nghệ
thuật được sử dụng trong tác phẩm đó. Quá trình nhận thức cái đẹp trong văn thơ là quá
trình nhận thức cái đẹp về ngôn ngữ mà là ngôn ngữ nghệ thuật. Đặc trưng của ngôn ngữ
nghệ thuật là giàu hình ảnh, có sức biểu cảm và có tính đa nghĩa.
2. Đặc trưng về năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi Tiểu học.
- Trước khi đến trường, HS tiểu học đã có vốn văn học nhất định. Đây không phải là
lần đầu tiên các em được tiếp xúc với hình tượng văn học. Ngay từ nhỏ các em đã được
nghe bố, mẹ, ông, bà kể chuyện cổ tích,truyện kể nhi đồng, nghe và thuộc các bài đồng
dao, một số bài ca dao, dân ca Dù chưa ý thức rõ rệt, nhưng các em đã tiếp xúc với thơ,
văn từ rất sớm, từ thuở ấu thơ trong lời bà, lời mẹ hát ru:
Ví dụ: Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Âm điệu ngọt ngào của lời ru đã đưa những câu ca ấy đến với các em, giúp các em
tiếp xúc với "thơ" một cách hồn nhiên.Tình yêu cuộc sống đặt trong sự gắn bó hài hoà
giữa thế giới bao la, một hình ảnh khăng định sức mạnh của tình đoàn kết được tác giả
dân gian khái quát bằng hình thức những câu thơ dễ thuộc, dễ nhớ, đã đi vào đời sống
tâm hồn của mỗi con người và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Ngay cả khi còn chưa biết chữ, mỗi lần được đắm mình vào thế giới những câu
chuyện cổ tích kì diệu, trong trí tưởng tượng của các em có thể phần nào hình dung và
nhớ được một số chi tiết. Sở dĩ, các em có cảm giác yêu nhân vật này hơn nhân vật khác,
thích câu chuyện này hay không thích câu chuyện kia là vì các em đã có những " cảm
nhận chủ quan" về câu chuyện được nghe.
- Đến bậc Tiểu học, lần đầu tiên các em được tiếp xúc với tác phẩm văn học bằng
chữ viết, chữ viết tiếp tục đưa các em đi xa hơn nữa trong việc cảm thụ thế giới văn
chương. Mở trang sách Tiếng việt ở trường Tiểu học: học chữ, học vần, học tập đọc, làm
văn, kể chuyện dần dần các em thấy tự tin hơn, hứng thú hơn với việc mình tự đọc một
đoạn văn, đoạn thơ và có khi các em thuộc lòng đoạn văn, đoạn thơ ấy từ lúc nào không
biết.
Trường tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện một số kĩ năng,
vì đã được nghỉ hè, vì sắp được lên lớp Hai; song nghỉ hè, cũng phải chia tay cô giáo đã
dạy mình, để sang năm cô sẽ đón những HS lớp Một mới. Ngập ngừng, lưu luyến, các em
chào cô giáo kính mến, đồng thời không quên chào bảng đen, cửa sổ, chỗ ngồi, những đồ
vật biết bao thân thiết từng gắn bó với mình. Đọc bài thơ mà trào dâng nỗi niềm da diết,
trào dâng nỗi xao xuyến, bồi hồi!
Từ ví dụ trên cho ta thấy: từ nghe đến đọc, rõ ràng không phải chỉ là việc chúng ta
nghe hay đọc một cách thuần tuý, mà thực sự là trong nghe có hiểu, trong đọc có hiểu,
vừa nghe - hiểu vừa đọc - hiểu. Hiện tượng đó dù ở những dấu hiệu sơ khai nhất, là chính
các em thực sự đã tham gia cảm thụ văn học rồi đấy!
Tuy nhiên, lứa tuổi tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiện những nội
dung trừu tượng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt. Đó là do tư duy lôgíc ở các em
chưa phát triển như ở người trưởng thành.
- Trong cảm thụ văn học, học sinh tiểu học có những đặc điểm riêng biệt, tạo nên
lợi thế trong cảm quan tuổi thơ. Đó là sự nhạy cảm, trong sáng, hồn nhiên, chân thật, ngộ
nghĩnh rất đáng quí ở các em. Trong con mắt trẻ thơ, thế giới luôn đầy tính ngạc nhiên.
Người ta thường nói tới "nhãn quan trẻ thơ" tức là cách nhìn từ góc độ trẻ thơ. Thật vậy,
dưới nhãn quan này, cuộc sống luôn hiện ra những điều mới mẻ. Ngay cả những gì bình
thường nhất đang diễn ra hàng ngày, đối với trẻ thơ cũng có thể đầy sự mới lạ, hấp dẫn.
Đó chính là "tính ngạc nhiên" trong quan sát và thể hiện trong cuộc sống của tuổi thơ.
"Tính ngạc nhiên" là sự tất yếu trong cách nhìn của trẻ. Đó là vì lần đầu tiên, các
em được chứng kiến tất cả những gì đang diễn ra, đang phát triển trước mắt mình.
"Tính ngạc nhiên" làm nên đặc trưng riêng biệt cho nhãn quan trẻ thơ: vừa ngộ
nghĩnh, đáng yêu, lại vừa cho ta thấy vẻ đẹp trung thực, trong sáng, cội nguồn của tinh
thần con người.
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em, "tính ngạc nhiên" là điều kiện không
thể thiếu trong mọi tác phẩm. Do vậy, cảm thụ văn học đối với trẻ thơ cũng phải luôn
chứa đầy "tính ngạc nhiên".
3. Mục tiêu của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS tiểu học
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học giúp học sinh xác định đúng nội dung chính
của tác phẩm.
2. Về phía học sinh:
Để khảo sát toàn diện về vấn đề nhận thức và thực hành cảm thụ văn học của học
sinh lớp 4, tôi đã tiến hành điều tra và phỏng vấn 40 học sinh lớp 4A. Khi điều tra vấn đề
này , tôi nhận thấy trong quá trình cảm thụ văn học thông qua phân môn Tập đọc các em
gặp rất nhiều khó khăn. Hầu hết các em không nắm được bản chất của hoạt động cảm thụ
văn học là làm cái gì, học sinh không nắm được các kỹ năng cần thiết để cảm thụ được
một văn bản nghệ thuật.
Tôi khảo sát và đánh giá năng lực cảm thụ văn học của học sinh, thu được kết quả
như sau:
Đề bài: !"#$%& '()*+
Nội dung đánh giá
Tốt Khá Trung
bình
Yếu
SL % SL % SL % SL %
Vốn văn học của HS 3 7,5 6 15 24 60 7 17,5
Sự rung động có tính thẩm mĩ 3 7,5 7 17,5 18 45 12 30
Vốn ngôn ngữ 6 15 7 17,5 18 45 9 22,5
Khả năng diễn đạt theo ý 3 7.5 7 17,5 19 47,5 11 27,5
riêng
Qua chất lượng bài làm của học sinh, tôi thấy về vốn văn học của học sinh tỉ lệ
Trung bình chiếm đa số (60%) và Yếu chiếm (17,5%), số em đạt Tốt chỉ có 7,5% và khá
15%.
* Về sự rung cảm có tính thẩm mĩ : Tốt có 7,5% Yếu : 30 %
Trung bình đạt 45% Khá : 17,5%.
* Vốn ngôn ngữ, chữ viết của học sinh có cao hơn, tỉ lệ đạt Tốt là 15%, Khá là
17,5%, Trung bình là 45% nhưng vẫn có đến 22,5% Yếu.
* Về khả năng diễn đạt theo ý riêng, tốt chỉ có 5,7%, khá có 17,5%, yếu có đến
27,5%, có 47,5% Trung bình.
Để khảo sát toàn diện hơn chất lượng về kĩ năng cảm thụ văn học của học sinh lớp 4, tôi
quả cảm thụ
BT9: HS đọc diễn cảm đoạn (mà em thích) hoặc cả bài. 34,78
BT10: Bài học rút ra sau khi tìm hiểu nội dung. Em thích
chi tiết nào nhất trong bài văn, bài thơ ? Bài văn, bài thơ
gợi cho em suy nghĩ, cảm xúc gì ?
12,17
Từ kết quả điều tra trên, tôi đi đến những nhận xét về chất lượng cảm thụ văn học
của học sinh lớp 4 như sau:
,-: Học sinh còn chậm trong quá trình nhận diện ngôn ngữ trong văn bản, kĩ
năng đọc thành thạo để nắm được đề bài và những từ ngữ cần tìm nghĩa để từ đó hiểu nội
dung của văn bản còn nhiều hạn chế. Đọc và hiểu đang còn tách rời nhau. Học sinh đọc
nhưng học sinh không hiểu, đọc nhưng không tư duy cái được đọc, đọc mà không hiểu
huống gì nói đến cảm thụ.,
,+: Phần tìm hiểu nội dung văn bản, học sinh trả lời câu hỏi SGK còn máy
móc, phụ thuộc quá nhiều vào từng câu, từng chữ trong văn bản, trong suy nghĩ và trả lời
học sinh chưa chủ động và chưa có tính sáng tạo. Chẳng hạn, tìm từ ngữ, hình ảnh đặc
sắc trong văn bản thì học sinh đọc cả đoạn trích trong văn bản. Hay việc xác định các
biện pháp nghệ thuật của văn bản, học sinh cũng còn nhiều lúng túng, nhiều học sinh còn
lẫn lộn chưa phân biệt rạch ròi các biện pháp tu từ tiếng Việt. Dạng bài tập: Em thích
hình ảnh nào nhất, từ ngữ, câu thơ, nhân vật…nào nhất? Thì học sinh có một số em trả lời
được, nhưng khi hỏi để lý giải vì sao em thích thì thì học sinh không trả lời được hoặc
diễn đạt ngắc ngứ. Phần đông học sinh chỉ dừng lại ở phần tìm hiểu văn bản mà chưa chủ
động trong việc diễn đạt kết quả cảm thụ, chưa biết rút ra bài học về nhận thức, về tình
cảm, hành vi sau khi được đọc, được nghe. Đặc biệt học sinh chưa biết suy nghĩ để phê
phán hay khẳng định nội dung văn bản đưa ra, học sinh không biết quan tâm đến mong
muốn mà người viết đặt vào chính đối tượng người đọc, người nghe.
Như vậy, quá trình nhận thức và thực hành cảm thụ văn học của giáo viên và học
sinh trong nhà trường tiểu học đang còn nhiều tồn tại. Việc dạy cảm thụ văn học còn hình
thức, chiếu lệ và chủ yếu là thực hiện bằng kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên chứ
chưa có một quy trình nào đảm bảo tính khoa học để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
hơn.
Như vậy, tôi thấy tính tích hợp giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt là rất cao,
các phân môn liên quan mật thiết với nhau, cùng sử dụng chung một số văn bản để hình
thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Vì thế, các câu hỏi nhằm giúp học sinh học tốt
phân môn Tập đọc, rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụ văn học thì
cũng giúp học sinh học tốt các môn học khác và ngược lại.
Thứ hai: do tính tích hợp giữa các phân môn như đã nêu ở trên, nên trong quá trình
học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc thì loại câu hỏi, bài tập tìm dàn ý, ý của đoạn, đại
ý của bài rất hạn chế và được thể hiện chủ yếu ở phân môn Tập làm văn. Thay vào đó là
nhiều câu hỏi, bài tập yêu cầu sự hồi đáp của học sinh, yêu cầu học sinh bày tỏ ý kiến,
thái độ, nêu cảm nghĩ về nội dung bài học, điều đó chứng tỏ các tác giả khi biên soạn đã
chú ý quan tâm đến bước hồi đáp văn bản trong dạy đọc hiểu của học sinh, giúp học sinh
từng bước có nhu cầu cảm thụ văn học và biết cách cảm thụ văn học.
Thứ ba: trong vở Bài tập Tiếng Việt 4 không có các câu hỏi, bài tập dành cho phân
môn Tập đọc mà chỉ có các câu hỏi, bài tập cho phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
làm văn. Nên việc giúp học sinh đọc - hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụ thông qua hệ thống
bài tập - những việc làm cụ thể như các phân môn học khác thì gặp không ít những khó
khăn.
Thứ tư: trong cả 2 quyển SGK Tiếng Việt 4 (T1 và T2) có tổng cộng 264 câu hỏi,
bài tập tìm hiểu bài sau các bài Tập đọc. Có thể chia các câu hỏi, bài tập này thành các
thể loại sau:
.,-: nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản. Loại câu
hỏi này chiếm tỉ lệ cao (khoảng 75%) toàn bộ hệ thống câu hỏi, bài tập dành cho phân
môn Tập đọc, loại câu hỏi thể hiện ý chính của đoạn nhằm khắc sâu nội dung bài học thì
không nhiều. Dạng câu hỏi, bài tập chủ yếu trong loại này là tìm chi tiết trong bài để
minh hoạ một nhận định, một nhận xét trong bài.
Ví dụ: “Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt.” Hay “Những lời nói và
cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn?” (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu -TV4 )
.,+: Câu hỏi, bài tập làm rõ ý nghĩa nội dung trong bài. Loại câu hỏi này
đã tìm được sự quan tâm của các tác giả trong SGK, có khoảng (6%) trong tổng số câu
đọc của lớp 4 đều là văn bản nghệ thuật (tổng số có 62 bài mà có tới 60 bài là văn bản
nghệ thuật).
Theo quy trình của tiết dạy Tập đọc thì đều có bước yêu cầu học sinh đọc diễn
cảm. Bước này được thực hiện sau khi đọc hiểu. Nhưng trong thực tế giảng dạy thì lại
không có câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh cách đọc bài này như thế nào? Khi đọc cần
nhấn mạnh từ ngữ nào? Tốc độ đọc nhanh, chậm như thế nào? Thái độ khi đọc ra sao?
Hay hệ thống câu hỏi, bài tập rèn kĩ năng cảm thụ bài đọc về giá trị nội dung, giá trị nghệ
thuật một cách sâu sắc, ý nghĩa của bài đọc đi vào cuộc sống như thế nào? thì chưa được
quan tâm một cách đúng mực. Những nội dung trên không được thể hiện trong SGK
TV4, trong vở bài tập TV cũng không có. Với những lí do trên, tôi thiết nghĩ rằng việc
xây dựng một hệ thống bài tập giúp học sinh đọc - hiểu, đọc diễn cảm và cảm thụ văn học
cho học sinh lớp 4 trong giờ Tập đọc là hết sức cần thiết, nhằm giúp giáo viên và học
sinh có những hoạt động cụ thể, chi tiết nâng cao chất lượng của giờ Tập đọc góp phần
bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh.
II. BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH
TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC:
1. Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trong phân môn Tập đọc
nhằm trang bị cho học sinh vốn văn hoá - văn học cần thiết, giúp học sinh rèn luyện năng
lực đọc - hiểu và hình thành những kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm, từ đó bồi
dưỡng tình cảm, tâm hồn cho các em.
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học khác với mục đích chung
của bài tập đọc ở chỗ: Nội dung của một bài dạy Tập đọc có nhiều mục đích, trong đó
trọng tâm là luyện đọc thành tiếng và luyện đọc hiểu. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
học không quan tâm đến việc luyện đọc các từ khó và một số nhiệm vụ khác như mục
đích của bài Tập đọc nói chung.
2. Nội dung cảm thụ văn học
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bồi dưỡng năng lực
cảm thụ văn học cho học sinh. Bởi vì, Tập đọc cung cấp một khối lương ngữ liệu văn
chương nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau, rèn kĩ năng đọc - hiểu
Phân môn Tập đọc bằng cách đó đã đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ bồi
dưỡng tình cảm, tâm hồn, phát triển tư duy và nhân cách học sinh. Khi dạy học Tập đọc,
không nên biến giờ học này thành giờ giảng văn, vì con đường cảm thụ văn học của học
sinh sẽ phụ thuộc vào giáo viên mà mất đi tính chủ động, sáng tạo của các em.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC.
1. Bồi dưỡng kiến thứcTiếng Việt, văn học cho học sinh:
Ngay từ buổi học đầu tiên của chương trình Tập đọc lớp 4, giáo viên phải giúp học
sinh hiểu rõ được cảm thụ văn học là một phần quan trọng của phân môn Tập đọc, là cái
đích và cũng là một yêu cầu của phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói
chung. Để đánh giá kết quả của một bài dạy Tập đọc chúng ta thường xem xét ở nhiều
khía cạnh, song điều dễ nhận thấy nhất đó là mức độ hiểu, nắm bắt của học sinh về giá trị
nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của bài Tập đọc và cách thể hiện sự hiểu biết đó qua
việc học sinh đọc diễn cảm bài Tập đọc, cao hơn nữa là khả năng trình bày sự hiểu biết
đó bằng ngôn ngữ nói và viết của học sinh.
Giáo viên giúp học sinh hiểu được cảm thụ văn học là một quá trình nhận thức cái
đẹp chứa trong thế giới ngôn từ, cảm thụ kiến thức văn học là quá trình tiếp nhận, hiểu và
cảm được tính hình tượng của văn học, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn học.
Năng lực cảm thụ văn học là khả năng phát hiện được những tín hiệu nghệ thuật và
đánh giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cảm thụ văn học là cảm nhận được
những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong văn
bản được đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, sự chia sẻ của người đọc với những gì đã
học. Ở đây, chúng ta không yêu cầu học sinh phải tìm ra khái niệm và học thuộc từng
khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việc làm cụ thể của giáo viên và học sinh như
khi chúng ta giới thiệu bài đưa học sinh vào nội dung bài học, đọc mẫu cho học sinh
nghe, giúp học sinh hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặc sắc, một số biện pháp tu từ
trong bài… Hay khi học sinh làm việc trong nhóm: nghe bạn đọc rồi lại đọc cho bạn
nghe, cùng bạn trao đồi về nghĩa của một số từ mới trong bài hay cùng bạn tìm hiểu cách
đọc, ý chính của đoạn, đại ý của bài…để học sinh làm quen với việc cảm thụ. Từ đó, sẽ
hình thành cho học sinh những suy nghĩ, những thao tác về cảm thụ văn học. Đồng thời
văn bản (nội dung, chủ đề, đích của văn bản). Mặc dù vậy, dù cho cách phân tích nào thì
để hiểu văn bản, học sinh vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy
đó làm căn cứ để xác định chủ đề, đích của văn bản.
Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn hạn chế, cho nên việc rèn kĩ
năng đọc hiểu cho học sinh thường theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa của bộ
phận nhỏ đến hiểu nghĩa nội dung và đích của văn bản. Tuy nhiên, cuối chương trình lớp
4 có những bài tập đọc phù hợp với việc dạy phối hợp cả hai cách phân tích trên nhằm
làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc quét,
đọc đoán nghĩa.
Ý nghĩa đích thực của biện pháp này là nó khơi gợi và làm sống lại những kiến
thức đã học, thức tỉnh động cơ học tập năng động, tạo ra sự ôn luyện tích cực những gì đã
học.
Bên cạnh việc luyện tập kĩ thuật đọc, đọc hoàn thiện có tính chất tìm hiểu cò phát
triển phẩm chất tinh thần của năng lực đọc và kết quả tư tduy trong mối qua hệ với văn
bản đọc. Điều đó, đặc biệt có tác dụng tạo ra những nội dung đã đọc và năng lực cặt
nghĩa hoàn cảnh làm nên sự thấu hiểu các ý tưởng cơ bản, những thông tin quan trọng và
sự nhận thức về cầu trúc của văn bản.
Ở Tiểu học không có phân môn riêng cho cảm thụ văn học. Tập đọc là phân môn
góp phần nhiều nhât vào quá trình hình thành và phát triển năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh. Luyện đọc cho học sinh là một hoạt động đặc trưng của phân môn Tập đọc
đồng thời cũng là một khâu rất quan trọng trong việc giúp học sinh cảm thụ kiến thức văn
học. Để tìm hiểu tác phẩm văn học nói chung hay cảm thụ đoạn trích, bài thơ ở tiểu học
nói riêng, yêu cầu đầu tiên phải thể hiện được khả năng đọc. Phải đọc đúng và đọc rõ
ràng từng từ, từng câu, từng đoạn, gọi là thao tác đọc trơn (có đọc thầm và đọc thành
tiếng). Thực hiện xong thao tác này, cần tìm hiểu các từ khó và phần “Chú giải”nhằm
hiểu rõ ý nghĩa của bài văn, bào thơ. Sau đó, tuỳ theo thể loại văn bản mà xác định giọng
đọc, cách nghỉ hơi, ngặt nhịp cho phù hợp. Cho học sinh đọc nhiều lần đonạ văn, đoạn
thơ, yêu cầu học sinh phải đọc đúng, trôi chảy, lưu loát. Đọc hiểu nội dung cơ bản của bài
văn, bài thơ, phân biệt đọc văn khác với đọc thơ, đọc văn miêu tả không giống văn kể
chuyện, đọc lời trần thuật không giống đọc câu hỏi hay câu cảm và với mỗi bài sẽ có cách