SKKN MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LÀM TỐT BÀI KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN TOÁN LỚP BỐN - Pdf 25

1
1. TÊN ĐỂ TÀI
“MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LÀM TỐT BÀI KIỂM
TRA ĐỊNH KÌ MÔN TOÁN LỚP BỐN”.
2. ĐẶT VẤN ĐỀ
a) Tầm quan trọng của vấn đề
Môn Toán là môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong
nội dung chương trình bậc Tiểu học. Giáo dục toán học bậc Tiểu học nhằm giúp
học sinh:
- Có những tri thức cơ bản ban đầu về Số học - các số tự nhiên - số thập
phân - phân số - các đại lượng cơ bản - một số yếu tố thống kê và hình học cơ
bản. Hình thành ở học sinh các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có
nhiều ứng dụng trong đời sống. Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu
tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán,
phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng (bằng lời, bằng viết)
các suy luận đơn giản. Góp phần rèn luyện, phát triển năng lực, phân tích tổng
hợp, tư duy phê phán, sáng tạo, trí tưởng tượng không gian và phương pháp học
tập, làm việc khoa học, linh hoạt.
- Ngoài các mục tiêu có tính chất đặc thù của toán học cũng như các môn
học khác, môn Toán còn góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, đức
tính cần thiết của con người lao động mới. Thông qua các nội dung thực tế
phong phú và sinh động, gần gũi với học sinh của các bài toán có lời văn, các
yếu tố thống kê đơn giản mô tả về kinh tế gia đình, cộng đồng, những đổi mới
kinh tế xã hội, những ứng dụng của khoa học kĩ thuật và công nghệ đang diễn ra
hàng ngày, góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm tin vào sự phồn vinh
của quê hương đất nước. Qua các hoạt động thực hành như giải toán có lời văn,
thực hành đo đạc, vẽ, làm tính, ước lượng, góp phần rèn luyện các đức tính cần
cù, vượt khó khăn, tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, lập luận có căn cứ chính
xác, linh hoạt, sự phối kết hợp và tinh thần tập thể trong việc tìm tòi và chiếm
lĩnh tri thức.
Môn Toán chiếm một vị trí quan trọng như vậy nếu các em không nắm bắt

khác cung cấp nhiều tri thức khoa học ban đầu, nhiều thứ về thế giới xung quanh
nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tốt đẹp của con người. Các kiến
thức kĩ năng môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng của đời sống, cần cho
người lao động.
Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện tư duy, suy
nghĩ, phương pháp suy luận, thao tác cần thiết để phát triển con người toàn diện,
hình thành một nhân cách tốt đẹp cho con người mới.
Môn Toán là môn học tự nhiên nhưng rất trừu tượng, đa dạng và lô-gic,
gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy nếu học sinh không có phương
pháp học đúng, không được thường xuyên ôn tập sẽ không nắm được kiến thức
cơ bản về Toán học.
Môn Toán lớp 4 là một bước chuyển từ tư duy cụ thể của lớp 1, 2, 3 sang
tư duy tổng quát trừu tượng ở lớp 4. Đối với chương trình toán ở Tiểu học từ
khối 1 đến khối 3 học sinh được học những kiến thức sơ giản ban đầu về toán
học nên học sinh dễ nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức để rèn kĩ năng tính
cũng nhẹ nhàng hơn phù hợp với tâm lí lứa tuổi của học sinh. Bắt đầu từ lớp 4,
kiến thức toán học được nâng cao lên rõ rệt ở tất cả các mạch kiến thức như đại
lượng yếu tố hình học, số học, phân số…Do vậy, học sinh còn lẫn lộn các dạng
toán với nhau.
3
Kiểm tra đánh giá môn Toán là một khâu, một công cụ quan trọng không
thể thiếu được trong quá trình giáo dục; là động lực để đổi mới PPDH, góp phần
cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục.
Kiểm tra đánh giá môn Toán không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi
giai đoạn giáo dục mà là trong cả quá trình giảng dạy. Đánh giá ở những thời
điểm cuối mỗi giai đoạn (Kiểm tra định kì) sẽ trở thành khởi điểm của một giai
đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn, trong cả một
quá trình giáo dục… Đánh giá thường xuyên và định kì sẽ hướng vào việc bám
sát mục tiêu từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục ở từng môn học, từng
lớp, từng cấp học. Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng. Có

học vẹt và làm theo. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu
khó, tích cực tư duy, suy nghĩ, tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để
biến tri thức của thầy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em
chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy giảng, nhanh quên.
+ Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em thường vội vàng hấp tấp, đơn
giản hoá vấn đề nên đôi khi chưa hiểu kĩ đề bài đã làm và vội vàng nộp bài dẫn
đến kết quả nhiều khi bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ bước tính. Bên cạnh
đó còn nhiều nguyên nhân quan trọng nữa là tâm lí các em thích giống bài bạn,
không tin tưởng vào bài của mình dẫn đến những sai sót giống nhau, thậm chí có
khi đã làm bài đúng rồi nhưng lại bỏ đi chép lại bài sao cho giống bài bạn.
+ Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn
chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa
các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để
tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính
(hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một số em tiếp
thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các
dạng bài toán vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức.
+ Trong các lần kiểm tra hàng ngày bằng hình thức trắc nghiệm hay các
bài kiểm tra định kì nhiều em còn làm bài rất cẩu thả chưa có kĩ năng tính toán,
tẩy xóa nhiều trong bài kiểm tra dẫn đến tình trạng không có điểm vì khoanh 2 ý
trong bài làm hay bị trừ điểm vì cách trình bày bài chưa khoa học.
Những năm học qua ở trường tôi cũng như nhiều trường bạn bài kiểm tra
định kì môn Toán ở khối Bốn đạt thấp hơn các khối lớp khác, có lớp chỉ 5 - 6 em
đạt điểm giỏi về Kiểm tra định kì cuối năm.
Năm học qua 2011-2012, phòng Giáo dục về kiểm tra việc dạy và học ở
trường có khảo sát chất lượng môn Toán khối Bốn nhưng kết quả đạt rất thấp chỉ
có 4, 6 em đạt điểm giỏi còn lại là điểm khá, trung bình và tỉ lệ học sinh đạt điểm
yếu khá cao.
Qua đợt khảo sát đầu năm của lớp 4A, tôi thấy kĩ năng tính toán, tóm tắt,
phân tích đề và cách trình bày bài của các em còn rất hạn chế. Trong tổng số 33

Chương III: Dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 3, 9. Giới thiệu hình bình hành.
Chương IV: Phân số - Các phép tính với phân số. Giới thiệu hình thoi.
ChươngV: Tỉ số - Một số bài toán liên quan đến tỉ số. Tỉ lệ bản đồ.
Chương VI: Ôn tập.
+ Về nội dung chương trình Toán lớp 4: Mỗi chương là một mảng kiến
thức.
+ Nội dung môn Toán của Tiểu học được sắp xếp theo vòng tròn đồng
tâm:
Ví dụ:
1. Tia số
* Ở lớp Một : Tia số
* Lớp Hai : Biểu diễn số
* Lớp Ba : Biểu diễn số trên tia
* Lớp Bốn : Biểu diễn phân số trên tia
* Lớp Năm : Biểu diễn Hỗn số
6
Phân số thập phân ứng với số trên tia
2. Phép tính
* Ở lớp Một : - Cộng, trừ (không nhớ trong phạm vi 100)
* Lớp Hai : - Cộng, trừ (có nhớ phạm vi 100, không nhớ phạm vi 1000).
- Nhân, chia (từ 2 - 5, 1/ 2 1/5)
Các số có 3 chữ số (nhớ 1 lần)
* Lớp Ba : - Cộng, trừ Trong phạm vi 100 000 (nhớ 2 lần)
Các số có 4, 5 chữ số
(nhớ 2 lần không liên tiếp)
- Nhân, chia: Bảng nhân (từ 6 đến 9, 1/6 1/9)
- Nhân, chia số có 3, 4, 5 chữ số cho số có 1 chữ số.
- Chia hết và chia có dư.
* Lớp Bốn : - Cộng, trừ (phân số cùng mẫu, phân số khác mẫu).
Phân số.

Diện tích
cm
2
dm
2
, m
2
,
km
2
hm
2
, dam
2
,
mm
2
(Bảng)
Thể tích
Lít cm
3
, dm
3
, m
3
Khối
lượng
kg gam Hg, dag,
yến, tạ, tấn
(Bảng)

km/ giờ
m/ phút
5. Hình học
Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Lớp 5
- Điểm,
đoạn thẳng.
Điểm trong,
- Đường
thẳng
- Đường gấp
Hình vuông
- Chu vi,
Diện tích :
- Hai đường
thẳng:
+ song song
- Diện tích:
+ Hình thang
8
ngoài của
hình
khúc HCN, HV
- Góc vuông,
góc không
vuông
+ vuông góc
Thực hành vẽ
hình bằng
thước
+ Hình tam giác

- Giới thiệu:
+ Hình trụ
+ Hình cầu
+ HHCN
+ HLP
6. Giải toán (lớp 1, 2, 3)
Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3
* Dạng:
- Có, thêm
Hỏi tất cả ?
* Bài toán về:
- Nhiều hơn.
- Ít hơn
* Tìm trong các thành phần bằng nhau của 1
số.
* Gấp một số lần
* Giảm một số lần
Giải bài toán bằng 2 phép tính
* Dạng :
- Có, bớt
Hỏi tất cả ?
* So sánh số lớn gấp mấy số bé.
* So sánh số bé bằng phần mấy số lớn.
* Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Giải toán (lớp 4, 5)
Lớp 4 Lớp 5
* Tìm 2 số: Biết
+ Tổng - Hiệu; Tổng - tỉ;
Hiệu - Tỉ
* Tìm số trung bình cộng

nghệ thuật phối hợp các phương pháp dạy học trong một bài dạy của giáo viên.
Do vậy, mỗi khi lập kế hoạch bài dạy tôi nghiên cứu và tùy theo từng bài, từng
chương để lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh đồng thời dạy cho các em cách học: học từ thầy,
từ bạn và sự tìm tòi của bản thân học sinh.
Đó là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại,
trò chơi gây hứng thú cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu trong tiết học.
Ví dụ bài: NHÂN VỚI 10, 100, 1000,
CHIA CHO 10, 100, 1000,
Bài 1. Tính nhẩm:
a) 18 x 10 = 18 x 100 = 18 x 1000 =
82 x 100 = 75 x 1000 = 19 x 10 =
Bài tập này tôi cho các em chơi trò chơi truyền điện nêu kết quả.
Bài 1. Tính nhẩm:
10
b) 9000 : 10 = 6800 : 100 = 9000 : 100 =
420 : 10 = 9000 : 1000 = 2000 : 1000 =
Bài tập này tôi cho các em tự nhẩm và ghi kết quả vào vở bài tập, một em
làm bài trên bảng lớp. Tôi theo dõi chấm bài của các em dưới lớp.
Trong các tiết dạy thì bình thường khi học sinh làm xong bài tập giáo viên
sẽ gọi học sinh nhận xét bài của bạn trên bảng. Nhưng giờ học toán của tôi sau
khi làm bài xong, em làm bài trên bảng nêu cách nhẩm rồi tự trao đổi với các bạn
(Em trên bảng quay xuống lớp trình bày cách tính nhẩm của mình. Sau khi trình
bày xong sẽ hỏi cả lớp: «Tôi đã báo cáo xong, các bạn có nhận xét gì không. Khi
đó học sinh dưới lớp đưa tay có ý kiến, nhận xét bài của bạn và em đó tự gọi bạn
đứng lên nhận xét bài của mình. Khi bạn nhận xét xong em đó lại tiếp tục hỏi
xem bạn nào còn có ý kiến nữa không ? Nếu không ai có ý kiến thì em đó sẽ nói:
Cám ơn các bạn rồi đi xuống.) trong lớp học sinh sẽ tự nhận xét bài của bạn
đúng hay sai, sửa chữa như thế nào cho đúng mỗi em một ý. Ta đã biết: «Học
thầy không tày học bạn» như vậy, các em đã tự phát huy được khả năng học tập

12
=
45
20
=
70
28
=
51
34
=
11
Bài tập này tôi cho các em tự làm bài vào vở bài tập, 4 em làm bài trên
bảng lớp làm xong nêu kết quả, cách tính như trên.
Bài 2. Trong các phân số dưới đây, phân số nào bằng
9
2

18
5
;
27
6
;
63
14
;
36
10
Bài này tôi cho cả lớp làm bảng con rồi sửa chữa nêu vì sao em khoanh ý

Quy đồng mẫu số các phân số
5
3

7
4
ta được:
A.
35
21

35
20
B.
35
12

35
20
C.
21
35

20
35
D.
35
10

35

=−
c)
18
5
36
15
3
1
6
5
==
X
X
X
d)
8
5
63
51
6
5
3
1
3
1
:
6
5
===
X

bề, lần thứ hai chảy vào thêm
5
2
bể. Hỏi còn mấy phần của bể
chưa có nước ?
Bài này tôi cho các em thảo luận nhóm bốn làm bài vào bảng nhóm, làm
xong đại diện các nhóm lên bảng báo cáo kết quả thảo luận (các em trong nhóm
được luân phiên nhau lên báo cáo) rồi mời các bạn nhóm khác nhận xét, chất
vấn.
Bài tập trắc nghiệm cho phần củng cố bài:
Kết quả của phép tính
12
7
4
3
:
16
9

là:
A.
4
3
B.
3
4
C.
8
27
D.

(quả cam).
4
5
quả cam gồm 1 quả và
4
1
quả cam,
do đó
4
5
nhiều hơn 1 quả. Ta viết:
4
5
> 1.
* Phân số
4
5
có tử số lớn hơn mẫu số, phân số đó lớn hơn 1.
* Phân số có
4
4
có tử số bằng mẫu số, phân số đó bằng 1.
Ta viết:
4
4
= 1
* Phân số
4
1
có tử số bé hơn mẫu số, phân số đó bé hơn 1.

cách giải của bài toán đó.
Bước 3: Rèn kĩ năng thực hiện cách giải toán:
- Dựa vào bước lập kế hoạch giải để thực hiện cách giải và trình bày bài
giải (Bắt đầu từ câu hỏi cuối cùng);
- Rèn cho học sinh cách trình bày khoa học, viết đúng phép tính, đúng tên
đơn vị, lời giải rõ ràng, đúng yêu cầu đề ra…(Hướng dẫn học sinh có thói quen
làm ngoài giấy nháp cẩn thận rồi mới viết kết quả vào bài tránh cẩu thả, bôi bẩn,
tẩy xóa nhiều, hấp tấp sai kết quả trong bài làm);
Bước 4: Rèn kĩ năng nhìn lại bài làm:
- Đây không phải là khâu bắt buộc trong quá trình giải toán nhưng lại là
khâu không thể thiếu trong dạy và học toán. Bởi vì đây là mục đích để kiểm tra,
rà soát lại công việc giải, tìm cách giải khác và so sánh với cách vừa giải…
Ví dụ bài: Một hình chữ nhật có nửa chu vi là 125m, chiều rộng bằng
3
2

chiều dài. Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó.
Tôi hướng dẫn các em như sau:
Bước 1: Đọc đề bài ít nhất 3 lần
Bước 2: Lập kế hoạch giải:
- Tìm hiểu xem bài toán cho biết gì ? (hình chữ nhật có nửa chu vi là
125m, chiều rộng bằng
3
2
chiều dài);
- Bài toán hỏi gì ? (Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó);
- Gạch dưới yêu cầu của bài (nửa chu vi 125m, chiều rộng bằng
3
2
chiều

Chiều rộng hình chữ nhật là:
125 : 5 x 2 = 50 (m)
Chiều dài hình chữ nhật là:
125 – 50 = 75 (m)
Đáp số: Chiều rộng: 50m
Chiều dài: 75m
Biện pháp 4/ Tổ chức trò chơi học tập
Trong cuộc sống hằng ngày, trò chơi là một phần không thể thiếu được đối
với mỗi con người chúng ta. Trò chơi tạo nên sự vui tươi, thân mật, đoàn kết,
giải trí Như Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Văn Huệ đã nhận định: “Khi giảng bài, cô
giáo sử dụng đồ dùng học tập đẹp, màu sắc sặc sỡ, tổ chức các trò chơi phong
phú, các em sẽ reo lên: “Đẹp quá !”, “thích quá !”. Do đó, những bài giảng khô
khan không tạo dựng cho học sinh những cảm xúc tích cực mà còn làm cho các
em mệt mỏi, chán nản, căng thẳng.” Ở lứa tuổi tiểu học, trò chơi không những
giúp các em phát triển về thể lực, tư duy mà còn tạo cho các em trực tiếp tham
gia vào quá trình học tập, rèn luyện. Đối với các nhà giáo dục thì đó là phương
pháp “Vui mà học, học mà vui”. Như Bác Hồ đã từng căn dặn: “Trong lúc học
cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học”. Đối với
học sinh lớp 4, việc sử dụng các hình thức trò chơi học tập rất phù hợp với đặc
125m
?
?
125m
?
?
16
điểm tâm sinh lí của các em, đồng thời giúp các em bộc lộ hết năng lực của
mình, gây hứng thú khi học Toán. Do vậy, ngoài các hình thức tổ chức dạy học
tùy theo bài, theo thời lượng của tiết học mà tôi thiết kế, tổ chức cho các em
tham gia các trò chơi khác nhau:

2
15
3
+
b)
27
18
6
4
+
c)
21
6
25
15
+
* Trò chơi này có thể áp dụng được rất nhiều bài của môn Toán.
17
Trò chơi: Truyền điện
Mục đích: Luyện tập phản xạ nhanh, tính mạnh dạn, tự tin.
Chuẩn bị: Không cần chuẩn bị bất kì đồ dùng nào.
Cách chơi: Các em ngồi tại chỗ, giáo viên gọi bắt đầu từ một em bất kì
đứng lên nêu phép tính và kết quả, nếu kết quả đúng thì truyền điện gọi em khác,
nếu kết quả sai thì bị giật điện đứng tại đó giáo viên gọi em khác trả lời, khi em
đó trả lời đúng thì truyền điện cho em khác đến khi hết bài tập. Các em làm sai
cuối cùng phải nêu lại kết quả bài mình đã làm sai cho đúng rồi nhảy lò cò một
vòng từ chỗ ngồi lên bảng. Kết thúc khen thưởng một tràng pháo tay cho những
em thắng cuộc.
Ví dụ: Bài Giây, Thế kỉ
Bài 1. Viết số thích hợp vào chỗ chấm:

18
Bài 1/ 51 VBTTH: Tính a)
=−
3
5
3
8
b)
=−
5
9
5
16
c)
=−
8
3
8
21
Ví dụ bài: Phép chia phân số
Bài 2. Tính:
a)
=
8
5
:
7
3
b)
=

4
9
5
9
5
16

5
7
1
3
5
5
8

19
không, hay sai tuần này tuần sau cũng dạng bài tập đó mà vẫn sai. Để khắc phục
tình trạng này, giờ học Toán, thời gian kiểm tra tôi cho 1, 2 em lên bảng giải bài
tập các em còn lại làm bài trên bảng con để các em được trực quan và khắc sâu
kiến thức một lần nữa, nếu em nào làm sai thì sửa lại bài. Đối với học sinh Tiểu
học “Dễ nhớ - Mau quên” nên khi ra bài tập về nhà không nhất thiết phải ra các
bài tập ngày hôm nay các em học, mà có thể ra các bài các em đã học rồi. Trong
khi giảng dạy, tôi theo dõi xem ngày hôm nay các em nắm kiến thức có vững
không, bài nào các em nắm chưa vững tôi đánh dấu lại trong trang sách đến khi
những bài mới dễ học hơn các em nắm bài tốt nên tôi không giao bài tập của
kiến thức bài này mà giao bài tập mà tuần trước các em chưa nắm chắc để ngày
mai sửa bài khắc sâu thêm kiến thức một lần nữa.
Không những tôi ra những bài toán các em hay làm sai về nhà làm lại để
sửa chữa, mà đến các tiết Luyện tập Toán của buổi học tăng tiết tôi lại cho các
em làm các bài mình đánh dấu trong tuần trước để các em tự làm rồi sửa chữa

nhớ.
Các phân số
5
1
;
3
2
;
3
4
;
2
1
viết theo thứ tự lớn dần là:
Kết quả đúng:
5
1
;
;
2
1
;
3
2
3
4
nhưng lại xếp:
2
1
;

* Và nhất là các bài tập cộng, trừ, nhân, chia phân số các em còn lẫn lộn
rất nhiều có khi nhân, chia cũng quy đồng mẫu số hai phân số, chia thì lại nhân
tử với tử, mẫu với mẫu chứ không nhân phân số đảo ngược và dạng nhân, chia
phân số với số tự nhiên dạng này lẫn lộn thường xuyên. Do vậy tôi lồng ghép, ôn
tập thường xuyên các bài tập này cho các em làm quen và nhớ lâu “Chúng ta làm
thì chúng ta hiểu” để học tốt và áp dụng làm tốt Bài kiểm tra định kì.
Biện pháp 6/ Thiết kế các bài tập trắc nghiệm
Theo Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành ngày 27/10/2009 về việc Ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh
Tiểu học; Trong đó, đã quy định: Đề kiểm tra định kì của học sinh được kết hợp
bởi hình thức kiểm tra tự luận và trắc nghiệm khách quan (điền khuyết, đối chiếu
cặp đôi, đúng sai, nhiều lựa chọn).
Số câu trắc nghiệm khách quan chiếm 60 - 80% trong đề kiểm tra. Trong
thực tế giảng dạy cho thấy, bài toán nếu như dưới hình thức kiểm tra là bài tự
luận thì các em sẽ được nhiều điểm hơn so với hình thức kiểm tra trắc nghiệm vì
bài tự luận khi các em giải ra nếu đúng phần nào thì sẽ được điểm phần đó còn
nếu là dạng trắc nghiệm thì các em phải đúng hoàn toàn có nghĩa là phải chính
xác 100% mới được điểm còn không thì không có điểm. Thực tế nhiều em chỉ
thiếu có 0.25 điểm sẽ không bị thi lại, hoặc sẽ đạt học sinh Tiên tiến hay học
sinh Giỏi. Do vậy, tôi đã tìm hiểu lựa chọn thiết kế các bài tập trắc nghiệm với
dạng toán tương đương nhưng với nhiều hình thức khác nhau từ các bài toán các
em vừa học ở trên lớp để cho các em làm trong khi củng cố bài và về nhà làm,
ngày hôm sau kiểm tra sửa chữa. Khi lên lớp trên bảng là bài tập trắc nghiệm
nhưng khi làm vào bảng con các em không chỉ khoanh ý đúng mà phải trình bày
bài giải của mình để kiểm tra xem các em có tự làm hay nhìn bài của bạn khoanh
đúng mà không biết gì cả. Tôi còn thường xuyên khuyến khích, tuyên dương
nhắc nhở đề các em khi làm bài thì phải thật cẩn thận đọc kĩ đề, phải suy nghĩ kĩ
21
càng khi đặt bút khoanh câu trả lời đúng, không tẩy xóa khi làm bài chính xác
tuyệt đối. Các em được thường xuyên làm quen với các dạng toán với các bài tập

* Nếu các em làm bài trắc nghiệm mà sai kết quả thì sẽ không được điểm
nào.
3
0, 25đ
0, 25đ
0, 25đ
0, 25đ
0, 75đ
0, 75đ
0, 25đ
22
Một cửa hàng ngày đầu bán được 64 tấn gạo, ngày thứ hai bán được ít hơn
ngày đầu 4 tấn. Cả hai ngày bán được số ki lô gam gạo là:
A. 124 kg B. 256 kg C. 124000 kg D. 60000 kg
Ví dụ: Những bài tập trắc nghiệm về nhà làm để các em thường xuyên
làm quen với các dạng kiến thức khác nhau:
(Xem phụ lục)
Biện pháp 7/ Áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Toán
Trong thời đại hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng bùng nổ
và chiếm một vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Có thể nói không
có một hoạt động nào trong xã hội hiện đại tách rời được CNTT. Trong xu thế
hội nhập toàn diện, khi nước ta chính thức trở thành thành viên WTO càng đòi
hỏi phải đẩy mạnh phát triển CNTT để cập nhật, khai thác, ứng dụng những
thành tựu tri thức của nhân loại đồng thời là cánh cửa chào đón bạn bè Quốc tế
đến Việt Nam.
Hơn bao giờ hết, ngành Giáo dục và Đào tạo đã nhanh chóng hội nhập,
phát triển ứng dụng CNTT không chỉ để bắt kịp sự phát triển của Thế giới mà
còn có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phát triển
của đất nước trong tiến trình hội nhập toàn cầu. Cũng chính vì thế, năm học:
2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ chính

chéo lộn xộn để khi sai thì có thể sửa chữa rõ ràng hơn;
Đối với các bài tập trắc nghiệm:
- Khi làm từng câu trắc nghiệm cần đọc kĩ nội dung câu trắc nghiệm, cả
phần dẫn và bốn lựa chọn A, B, C, D để chọn phương án đúng, dùng bút chì tô
kín ô tương ứng trên bài. Đặc biệt chú ý đến các từ như “không”, “không đúng”,
“sai”;
- Khi làm bài nên làm lần lượt từng câu, từ câu số 1. Lần đầu đọc “lướt
nhanh” và quyết định làm những câu dễ và chắc chắn nhất, đồng thời đánh dấu
những câu chưa làm được để sau đó quay lại “giải quyết” những câu đã bỏ qua;
- Nên dành thời gian cuối buổi để xem lại bài làm. Kiểm tra lần lượt từng
câu để đảm bảo không tô nhầm các phương án trả lời sai trong bài;
- Cần tránh việc tô 2 ô trở lên cho một câu trắc nghiệm vì trong trường hợp
này sẽ không được chấm và câu đó sẽ không có điểm;
- Để tránh hiểu nhầm câu hỏi do đọc không kĩ, bỏ qua một số từ khóa
chính trong phần dẫn của câu hỏi, nên gạch chân các từ khóa chính của câu dẫn,
sau đó kiểm tra lại phương án trả lời có phù hợp với các từ khóa quan trọng của
câu hỏi không ?
- Đối với những câu hỏi về bài tập là những bài toán ngắn cần phân tích
hoặc tính toán nhanh, gọn trước khi so sánh hoặc có thể dùng phép loại trừ để
chọn phương án đúng;
- Làm xong xem lại bài và khoanh ý đúng bằng bút mực;
* Phải thật bình tĩnh, tự tin khi làm bài
Biện pháp 9/ Tuyên dương khen thưởng, động viên kịp thời
Như chúng ta đã biết: “Việc động viên, khích lệ kịp thời của giáo viên sẽ
tạo ra hưng phấn cho học sinh, làm cho quá trình nhận thức diễn ra nhẹ nhàng,
hiệu quả cao”. Học sinh Tiểu học có tình cảm hồn nhiên, mang nặng màu sắc
24
cảm tính. Trẻ thường sống với tình cảm chân thật, thơ ngây. Các em tin vào thầy,
tin vào khả năng của mình, tin vào sách báo, vào những điều nhà trường, xã hội
dạy dỗ. Do vậy trong giờ học Toán mọi sự tiến bộ dù là nhỏ của các em tôi đều

toàn khối Bốn chỉ có 8 em đạt giải thì trong đó lớp 4A đã giành được 4 giải còn
lại các lớp khác chỉ đạt 1 đến 2 giải;
Đầu năm, lớp tôi có rất ít học sinh khá, giỏi chỉ vì có mấy em học giỏi
nhất lớp đã chuyển đi trường khác, 1 em môn Toán ở lớp Ba phải qua thi lại 3
lần mới được lên lớp Bốn (Học sinh giỏi phần lớn tập trung vào lớp 4B) nhưng
25
qua các lần Kiểm tra định kì thì lớp tôi đã có nhiều em tiến bộ vượt bậc so với
các lớp trong khối Bốn.
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG – MÔN TOÁN
THỜI ĐIỂM: Đầu Năm Năm học: 2012 – 2013 Lớp 4A
Lớp
TS
HS
CƠ CẤU CHẤT LƯỢNG
TBình trở lên
GIỎI KHÁ TBÌNH YẾU, KÉM
SL % SL % SL % SL % SL %
4A
33 6 18,2 7 21,2 16 48,5 4 12,1 29 87,9
THỐNG KÊ PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG – MÔN TOÁN
THỜI ĐIỂM: Giữa kì I Năm học: 2012 – 2013 KHỐI: BỐN
Lớp
TS
HS
CƠ CẤU CHẤT LƯỢNG
TBình trở
GIỎI KHÁ TBÌNH YẾU
KÉM
SL % SL % SL % SL % SL %
4A

94

Trích đoạn Đối với giáo viên:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status