SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương trình Ngữ văn 8 (tập 1) ở trường THCS Quỳnh Hoa - Pdf 25

Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn:
Trong nhà trường nói chung, trong trường THCS nói riêng, Ngữ văn là môn học
trang bị cho học sinh những tri thức để đánh gia đúng các vấn đề văn học(bao gồm:
tác phẩm, tác giả, các quá trình văn học … )có nghĩa là góp phần tạo cho học sinh
khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếp nhận cũng như khả
năng biết đánh giá đúng đắn, khoa học các hiện tượng.
Song song với nhiệm vụ trên là quá trình giúp học sinh hình thành và phát triển
khả năng sản sinh văn bản mới ( nói và viết).
Làm văn là phân môn hướng tới nhiệm vụ thứ hai này. Nó giúp học sinh hình
thành những kĩ năng cần thiết để làm được bài văn. Người học sinh từ tiểu học đến
trung học (kể cả vào đại học) đã và sẽ được làm văn theo ba dạng sau đây:
Dạng sáng tác văn học như: miêu tả, tường thuật, kể chuyện ( tự sự) … và một số
thể thơ quen thuộc như : thơ 5 chữ, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát …
Dạng bài nghị luận với hai nội dung chủ yếu là nghị luận xã hội và nghị luận văn
học ( trong chương trình ở THCS là ở lớp 7, 8, 9).
Dạng văn hành chính công vụ như: đơn từ, biên bản, thông báo, báo cáo, hợp
đồng.
Đặc trưng cơ bản của nhóm thứ nhất là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây
dựng óc quan sát tinh tế cho học sinh. Đặc trưng của nhóm thứ hai là nhằm hình
thành và phát triển tư duy lí luận với khả năng lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết
phục. Loại văn hành chính công vụ thì có đặc trưng là khuôn mẫu, công thức.
Trong nhà trường phổ thông, nhìn chung không đặt ra việc sáng tác văn học. Tuy
nhiên để phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS được làm quen với kiểu sáng tác, tạo
tiền đề cho các em có thể vận dụng tốt trong quá trình học sau này.
Những bài văn hay loại này là những bài văn viết đúng quy cách, chân thật, có
những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên và đời sống gia đình, xã hội …
Trong chương trình Ngữ văn THCS, ở lớp 8 học sinh được học văn tự sự từ bài 1
đến bài 10 (chiếm gần 1/3 số bài trong chương trình). Tuy học sinh đã học văn tự sự
từ lớp 6 (ở THCS) nhưng vì nhiều lí do nên các em làm loại văn này vẫn chưa tốt.

làm tốt bài văn tự sự. Qua thời gian tìm tòi và vận dụng, cho đến nay tôi đã tìm được
cho mình một cách làm mang lại hiệu quả cao. Trong cách làm đó vấn đề tích hợp có
vai trò rất quan trọng. Đó cũng là yêu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay.
3. Thực trạng của vấn đề:
Về phía người giáo viên, trước đây khi dạy văn tự sự cho các em, tôi mới chỉ giúp
các em nắm bắt được những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa. Trong quá
trình dạy chỉ dạy văn tự sự ở những tiết học về văn tự sự, chưa tận dụng được thời
gian ở các phân môn khác để tích hợp với phần tập làm văn. Đặc biệt chưa chú trọng
luyện tập và ra bài tập về nhà cho các em để từ đó hình thành kĩ năng làm bài.
Về phía học sinh, do đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải lao động
giúp đỡ bố, mẹ nên ít có thời gian để đọc các tài liệu tham khảo, mở rộng hiểu biết.
Nhiều em gia đình nghèo không có điều kiện mua sách tham khảo cho con em. Vì
vậy chỉ có thể nắm bắt được những gì SGK cung cấp.
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh ở Quỳnh Hoa lại ít có điều
kiện cũng như thời gian để luyện tập nên vốn từ nghèo cũng thêm phần khó khăn cho
viết bài. Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về
nhà không làm bài nên khi làm bài thường vụng về, lúng túng. Khả năng kết hợp yếu
tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự tự còn yếu. Nên bài văn khô khan, không sinh
động và hấp dẫn.
Trước thực trạng đó mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp giúp học sinh
nắm và làm tốt bài văn tự sự. Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở: “Làm sao giúp
học sinh làm tốt bài văn tự sự?”. Qua quá trình dạy học, quá trình tìm tòi tôi đã có
được những biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương trình Ngữ
văn 8.
Sau đây tôi xin trình bày “ Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự
trong chương trình Ngữ văn 8 (tập 1) ở trường THCS Quỳnh Hoa
Những biện pháp này được áp dụng ở lớp do tôi dạy lớp 8A.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đề 1: Trong cuộc đời mỗi chúng ta ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ, kỉ niệm
đáng nhớ nhất của em ở thời thơ ấu là gì?
Đề 2: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc của em trong thời thơ ấu.
Yêu cầu trả lời :
- Kiểu bài của mỗi đề là gì?
- Lời yêu cầu ở mỗi đề là trực tiếp hay giàn tiếp?
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào (kể về một hay nhiều kỉ niệm)?
- Lưu ý: đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ ngữ quan trọng.
Làm xong gọi học sinh trình bày, học sinh khác nhận xét . Giáo viên tổng hợp nhận
xét bổ sung
* Kiểu bài:
- Đề 1 và 2 đều có kiểu bài tự sự.
- Đề 1 là đề có yêu cầu gián tiếp, đề 2 có yêu cầu trực tiếp.
* Giới hạn của đề bài: kể duy nhất một kỉ niệm, đó là kỉ niệm đáng nhớ nhất ở
thời thơ ấu.
Từ nội dung đó giáo viên nhắc nhở học sinh: từ bây giờ, trước khi viết một bài
văn các em nên tìm hiểu đề bài trước để viết bài văn cho tốt bằng cách thực hiện các
yêu cầu như bài tập các em vừa làm. Có thể khái quát thành hai nội dung cơ bản(ta
gọi là Tìm hiểu đề):
- Xác dịnh kiểu bài.
- Xác định giới hạn của đề bài.
Ví dụ 2. khi dạy xong bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản (tiết 10 – bài 3),
giáo viên yêu cầu học sinh: Ngoài việc chuẩn bị để làm bài các em thực hiện trước
bước tìm hiểu đề cho các đề có trong phần Viết bài tập làm văn số 1 – văn tự sự.
Tới tiết 11 -12, trước khi viết bài giáo viên yêu cầu 1 hoặc 2 học sinh trình bày
kết quả việc tìm hiểu đề rồi mới đi vào viết bài.
Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
Học sinh trả lời :
Đề 1: Kể lại những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học.

đầu đoạn), chủ đề là nói về vẻ đẹp huyền ảo trong ngày của Ba Vì.
- Đoạn giới thiệu về Nam Cao ở trang 45 được viết theo lối song hành (từ ngữ
chủ đề là Nam Cao, ông), đối tượng là Nam Cao.
Trang 5
Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
Học sinh trả lời được như vậy là đã nắm được “Thế nào là đoạn văn”. Trên cơ sở
đó tôi cho học sinh đi vào thực hành kĩ năng viết đoạn văn.
Trong quá trình học, học sinh được học rất nhiều văn bản tự sự. Đó là điều kiện
giúp các em viết tốt đoạn văn tự sự.
Ví dụ 1: Khi học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4) tôi
cho học sinh bài tập về nhà: Về nhà mỗi em viết một đoạn văn nói về số phận và tính
cách của lão Hạc - người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám (cho
HS một câu gợi ý: Lão Hạc là con người nghèo khổ nhưng lão có nhiều phẩm chất
đáng quý.)
Tới tiết 16 – Liên kết đoạn văn trong văn bản, khi kiểm tra bài cũ xong, GV
mời một HS trình bày đoạn văn của mình cho cô cùng cả lớp nghe rồi GV nhận xét.
Cuối tiết học GV thu bài lại để về nhà chấm, nhận xét và sửa cho HS.
Ví dụ 2: khi dạy xong tiết 21 – 22, văn bản Cô bé bán diêm, GV ra bài tập cho
HS về nhà làm:
Em thử tưởng tượng mình là người chứng kiến cái chết của cô bé trong truyện
Cô bé bán diêm của An – đéc – xen, bây giờ các bạn muốn nghe em kể lại cái chết
của cô bé. Vậy em hãy viết một đoạn văn kể lại cho các bạn cùng nghe.
Tới tiết học tiếp theo, giáo viên thu bài của các em về nhà chấm, sửa và nhận xét
trong bài viết cho các em.
Khi trả lại bài cho học sinh, giáo viên cho đọc một số bài viết tốt để các em rút
kinh nghiệm cho bài của mình.
Ví dụ 3: bài Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội (tiết 17 – bài 5)có nội dung
tương đối ngắn, bài tập dễ nên giáo viên cho học sinh làm bài tập ở nhà. Thời gian
trên lớp giáo viên cho học sinh làm bài tập: em hãy viết một đoạn văn ngắn kể về
người mẹ (hoặc cha) của mình trong đó có sử dụng từ ngữ địa phương.

Ví dụ 1: khi dạy xong bài Liên kết các đoạn văn trong văn bản – tiết 16, bài 4,
giáo viên yêu cầu: về nhà các em đọc văn bản Cô bé bán diêm (An – đéc – xen) ở
trang 64 sau đó xác định các từ ngữ và câu có tác dụng nối giữa các đoạn văn trong
văn bản đó.
Tới tiết 18, bài 5 – Tóm tắt văn bản tự sự, trong phần kiểm tra bài cũ, giáo viên
mời học sinh trình bày (giáo viên kết luận) những từ ngữ, câu có tác dụng nối như:
- Em quẹt que diêm thứ hai,…
- Em quẹt que diêm thứ ba.
- Em quẹt que diêm nữa vào tường, …
- Thế là …
- Sáng hôm sau,
- Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy …
Ví dụ 2: Cũng như ở ví dụ 1, nhưng có thể cho học sinh tìm phương tiện liên kết
trong văn bản “ Đánh nhau với cối xay gió”( Xéc – van – téc), ở văn bản này thì dễ
nhận biết hơn.
Học sinh có thể tìm dược các phương tiện liên kết:
Vừa bàn tán về cuộc phiêu lưu mới xảy ra, …
Đêm hôm ấy, …
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
Trên cơ sở bài tập này, giáo viên đã giúp học sinh khắc sâu kiến thức phần lí
thuyết, từ đây có thể cho học sinh thực hành việc liên kết đoạn văn.
Việc viết các đoạn văn có sự liên kết với nhau đối với học sinh trung bình và yếu
là tương đối khó. Cho nên trong quá trình dạy tôi luôn có những đoạn văn mẫu cho
các em. Bên cạnh đó là bài của các em học sinh khá giỏi. Đồng thời luôn khích lệ tinh
thần cho các em.
* Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các em về
nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).
Ví dụ 1: Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc - van - téc) có hai nhân vật
Đôn - ki - hô - tê và Xan - chô Pan - xa tương phản nhau về mọi mặt. Vậy sau bài học

bài về nhà chấm rồi kết hợp trong các buổi học bồi dưỡng và phụ đạo để trả bài, nhận
xét thật kĩ cho học sinh. Học sinh tự sửa chữa bài của mình. Từ đó các em rút được
kinh nghiệm để làm bài tốt hơn.
Rèn luyện các kĩ năng đó cho học sinh để làm tốt bài văn tự sự cũng cần nhiều
thời gian mà thời lượng trong chương trình ngữ văn 8 phần văn tự sự chỉ có 13 tiết
thời gian không nhiều. Để khắc phục được khó khăn đó tôi đã cố gắng tích hợp trong
phần đọc hiểu văn bản những gì có thể tích hợp được. Ngoài ra tôi còn ra thêm bài
tập để các em luyện ở nhà và kết hợp trong các buổi phụ đạo và bồi dưỡng ( môn Ngữ
văn) để hướng dẫn và cho các em luyện tập thực hành.

C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. Một số lưu ý:
Để trở thành người thợ giỏi ở bất cứ một ngành nghề nào người thợ cũng
phải trải qua quá trình học tập và rèn luyện lâu dài. Để viết tốt một bài văn cũng
vậy, học sinh phải trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc có sự hướng dẫn của
giáo viên.
Trong quá trình dạy, giáo viên giúp học sinh nhớ lại những kiến thức cũ đã
học về văn tự sự đã học ở lớp 6 bắng các tình huống có vấn đề trong các tiết lí
thuyết.
Để áp dụng có hiệu quả những biện pháp này, người giáo viên thực sự tâm
huyết, có tinh thần trách nhiệm, dành thời gian nhiều. Do học sinh phải thực hiện
phần bài tập ở nhà nhiều nên giáo viên phải thu vở bài tập về nhà đê chấm, sửa
cho các em.
Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi quá trình học sinh làm
bài, chấm chữa bài kịp thòi . Điều quan trọng là giáo viên biết động viên, khuyến
khích, tuyên dương học sinh đúng lúc, kịp thời. Nếu giáo viên làm tốt điều đó thì
các em sẽ rất tự giác và có hứng thú làm bài tập ở nhà cũng như trên lớp.
Đối với những học sinh học yếu giáo viên phải tìm hiểu, gần gũi, động viên,
giúp đỡ để các em tự tin và cố gắng.
Trang 9

Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
1
2
1/33
2/33
3
6,1
7/33
10/33
21,2
30,3
19/33
18/33
57,6
54,5
6
3/33
18,2
9,1
Qua so sánh hai kết quả này cho thấy việc vận dụng các biện pháp trên sẽ giúp học
sinh học tập tốt hơn và có kết quả cao hơn.
3. Lời kết:
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chương
trình Ngữ văn 8. Đó cũng là những gì tôi tích luỹ được trong quá trình dạy văn tự sự
trong thời gian qua.
Qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu,trao đổi với đồng nghiệp, thông qua tiết dự
giờ, tham khảo tài liệu … tôi đã tích luỹ được cho mình một số kinh nghiệm, nó được
tôi áp dụng vào bài dạy khi lên lớp tại trường THCS quỳnh Hoa.
Khi áp dụng những kinh nghiệm trên vào bài dạy, sau một thời gian chật lượng

trình ngữ văn 8 mà tôi đã đúc rút được trong quá trình giảng dạy. Có thể những biện
pháp này chưa được tối ưu. tôi rất mong sự góp ý và bổ sung của hội đồng khoa học
nhà trường
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này.
HS, ngày 16 tháng 4 năm 2009
Người thực hiện
Đào Xuân Anh
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm Đào Xuân Anh Trường THCS
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Vị trí của văn tự sự trong môn Ngữ văn.
2. Lí do chọn đế tài.
3. Thực trạng vấn đề.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Tìm hiểu đề (xác định yêu cầu của đề).
2. Viết đoạn văn trong văn bản tự sự.
3. Liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự.
4. Yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. Một số lưu ý
2. Kết quả
3. Lời kết
D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trang 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status