SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI:
"MỘT VÀI SUY NGHĨ GIÚP HỌC SINH LỚP 4 RÈN KỸ NĂNG
CẢM THỤ VĂN HỌC" PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục tiểu học là bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở ban đầu hết
sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho
giáo dục phổ thông. Mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh
những tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản mang tính đúng đắn và
lâu dài để các em học tiếp Trung học cơ sở. Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ
mới, chất lượng giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục.
Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của xã hội, cần đến nhân tài, những người có trí tuệ
sắc bén, có bàn tay vàng, có kỹ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là
việc làm thực sự cần thiết.
Ở tiểu học, việc bồi dưỡng học sinh là trách nhiệm của giáo viên và nhà trường.
Trong hệ thống các môn học ở tiểu học thì môn Tiếng việt là môn học rất quan trọng,
được coi là môn học công cụ để học tốt các môn học khác. Môn Tiếng việt gồm nhiều
phân môn, trong đó phần cảm thụ văn học là phần nhằm phát triển tư duy cho học sinh,
Chính vì vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra biện pháp hữu hiệu
nhằm bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh ở bậc tiểu học là một việc làm
thiết thực, góp phần thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu
học. Trong khuôn khổ SKKN này tôi chỉ trao đổi " Một vài suy nghĩ giúp học sinh lớp 4
rèn kỹ năng cảm thụ văn học" thông qua phân môn Tập đọc
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm về cảm thụ văn học
Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới
ngôn từ, hệ thống tín hiệu thứ hai loài người. Đó là quá trình tiếp nhận, hiểu cảm thụ
được của văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật,
tính hình tượng của văn chương. Đây là quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ rất đặc
biệt, phức tạp và có tính sáng tạo. Những tính chất này do đối tượng nhận thức là tác
phẩm văn học quy định. Mỗi một tác phẩm văn học đều mang một vẻ đẹp toàn diện về cả
nội dung và cả giá trị nghệ thuật. Đó chính là vẻ đẹp về ngôn ngữ, về các hình thức nghệ
thuật được sử dụng trong tác phẩm đó. Quá trình nhận thức cái đẹp trong văn thơ là quá
trình nhận thức cái đẹp về ngôn ngữ mà là ngôn ngữ nghệ thuật. Đặc trưng của ngôn ngữ
nghệ thuật là giàu hình ảnh, có sức biểu cảm và có tính đa nghĩa.
2. Đặc trưng về năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi Tiểu học.
- Trước khi đến trường, HS tiểu học đã có vốn văn học nhất định. Đây không phải là
lần đầu tiên các em được tiếp xúc với hình tượng văn học. Ngay từ nhỏ các em đã được
nghe bố, mẹ, ông, bà kể chuyện cổ tích,truyện kể nhi đồng, nghe và thuộc các bài đồng
dao, một số bài ca dao, dân ca Dù chưa ý thức rõ rệt, nhưng các em đã tiếp xúc với thơ,
văn từ rất sớm, từ thuở ấu thơ trong lời bà, lời mẹ hát ru: Ví dụ: Con ong làm mật yêu hoa
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời
Âm điệu ngọt ngào của lời ru đã đưa những câu ca ấy đến với các em, giúp các em
Lớp Một ơi! Lớp Một!
Đón em vào năm trước
Chào bảng đen cửa sổ
Chào nơi ngồi thân quen
Tất cả! Chào ở lại
Đón các bạn nhỏ lên
Chào cô giáo kính mến
Cô sẽ xa chúng em
Nay giờ phút chia tay
Gửi lời chào tiến bước!
Làm theo lời cô dạy
Cô sẽ luôn ở bên.
Lớp Một ơi! Lớp Một
Đón em vào năm trước
Nay giờ phút chia ta
Gửi lời chào tiến bước
( Gửi lời chào lớp Một - Hữu
Tưởng )
Chia tay lớp Một, các em như đang trong trạng thái khó tả: vừa vui mừng khôn xiết
vì đã được nghỉ hè, vì sắp được lên lớp Hai; song nghỉ hè, cũng phải chia tay cô giáo đã
dạy mình, để sang năm cô sẽ đón những HS lớp Một mới. Ngập ngừng, lưu luyến, các em
chào cô giáo kính mến, đồng thời không quên chào bảng đen, cửa sổ, chỗ ngồi, những đồ
vật biết bao thân thiết từng gắn bó với mình. Đọc bài thơ mà trào dâng nỗi niềm da diết,
trào dâng nỗi xao xuyến, bồi hồi!
Từ ví dụ trên cho ta thấy: từ nghe đến đọc, rõ ràng không phải chỉ là việc chúng ta
nghe hay đọc một cách thuần tuý, mà thực sự là trong nghe có hiểu, trong đọc có hiểu,
vừa nghe - hiểu vừa đọc - hiểu. Hiện tượng đó dù ở những dấu hiệu sơ khai nhất, là chính
các em thực sự đã tham gia cảm thụ văn học rồi đấy!
Tuy nhiên, lứa tuổi tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiện những nội
dung trừu tượng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt. Đó là do tư duy lôgíc ở các em
học sinh, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã liên tục đưa ra nhiều văn
bản hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dạy học môn
Tiếng Việt, trong đó đặc biệt chú ý phần cảm thụ văn học. Những việc làm đó là: đổi mới
chương trình SGK, tập huấn chương trình thay sách, tổ chức các hội thảo về đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và các báo cáo khoa học về
nâng cao chất lượng các môn học, triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo
các chu kỳ. Tuy nhiên, như một vết hằn đã in sâu trong cách nghĩ của giáo viên quan
niệm rằng việc dạy cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học một cách đồng loạt là chưa cần
thiết. Mặc dù, có những công việc giáo viên và học sinh làm trên lớp, bản chất là đang
giúp học sinh cảm thụ văn học nhưng giáo viên không biết. Hoặc đôi khi giáo viên đề cao
quá vấn dề cảm thụ văn học, cho rằng dạy cảm thụ văn học là dạy bồi dưỡng học sinh
giỏi, là dạy nâng cao cho học sinh. Từ việc chưa nhận thức được, hoặc là nhận thức chưa
đầy đủ về vai trò quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
nên phần giúp học sinh cảm thụ văn học thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn thì giáo viên dạy chưa có hiệu quả nếu không dám nói là hời hợt, qua loa.
Giáo viên chưa vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học mới, chưa tìm ra
các biện pháp dạy học hiệu quả để áp dụng vào việc rèn kỹ năng cảm thụ văn học cho học
sinh. Nếu có dạy cảm thụ văn học thì đa số giáo viên áp đặt cách cảm thụ của mình cho
học sinh, trò thừa nhận ý kiến của thầy, cảm thụ lại những điều mà thầy cảm thụ được.
Mà chúng ta đã biết rằng việc cảm thụ của người lớn có những điểm giống nhưng cũng
có rất nhiều điểm khác so với cảm thụ của trẻ…rõ ràng với cách làm này là chưa ổn.
2. Về phía học sinh:
Để khảo sát toàn diện về vấn đề nhận thức và thực hành cảm thụ văn học của học
sinh lớp 4, tôi đã tiến hành điều tra và phỏng vấn 40 học sinh lớp 4A. Khi điều tra vấn đề
này , tôi nhận thấy trong quá trình cảm thụ văn học thông qua phân môn Tập đọc các em
gặp rất nhiều khó khăn. Hầu hết các em không nắm được bản chất của hoạt động cảm thụ
văn học là làm cái gì, học sinh không nắm được các kỹ năng cần thiết để cảm thụ được
một văn bản nghệ thuật.
* Về sự rung cảm có tính thẩm mĩ : Tốt có 7,5% Yếu : 30 %
Trung bình đạt 45% Khá : 17,5%.
* Vốn ngôn ngữ, chữ viết của học sinh có cao hơn, tỉ lệ đạt Tốt là 15%, Khá là
17,5%, Trung bình là 45% nhưng vẫn có đến 22,5% Yếu.
* Về khả năng diễn đạt theo ý riêng, tốt chỉ có 5,7%, khá có 17,5%, yếu có đến
27,5%, có 47,5% Trung bình.
Để khảo sát toàn diện hơn chất lượng về kĩ năng cảm thụ văn học của học sinh lớp 4, tôi
đã tiến hành thêm một thực nghiệm mang tính thăm dò làm bài kiểm tra cảm thụ kết quả
như sau:
Nội dung kiểm tra Kết
quả
Nhận diện
ngôn ngữ
trong văn
bản
BT1: Đọc, nghe và phát hiện các từ ngữ mới (từ khó hiểu)
có trong văn bản
42,6
BT2: Xác định đề tài của văn bản
21,73
Tìm hiểu nội
dung văn
bản
BT3: Làm rõ nghĩa của các từ mới, từ khó hiểu. 46,08
BT4 và BT6: Tìm từ ngữ, hình ảnh đặc sắc, các biện pháp
nghệ thuật của tác giả.
26,95
móc, phụ thuộc quá nhiều vào từng câu, từng chữ trong văn bản, trong suy nghĩ và trả lời
học sinh chưa chủ động và chưa có tính sáng tạo. Chẳng hạn, tìm từ ngữ, hình ảnh đặc
sắc trong văn bản thì học sinh đọc cả đoạn trích trong văn bản. Hay việc xác định các
biện pháp nghệ thuật của văn bản, học sinh cũng còn nhiều lúng túng, nhiều học sinh còn
lẫn lộn chưa phân biệt rạch ròi các biện pháp tu từ tiếng Việt. Dạng bài tập: Em thích
hình ảnh nào nhất, từ ngữ, câu thơ, nhân vật…nào nhất? Thì học sinh có một số em trả lời
được, nhưng khi hỏi để lý giải vì sao em thích thì thì học sinh không trả lời được hoặc
diễn đạt ngắc ngứ. Phần đông học sinh chỉ dừng lại ở phần tìm hiểu văn bản mà chưa chủ
động trong việc diễn đạt kết quả cảm thụ, chưa biết rút ra bài học về nhận thức, về tình
cảm, hành vi sau khi được đọc, được nghe. Đặc biệt học sinh chưa biết suy nghĩ để phê
phán hay khẳng định nội dung văn bản đưa ra, học sinh không biết quan tâm đến mong
muốn mà người viết đặt vào chính đối tượng người đọc, người nghe.
Như vậy, quá trình nhận thức và thực hành cảm thụ văn học của giáo viên và học
sinh trong nhà trường tiểu học đang còn nhiều tồn tại. Việc dạy cảm thụ văn học còn hình
thức, chiếu lệ và chủ yếu là thực hiện bằng kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên chứ
chưa có một quy trình nào đảm bảo tính khoa học để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
cho các em. Bản thân các em còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cảm thụ và diễn đạt
kết quả cảm thụ, khiến cho học sinh không thấy hứng thú khi học cảm thụ văn học. Đôi
khi học sinh cảm thấy sợ khi làm các bài tập về cảm thụ văn học, đặc biệt là dạng hồi đáp
văn bản, học sinh không chủ động trong việc diễn đạt kết quả cảm thụ, “ngại”bày tỏ cảm
xúc bằng ngôn ngữ của mình. Nếu như giáo viên có vốn kiến thức và kỹ năng nhất định
về cảm thụ văn học, biết tạo hứng thú học tập ở học sinh bằng cách đưa ra hệ thống các
biện pháp phù hợp kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của các em thì chắc chắn sẽ giải
quyết được những khó khăn này, đồng thời rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh để quá trình
bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh từng bước được nâng lên. B. CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4.
I. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 - NGỮ
từng bước có nhu cầu cảm thụ văn học và biết cách cảm thụ văn học. Thứ ba: trong vở Bài tập Tiếng Việt 4 không có các câu hỏi, bài tập dành cho phân
môn Tập đọc mà chỉ có các câu hỏi, bài tập cho phân môn Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
làm văn. Nên việc giúp học sinh đọc - hiểu, đọc diễn cảm, cảm thụ thông qua hệ thống
bài tập - những việc làm cụ thể như các phân môn học khác thì gặp không ít những khó
khăn.
Thứ tư: trong cả 2 quyển SGK Tiếng Việt 4 (T1 và T2) có tổng cộng 264 câu hỏi,
bài tập tìm hiểu bài sau các bài Tập đọc. Có thể chia các câu hỏi, bài tập này thành các
thể loại sau:
Loại thứ nhất: nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản. Loại câu
hỏi này chiếm tỉ lệ cao (khoảng 75%) toàn bộ hệ thống câu hỏi, bài tập dành cho phân
môn Tập đọc, loại câu hỏi thể hiện ý chính của đoạn nhằm khắc sâu nội dung bài học thì
không nhiều. Dạng câu hỏi, bài tập chủ yếu trong loại này là tìm chi tiết trong bài để
minh hoạ một nhận định, một nhận xét trong bài.
Ví dụ: “Tìm những chi tiết cho thấy chị Nhà Trò rất yếu ớt.” Hay “Những lời nói và
cử chỉ nào nói lên tấm lòng nghĩa hiệp của Dế Mèn?” (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu -TV4 )
Loại thứ hai: Câu hỏi, bài tập làm rõ ý nghĩa nội dung trong bài. Loại câu hỏi này
đã tìm được sự quan tâm của các tác giả trong SGK, có khoảng (6%) trong tổng số câu
hỏi thuộc dạng này.
Ví dụ: “Vì sao cách làm của cô em giúp được chị tỉnh ngộ?” (Chị em tôi - TV4 -
T1 - tr59); “Vì sao chú bé Hiền được gọi là “Ông trạng thả diều?” (Ông trạng thả diều
TV4 - T1 - tr104);
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo độc đáo của tác
giả.
Ví dụ: “Chiếc bè được ví với cái gì? (Bè xuôi Sông La - TV4 - T2); “Cách nói:
“dòng sông mặc áo” có gì hay? (Dòng sông mặc áo - TV4 - T2).
Loại Thứ tư: Yêu cầu học sinh nêu mục đích tác động của tác giả gửi vào văn bản
và yêu cầu nêu sự hồi đáp của các em về nội dung văn bản. Loại câu hỏi, bài tập này thể
quan tâm một cách đúng mực. Những nội dung trên không được thể hiện trong SGK
TV4, trong vở bài tập TV cũng không có. Với những lí do trên, tôi thiết nghĩ rằng việc
xây dựng một hệ thống bài tập giúp học sinh đọc - hiểu, đọc diễn cảm và cảm thụ văn học
cho học sinh lớp 4 trong giờ Tập đọc là hết sức cần thiết, nhằm giúp giáo viên và học
sinh có những hoạt động cụ thể, chi tiết nâng cao chất lượng của giờ Tập đọc góp phần
bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. II. BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH
TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC:
1. Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trong phân môn Tập đọc
nhằm trang bị cho học sinh vốn văn hoá - văn học cần thiết, giúp học sinh rèn luyện năng
lực đọc - hiểu và hình thành những kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm, từ đó bồi
dưỡng tình cảm, tâm hồn cho các em.
Mục đích của việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học khác với mục đích chung
của bài tập đọc ở chỗ: Nội dung của một bài dạy Tập đọc có nhiều mục đích, trong đó
trọng tâm là luyện đọc thành tiếng và luyện đọc hiểu. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn
học không quan tâm đến việc luyện đọc các từ khó và một số nhiệm vụ khác như mục
đích của bài Tập đọc nói chung.
2. Nội dung cảm thụ văn học
Tập đọc là phân môn có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc bồi dưỡng năng lực
cảm thụ văn học cho học sinh. Bởi vì, Tập đọc cung cấp một khối lương ngữ liệu văn
chương nhiều nhất thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều phạm vi khác nhau, rèn kĩ năng đọc - hiểu
nhiều nhất và rèn kĩ năng đọc diễn cảm, đọc phân vai tập trung nhất, ở đây có một số
đoạn trích, hoặc toàn bộ tác phẩm của các tác giả văn học lớn được đưa vào chương trình.
Cũng có nhiều bài do các nhà giáo soạn ra, hoặc phỏng theo các nhà văn hoặc sưu tầm
trên báo chí. Chúng được biên soạn lại, sắp xếp theo hệ thống chủ đề và theo các kiểu văn
bản. Phân môn Tập đọc sẽ giúp các em hiểu được nội dung, nghệ thuật, rung cảm trước
những từ ngữ, những câu, những hình ảnh, những hình tượng thẩm mỹ. Những sáng tác
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC.
1. Bồi dưỡng kiến thứcTiếng Việt, văn học cho học sinh:
Ngay từ buổi học đầu tiên của chương trình Tập đọc lớp 4, giáo viên phải giúp học
sinh hiểu rõ được cảm thụ văn học là một phần quan trọng của phân môn Tập đọc, là cái
đích và cũng là một yêu cầu của phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói
chung. Để đánh giá kết quả của một bài dạy Tập đọc chúng ta thường xem xét ở nhiều
khía cạnh, song điều dễ nhận thấy nhất đó là mức độ hiểu, nắm bắt của học sinh về giá trị
nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của bài Tập đọc và cách thể hiện sự hiểu biết đó qua
việc học sinh đọc diễn cảm bài Tập đọc, cao hơn nữa là khả năng trình bày sự hiểu biết
đó bằng ngôn ngữ nói và viết của học sinh.
Giáo viên giúp học sinh hiểu được cảm thụ văn học là một quá trình nhận thức cái
đẹp chứa trong thế giới ngôn từ, cảm thụ kiến thức văn học là quá trình tiếp nhận, hiểu và
cảm được tính hình tượng của văn học, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn học.
Năng lực cảm thụ văn học là khả năng phát hiện được những tín hiệu nghệ thuật và
đánh giá được chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cảm thụ văn học là cảm nhận được
những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong văn bản được đọc đồng thời là sự thể hiện thái độ, sự chia sẻ của người đọc với những gì đã
học. Ở đây, chúng ta không yêu cầu học sinh phải tìm ra khái niệm và học thuộc từng
khái niệm, mà thông qua các thao tác, các việc làm cụ thể của giáo viên và học sinh như
khi chúng ta giới thiệu bài đưa học sinh vào nội dung bài học, đọc mẫu cho học sinh
nghe, giúp học sinh hiểu và cảm thụ một số hình ảnh đặc sắc, một số biện pháp tu từ
trong bài… Hay khi học sinh làm việc trong nhóm: nghe bạn đọc rồi lại đọc cho bạn
nghe, cùng bạn trao đồi về nghĩa của một số từ mới trong bài hay cùng bạn tìm hiểu cách
đọc, ý chính của đoạn, đại ý của bài…để học sinh làm quen với việc cảm thụ. Từ đó, sẽ
hình thành cho học sinh những suy nghĩ, những thao tác về cảm thụ văn học. Đồng thời
tích ôn luyện lại các kiến thức về Tiếng Việt như: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện
pháp tu từ trong Tiếng Việt. Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc và cảm thụ đoạn:
văn bản (nội dung, chủ đề, đích của văn bản). Mặc dù vậy, dù cho cách phân tích nào thì
để hiểu văn bản, học sinh vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy
đó làm căn cứ để xác định chủ đề, đích của văn bản.
Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn hạn chế, cho nên việc rèn kĩ
năng đọc hiểu cho học sinh thường theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa của bộ
phận nhỏ đến hiểu nghĩa nội dung và đích của văn bản. Tuy nhiên, cuối chương trình lớp
4 có những bài tập đọc phù hợp với việc dạy phối hợp cả hai cách phân tích trên nhằm
làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc quét,
đọc đoán nghĩa.
Ý nghĩa đích thực của biện pháp này là nó khơi gợi và làm sống lại những kiến
thức đã học, thức tỉnh động cơ học tập năng động, tạo ra sự ôn luyện tích cực những gì đã
học.
Bên cạnh việc luyện tập kĩ thuật đọc, đọc hoàn thiện có tính chất tìm hiểu cò phát
triển phẩm chất tinh thần của năng lực đọc và kết quả tư tduy trong mối qua hệ với văn
bản đọc. Điều đó, đặc biệt có tác dụng tạo ra những nội dung đã đọc và năng lực cặt
nghĩa hoàn cảnh làm nên sự thấu hiểu các ý tưởng cơ bản, những thông tin quan trọng và
sự nhận thức về cầu trúc của văn bản.
Ở Tiểu học không có phân môn riêng cho cảm thụ văn học. Tập đọc là phân môn
góp phần nhiều nhât vào quá trình hình thành và phát triển năng lực cảm thụ văn học cho
học sinh. Luyện đọc cho học sinh là một hoạt động đặc trưng của phân môn Tập đọc
đồng thời cũng là một khâu rất quan trọng trong việc giúp học sinh cảm thụ kiến thức văn
học. Để tìm hiểu tác phẩm văn học nói chung hay cảm thụ đoạn trích, bài thơ ở tiểu học
nói riêng, yêu cầu đầu tiên phải thể hiện được khả năng đọc. Phải đọc đúng và đọc rõ
ràng từng từ, từng câu, từng đoạn, gọi là thao tác đọc trơn (có đọc thầm và đọc thành
tiếng). Thực hiện xong thao tác này, cần tìm hiểu các từ khó và phần “Chú giải”nhằm
hiểu rõ ý nghĩa của bài văn, bào thơ. Sau đó, tuỳ theo thể loại văn bản mà xác định giọng
đọc, cách nghỉ hơi, ngặt nhịp cho phù hợp. Cho học sinh đọc nhiều lần đonạ văn, đoạn
thơ, yêu cầu học sinh phải đọc đúng, trôi chảy, lưu loát. Đọc hiểu nội dung cơ bản của bài
là phải có tính hệ thống, xứng đáng với ý nghĩâ là con đường tích cực nhất để hình thành
năng lực cảm thụ văn học cũng như phát triển tâm hồn và nhân cách cho học sinh.
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu sâu sắc nội dung các bài Tập đọc là một việc làm có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho các em. Vì cảm
thụ đích thực là loại hoạt động có chiều sâu, bắt nguồn từ trong tình cảm, máu thịt của người cảm thụ. Mọi sự hời hợt, nông cạn sẽ chẳng thể để lại được một kết quả nào đáng
kể trong hoạt động của cảm thụ văn học.
Ở đây, tôi muốn nói rằng, sử dụng những câu hỏi có chất lượng cao để tìm hiểu sâu
sắc nội dung giáo dục, ý nghĩa nhân văn trong những bài Tập đọc là biện pháp tốt nhất để
bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh. Những câu hỏi có chất lượng cao là những câu
hỏi vừa có yêu cầu cao, vừa phù hợp với đối tượng học sinh, có khả năng giúp học sinh
tìm hiểu, phát hiện được những ý nghĩa sâu sắc nhất trong văn bản đọc.
Tất nhiên, không phải học sinh nào cũng có thể trả lời được những câu hỏi này,
nhưng sự thất bại của những học sinh trung bình sẽ là động lực để các em này cố gắng
trong lần trả lời sau.
Ví dụ: Trong bài Tập đọc: “ Tre Việt Nam” (TV lớp 4 - tập 1)
Tìm hiểu bài có câu hỏi phục vụ cho việc giúp học sinh cảm thụ là: Em thích những
hình ảnh nào về cây tre và búp măng non? Vì sao?
Để trả lời hai câu hỏi trên, chúng ta cùng đọc bài viết sau đây:
Đọc xong bài thơ, chúng ta tự hỏi: có mấy hình ảnh xuyên suốt bài thơ? Hình như
có một hình ảnh. Điều này chẳng những đã được dự báo từ đầu đề của bài thơ. Đúng, bài
thơ nói về cây tre mọc khắp làng quê ta. Đó là tre Việt Nam, có thể hiểu là tre của Việt
Nam, tre ở Việt Nam.
Cây tre thân thiết với mỗi người Việt Nam nên mỗi chi tiết về tre, dù mới thoáng
qua vẫn gợi nên tình cảm thân thương, quý mến. Ta xúc động khi nhận ra hình ảnh của
tre: Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Mấy từ “gầy guộc”, “mong manh” trong câu thơ thật giản dị, không trau chuất gì
của tre:
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.
Đặc biệt đến câu thơ sau thì tả tre hay tả người?
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con.
Chi tiết "Lưng trần phơi nắng, phơi sương " đích thực là chi tiết tả con người nông
dân một nắng hai sương nơi đồng quê. Cái chuyện nhường áo cho con đâu phải chỉ riêng
của tre mà còn của người. Nó gợi cho chúng ta chuyện cha con Chử Đồng Tử, gợi tới
đức hi sinh cao đẹp của bao thế hệ đi trước.
Cả bài thơ, như vậy là có hai hình ảnh. Hình ảnh thực, hình ảnh dễ nhận thấy là
hình ảnh cây tre. Hình ảnh ảo, hình ảnh khó nhận thấy là hình ảnh con người Việt Nam.
hai hình ảnh ấy quấn quýt lấy nhau, hòa vào nhau tạo nên cho bề sâu giọng thơ chân
tình, chân thành như tơ lòng vương vấn khắp câu, khắp chữ của bài thơ.
Tạo nên cái kì ảo của bài thơ không chỉ có cách cấu trúc ẩn dụ của hình ảnh xuyên
suốt bài thơ mà còn có màu xanh đặc trưng của tre, một màu xanh trải dài từ câu đầu
tiên đến câu cuối cùng. Tác giả tả "tre xanh" nhưng lại kì ảo hóa qua lời tự hỏi "xanh tự
bao giờ?" để rồi tự trả lời:
Chuyện ngày xưa…đã có bờ tre xanh
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Thành Gióng nhổ cả bụi tre để đánh giặc.
"Chuyện ngày xưa" là câu chuyện Cây tre trăm đốt nhân tình nhân nghĩa. Cái bờ tre
xanh ấy từng tỏa bóng ôm trùm làng quê ta từ thời xa xưa, đến ngày nay vẫn vậy:
Thương nhau, tre chẳng ở riêng
của mỗi cá nhân. Đó là tất cả những hiểu biết và cách ứng xử của mỗi người trong những
mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội.
Yêu cầu của việc bồi dưỡng vốn sống đối với học sinh tiểu học là giúp các em tích
lũy được nhiều tri thức, kinh nghiệm về cuộc sống.
Bằng cách cung cấp nhiều câu chuyện, nhiều bài thơ, bài văn, trong đó chứa đựng
những tri thức phong phú và đa dạng về cuộc sống; bằng cách hướng dẫn, giúp đỡ,
khuyến khích các em khám phá nội dung, nghệ thuật, ghi nhớ những tri thức cần thiết và
liên hệ với thực tế cuộc sống. Học sinh sẽ tự tích lũy được ngày càng đầy đủ những kiến
thức về tự nhiên và xã hội, có ý thức tôn trọng và bảo vệ môi trường, có nề nếp, có đạo
đức trong sinh hoạt hàng ngày, hình thành những thói quen lành mạnh trong ứng xử cuộc
sống… Đó chính là những công việc của bồi dưỡng vốn sống và là những bước đi đầu
tiên trong tích lũy tri thức và kinh nghiệm cuộc sống cho học sinh.
Tập đọc, với nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, có trách nhiệm lớn
nhất trong việc phát triển vốn sống, nhất là vốn kinh nghiệm sống cho học sinh. Vì hơn
bất cứ môn học nào khác, phân môn Tập đọc có khả năng đem đến cho các em nhiều tình
huống đạo đức - nhân văn. Mà ở đó, con người trong quá khứ, con người ở nhiều nơi trên thế giới đã từng ứng xử một cách giàu trí tuệ và giàu lòng nhân ái. Đó là những tri thức
và kinh nghiệm có tác dụng làm giàu thêm vốn sống cũng như phát triển tốt tình cảm,
tâm hồn cho các em.
Hướng dẫn học sinh ghi chép những gì thu nhận được, tích lũy lại những điều bổ
ích làm giàu thêm cho vốn sống. Rèn cho học sinh thói quen ghi "Sổ tay văn học", ghi lại
những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp, câu thơ, đoạn văn em thích hoặc những điều em
cảm nhận được để trau dồi năng lực cảm thụ văn học cho bản thân.
c. Kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng là những kĩ năng thuộc tư duy
logic và tư duy hình tượng. Đặc biệt, các kĩ năng, thao tác này được sử dụng để phát hiện
ra đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra sự khác nhau giữa hình tượng
này với hình tượng khác, từ đó làm nỗi bật vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm và tài năng của
nhà văn.
Để nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh thông qua phân môn Tập đọc,
biện pháp bao trùm hiện nay là khuyến khích học sinh rung cảm nghệ thuật. Vì nếu
không có rung cảm nghệ thuật, không có những rung động, hứng thú theo hướng văn học
thì việc dạy học phân môn Tập đọc sẽ trở nên khô khan và nhàm chán.
Hiện nay, trong dạy học Tập đọc ở tiểu học, nhiều người rất coi trọng rung cảm
thẩm mĩ, nhưng mặt khác lại luôn nhấn mạnh dạy học Tập đọc chứ không phải dạy văn
trong trường năng khiếu.
Theo tôi, một sự phân biệt như vậy là cần thiết, nhưng không nên cực đoan mà sợ
rằng, nhà trường đang biến các em thành văn nghệ sĩ! Tất cả các giờ dạy Tập đọc đều cần
có yếu tố văn học xen lồng. Việc bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học chính là một
nhiệm vụ cần thiết giúp cho các giờ học Tập đọc trở thành những tiết giàu cảm xúc.
Khuyến khích rung cảm nghệ thuật trong các giờ học Tập đọc là biện pháp hữu
hiệu để bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học. Bởi vì, rung cảm nghệ
thuật tác động đến tình cảm của học sinh, giúp học sinh tiếp cận được với độ sâu sắc và
tinh tế của nội dung tác phẩm, đồng thời rung cảm nghệ thuật giúp cho giờ học có nhiều
hứng thú.
Trong thực tế, vì nhiều nguyên nhân, sự say mê, hứng thú của học sinh trong giờ
học Tập đọc, đặc biệt là phần cảm thụ văn học đang có phần bị giảm sút. Cần làm thêm
hứng thú, say mê ở các em nhờ tăng cường các hoạt động cảm thụ văn học cho học sinh.
Những giờ học đầy xúc động này sẽ gây ấn tượng tốt đẹp, tạo động lực thúc đẩy các em
phấn đấu trở thành những công dân tốt, những con người biết sống có ích cho xã hội.
Trong quá trình khuyến khích học sinh rung cảm nghệ thuật trong mọi hoạt động
dạy học của tiết Tập đọc, chúng ta cần làm rõ nội dung của từng hoạt động như sau:
a. Giúp học sinh rung cảm nghệ thuật ở hoạt động giới thiệu bài cho giáo viên:
Chẳng hạn: Khi học Tập đọc bài "Trung thu độc lập" của Thép Mới (TV lớp 4 - tập
1) các em học sinh được cô giáo dẫn dắt vào bài như sau: giáo viên cho cả lớp quan sát
tranh trong SGK (tranh phóng to) và hỏi: các em hãy suy nghĩ và cho cô biết nội dung
bức tranh là gì? (Anh bộ đội đang cầm súng đứng gác)
dựng, làm sinh động chúng nhờ sự giúp đỡ của những tư tưởng, tình cảm, liên tưởng của
bản thân, tức là chuyển đến người nghe tâm trạng, xúc cảm của tác giả hoặc nhân vật đã
được làm giàu có bởi kinh nghiệm riêng. Và dù cho kinh nghiệm đó còn hạn chế và nhỏ
bé đến đâu đi chăng nữa, nó bao giờ cũng đem lại cho sự trình bày của học sinh đặc điểm
tươi mát và sự độc đáo không lặp lại. Trong khi đọc, người đọc sẽ nhận định đưa vào điều gì đó của mình. Khi đọc diễn cảm, xuất hiện sự giao tiếp thực sự giữa người nghe
và người đọc, sự giao tiếp đó sẽ nâng cao khả năng tự sáng tạo của người đọc cũng như
nâng cao hứng thú và sự chú ý của người nghe. Như vậy, đọc diễn cảm không chỉ đòi hỏi
người đọc phải là một bạn đọc tích cực, năng động mà còn là hoạt động nuôi dưỡng và
phát triển cảm thụ sáng tạo của con ngừi. Đó là một “hành động năng sản” những cảm
xúc tươi mát, độc đáo của người đọc trong những cộng cảm thẩm mĩ và thể nghiệm nghệ
thuật. Vấn đề còn lại là giáo viên phải làm thế nào để bồi dưỡng, rèn luyện cho học sinh
năng lực đọc diễn cảm và khơi dậy ở các em cái khát vọng trình bày, cái động cơ thể hiện
việc truyền cảm như một hành vi văn hoá đầy tinh thần sáng tạo.
- Đọc diễn cảm kích thích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, giúp học sinh nhập
thân vào nội dung bài học:
Những con chữ trên trang văn chỉ thực sự lên tiếng, đối thoại, bộc bạch khi nó
được tác động, đánh thức bởi hoạt động tri giác ngôn ngữ của người đọc, Cụ thể là người
đọc bằng hành động đọc của mình biến những "kí hiệu chết" trở thành những "sinh ngữ
nghệ thuật" và quan trọng hơn là thông qua đọc diễn cảm để làm sống dậy, bừng tỉnh cái
thế giới nghệ thuật vốn không thể soi ngắm bằng mắt thường, một bức tranh chân dung
về hình ảnh người mẹ:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng
mẹ
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng
hổi
Vai mẹ gậy nhấp nhô làm gối