SKKN Một vài suy nghĩ về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả - Pdf 26

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vò : Trường THPT Phú Ngọc
Mã số : ……
MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI CÓ HIỆU QUẢ
Người thực hiện : Phạm Quang Đức
Lónh vực nghiên cứu :
Quản lý giáo dục :
Phương pháp dạy học bộ môn :
Phương pháp giáo dục :
Lónh vực khác :…………………
Có đính kèm :
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khácNăm học : 2008 – 2009
Trang - 1 -
SƠ LƯC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I.THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1. Họ và tên : PHẠM QUANG ĐỨC
2. Ngày tháng năm sinh : 26/6/1968
3. Nam, nữ : Nam
4. Đòa chỉ : Trường THPT Phú Ngọc, Đònh Quán, Đồng Nai .
5. Điện thoại : ( CQ ) : 0613853361 ( NR ) : 0613632649
6. Fax : Email :
7. Chức vụ : Tổ trưởng
8. Đơn vò công tác : Trường THPT Phú Ngọc
II.TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vò ( hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ) cao nhất : Cử nhân .
- Năm nhận bằng : 1991
- Chuyên ngành đào tạo : Đại học sư phạm Văn

ngắn ngủi? Làm sao để các em phát huy hết năng lực của mình trên một thời gian làm
bài trong mấy giờ ấn định ? Làm thế nàơ để công lao vất vả của thầy và trò không bị
uổng phí ? Làm sao để mang lại niềm vinh dự cho bản thân của các em và thành tích
của nhà trường ? Mối băn khoăn đó luôn thường trực trong suy nghĩ của tôi trong
những năm qua.
Bằng tất cả mọi nỗ lực của mình trong suy nghĩ, tìm tòi, trao đổi, thảo luận với
các đồng nghiệp trong trường và các đồng nghiệp khác trong ngành giáo dục cùng với
Trang - 3 -
việc cọ xát thực sự trong thực tiễn trải nghiệm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn ở
khối 12 qua một số năm học, tôi mạnh dạn chia sẻ một số ý kiến, suy nghĩ của mình.
Bởi công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là khá quan trọng và rất nặng trong thực tiễn
giảng dạy. Mỗi giáo viên có một phương pháp, cách thức riêng của mình. Bản thân tôi
cũng đã lắng nghe ,suy gẫm và trao đổi với một số thầy cô về công tác này. Nhưng
đây là cái nhìn có những điểm giống và chưa giống với ý kiến của một số đồng
nghiệp khác. Và thực tế đây chính là vấn đề cũng quan trọng nhưng chưa nhiều
những sáng kiến kinh nghiệm đề cập tới. Vì vậy tôi mạnh dạn trình bày ý kiến về
chuyên đề của mình với mong ước và hy vọng là chia sẻ cùng nhau để góp phần trao
đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau. Bằng những trải nghiệm của bản thân qua thực
tiễn giảng dạy, tôi mạnh dạn đề nghị sáng kiến kinh nghiệm: Một vài suy nghĩ về
kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả.
Trang - 4 -
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA
CHUYÊN ĐỀ:
1. Thuận lợi:
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Là tổ trưởng và giáo viên đứng lớp qua nhiều năm kinh nghiệm và nghiên
cứu giảng dạy, tôi dành nhiều thời gian và tâm huyết để nghiên cứu suy gẫm về
chuyên môn, về tính hiệu quả của giờ lên lớp, đặc biệt là giờ dạy bồi dưỡng học sinh
giỏi.
+ Bản thân chịu khó tìm tòi, đọc tham khảo nhiều tài liệu, các tác phẩm văn

đáng phấn khởi và khích lệ.
Trang - 6 -
III. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, lớn lao, khó
khăn nhưng rất đỗi vinh dự. Học sinh giỏi thường là học sinh có tố chất đặc biệt khác
các học sinh khác về kiến thức, khả năng cảm thụ, khả năng tư duy và nhất là khả
năng viết. Như vậy tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải có sự
chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn là tiết dạy bình thường trên lớp ,thậm chí phải có quá
trình tích lũy kinh nghiệm qua thời gian mới có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học
sinh ,làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng. Đó là yêu cầu của ban giám
hiệu ,lãnh đạo nhà trường và cũng là mục tiêu của người bồi dưỡng.Giáo viên tham
gia bồi dưỡng phải có sự học tập và trao dồi rất nhiều cùng với lòng nhiệt huyết,
quyết tâm cao mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc.Bỡi vì đặc thù của học
sinh giỏi là có những điểm rất khác so với một học sinh bình thường từ kiến thức, tư
duy cho đến việc cảm nhận tác phẩm,kĩ năng viết v.v Nghĩa là yêu cầu rất cao và
khó khi thực hiện nhiệm vụ này để làm sao đạt kết quả tốt .Với bề dày thời gian công
tác giảng dạy và qua một số năm bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 tôi nhận thấy có một
vài suy nghĩ về kinh nghiệm là làm sao trong vài tháng ít ỏi mà có thể có được những
thành công nhất định. Từ các đồng nghiệp và qua trao đổi một số trường, tôi cũng
lắng nghe được ý kiến này, ý kiến khác song chưa thấy có chuyên đề cụ thể nào trình
bày về công tác bồi dưõng học sinh giỏi, hoặc có trình bày ở những chuyên đề có sự
liên quan nhưng chưa được phân tích đúng mức. Vậy nên với chuyên đề này tôi mạnh
dạn đưa ra những suy nghĩ của mình với mong muốn góp phần trao đổi kinh nghiệm,
chia xẻ học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ. Đó cũng là nội dung, mục đích hướng tới
của sáng kiến kinh nghiệm .
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của chuyên đề:
Biết rằng kiến thức, phương pháp để tiếp nhận và tìm hiểu văn học vô cùng
phong phú , khó có thể nói hết được. Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn
Trang - 7 -

giỏi thì yêu cầu kiến thức phải thực sự phong phú và sâu rộng thì các em mới chủ
động ,mạnh dạn và phóng túng trong làm bài. Kiến thức mỏng và nghèo nàn thì không
thể tránh khỏi những lúng túng,ngập ngượng trong bài viết. Các sách này có thể là các
tác phẩm văn học của các tác giả lớn mà các em đã được học chính khóa nhưng cần
phải đọc nhiều ,biết rộng hơn rất nhiều so với nộ dung học ở sách giáo khoa. Chẳng
hạn như khi học Nam Cao, một học sinh giỏi văn không chỉ biết tác phẩm Chí Phèo,
Đời Thừa, Lão Hạc mà cần phải đọc rộng và am hiểu thêm nhiều truyện ngắn của
Nam Cao trước cách mạng tháng tám và cả sau cách mạng tháng tám. Ngòai việc nắm
và cảm thụ tác phẩm văn học học sinh còn cần phải đọc các sách nghiên cứu lý luận
phê bình về văn học mới thực sự có điều kiện thâm nhập một cách đầy đủ về tác phẩm
đó. Ví dụ khi học thơ mới với các bài thơ Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên của
Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ dạ của Hàn Mạc Tử giáo viên
không thể không hướng dẫn học sinh đọc thêm các tập thơ của Xuân Diệu trước cách
mạng tháng tám, tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận,các tập thơ của Hàn Mặc Tử và cần
đọc kỹ cuốn Thi nhân Việt Nam của Hòai Thanh – Hòai Chân để học tập, cảm nhận
những lời bình giảng độc đáo, súc tích. Và còn nhiều những tài liệu nghiên cứu phê
bình của các tác giả nổi tiếng khác về văn học rất giá trị mà học sinh cần phải đọc.
Nói tóm lại không đọc hay đọc ít là một hạn chế rất lớn không tránh khỏi đối với một
học sinh giỏi. Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được nhiều mặt tích cực nhất là ở
những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương .
Thao tác đọc tác phẩm văn học và các tài liệu nghiên cứu phê bình văn học là
một họat động cực kỳ quan trọng trong yêu cầu của công tác bồi dưỡng. Giáo viên
đặc biệt phải hết sức quan tâm đối với học sinh và phải có cách đôn đốc nhắc nhở,
kiểm tra học sinh để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá trình làm
bài. Nếu học sinh chưa có ý thức đọc theo hướng dẫn thì giáo viên bồi dưỡng phải
kiên quyết yêu cầu học sinh đọc.Và giáo viên phải có cách kiểm tra để bắt buộc học
Trang - 9 -
sinh đọc và thấy được ích lợi của việc đọc . Vì kiến thức văn học phong phú, vững
vàng là cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh viết một bài văn tốt.
b. Giáo viên bồi dưỡng phải có kế họach, phương pháp yêu cầu học sinh phải

vậy trích dẫn những tư liệu văn học như những câu thơ hay phù hợp với nội dung vấn
đề, những lời nhận định đánh giá hợp lý, đúng chỗ này sẽ góp phần làm cho bài viết
thêm khởi sắc và giàu sức thuyết phục.
Ví dụ như khi dạy chuyên đề về lý luận văn học, cụ thể là về vai trò của văn
học đối với cuộc sống, mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống, vai trò của người
nghệ sĩ trong sáng tác văn chương, giáo viên bồi dưỡng yêu cầu học sinh sưu tầm và
chọn lọc những lời nhận định liên quan đến vấn đề này và tìm được những lời nhận
định có ý nghĩa và giá trị nhất. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số lời
nhận định sau:
- “ Thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”
(Tố Hữu)
- “ Cuộc đời là điểm xuất phát và cũng là đích đến của văn học”
( Tố Hữu)
- “ Cuộc sống là mảnh đất màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi”
( PusKin)
- “ Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”
( Biêlinxki)
Và các tuyên ngôn nghệ thuật có ý nghĩa sâu sắc trong các tác phẩm của Nam
Cao trước cách mạng tháng tám và của các tác giả khác. Ví dụ như:
- “ Nghệ thuật không thể là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối.
Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thóat ra từ những kiếp sống lầm than
vang dội lên mạnh mẽ”
( Trăng sáng - Nam Cao)
Trang - 11 -
- “ Các ông muốn tiểu thuyết cứ thật là tiểu thuyết, tôi và các nhà văn cùng chí
hướng với tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thật ở đời”
( Vũ Trọng Phụng)
- “ Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người.
Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của chặng đời sống con
người ta trên con đường dài dằng dặc đi tìm cõi hòan thiện”

nhân cách lớn.v.v qua một số bài thơ đã học ở sách giáo khoa và một số bài thơ
khác trong tuyển tập được giáo viên chọn lọc giới thiệu để học sinh tiếp cận. Nhưng
những câu thơ có ý nghĩa khái quát, giàu hình ảnh và ý nghĩa tư tưởng mà giáo viên
có thể cung cấp, giảng bình để học sinh cảm nhận sâu sắc thêm về Bác - người tù vĩ
đại qua tập thơ để có thể vận dụng vào bài làm. Chẳng hạn những câu thơ sau:
- “ Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ Bác viết, vần thơ thép
Mà vẫn mêng mông bát ngát tình”
( Hòang Trung Thông)
- “ Lại thương nỗi đọa đày thân Bác
Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi chân yếu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay cánh hạc ung dung”
( Tố Hữu)
Những nốt nhấn của những ý thơ như vậy là rất cần thiết cho phong cách trong
bài làm của học sinh giỏi. Thiếu nó bài viết cũng dễ kém phần tươi mát và cũng dễ trở
nên khô khan hoặc đơn điệu nhàm chán trong cách diễn đạt đều đều, buồn tẻ của học
sinh trong biểu đạt suy nghĩ của mình. Đó chỉ là đơn cử một vài ví dụ, còn lại là kiến
thức mêng mông, rộng lớn mà người giáo viên bồi dưỡng hướng dẫn học sinh phải có
ý thức học tập vận dụng để mang lại một hiệu quả chất lượng, sinh động cho bài viết.
Trang - 13 -
d. Giáo viên lựa chọn một số chuyên đề quan trọng gắn với chương trình thi để
giúp học sinh đi vào nắm bắt kiến thức của các chuyên đề đó có chiều sâu và rộng.
Có giáo viên cho rằng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12 thì rất khó đóan được nội
dung của đề ra vì chương trình rất rộng. Biết đề thi sẽ ra ở phần nào mà bồi dưỡng
cho học sinh. Đó chính là sự thật qua đề ra của một số năm, chẳng hạn như đề ra trong
kỳ thi học sinh giỏi vòng 1 của tỉnh Đồng Nai năm học 2008 – 2009 phần nghị luận
văn học với đề ra :
“ Sự gặp gỡ tuyệt đẹp của tâm hồn và khí phách Việt Nam giữa Văn tế nghĩa sĩ

dùng một số đề ra của những năm trước về Nam Cao để kích thích học sinh làm việc
một cách tòan diện. Ví dụ như đề văn sau:
Viết về Nam Cao, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hòang Khung viết:
“ Một điểm đặc sắc của ngòi bút Nam Cao là từ những sự việc rất tầm thường,
quen thuộc trong đời sống hàng ngày đã đặt ra những vấn đề xã hội có ý nghĩa to
lớn”.
Bằng những hiểu biết về tác phẩm Nam Cao, anh chị hãy làm sáng tỏ ý kiến
trên.
Hay một đề văn khác xóay sâu vào nội dung ý nghĩa của tác phẩm Chí Phèo
của Nam Cao:
“ Bình luận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nhà văn Nam
Cao, có nhà phê bình cho rằng: Chí Phèo vừa là một gã mất trí, vừa là đầu óc sáng sủa
nhất của làng Vũ Đại”.Ý kiến của anh chị như thế nào ? Từ truyện ngắn này của Nam
Cao hãy làm sáng tỏ ý kiến của mình.
Với các đề ra như vậy hướng vào chuyên đề sẽ kích thích học sinh làm việc và
tư duy một cách tòan diện và đặc biệt là động não rất nhiều vào các tác phẩm của
Nam Cao. Đó cũng là cách củng cố, khắc sâu kiến thức về chuyên đề quan trọng mà
giáo viên có ý định hướng cho học sinh học tập.
Trang - 15 -
Hay một chuyên đề khác không thể bỏ qua trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi lớp 12 đó là chuyên đề về thơ mới. Với chuyên đề này giáo viên yêu cầu học sinh
đọc trước các tác giả, tác phẩm thơ mới và đặc biệt chú ý các tác giả lón như Xuân
Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư. Sau đó giáo
viên có thể từng bước đi vào định hướng cho học sinh tìm hiểu các khía cạnh quan
trọng của thơ mới như cái tôi cá nhân, cái buồn vạn thuở, tình yêu đôi lứa say đắm
mãnh liệt, cuống quýt vội vàng, nghệ thuật dùng từ, viết câu, âm điệu trong thơ mới
.v.v Những nội dung đó được giáo viên phân tích khai thác qua một số tác phẩm thơ
đã được học trong nhà trường phổ thông và những tác phẩm học sinh chưa được học.
Cũng tương tự như chuyên đề về Nam Cao giáo viên có thể chọn lọc một số đề về
Xuân Diệu – tác giả lớn nhất trong thơ mới và các tác giả khác để học sinh tìm hiểu

nghị học sinh phải đọc qua tập Nhật ký trong tù với một trăm mấy chục bài thơ và xác
định nội dung chính, trọng tâm trong tác phẩm. Với sự hiểu, tìm tòi và phát hiện của
học sinh, giáo viên có thể chốt lại những nội dung trọng tâm và yêu cầu học sinh lưu ý
như sau:
Nhật ký trong tù thể hiện một tâm hồn, tình cảm lớn, một trí tuệ lớn, một nhân
cách lớn, một phương pháp sáng tác mới .v.v Cụ thể hóa những nội dung này giáo
viên có thể cho học sinh chọn một số những bài thơ tiêu biểu, cảm nhận và phân tích.
Giáo viên trên cơ sở đó phân tích bổ sung để học sinh hiểu và hướng vào những nội
dung trọng tâm mà giáo viên đã định hướng.
Ví dụ như các bài thơ: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù tập leo núi là những
bài thơ được học ở sách giáo khoa chứa đựng một nội dung sâu sắc, giàu ý nghĩa làm
nội bật được chân dung của một người tù vĩ đại. Giáo viên cần giảng bình kỹ và sâu
cùng chọn lọc với một số bài thơ khác như Vãn Cảnh, Ngắm Trăng, Lai Tân, Không
ngủ được để minh họa thêm cho học sinh và yêu cầu học sinh học thuộc và hiểu một
số bài thơ quan trọng khác trong tập thơ. Ngòai ra giáo viên còn gợi mở cho học sinh
Trang - 17 -
một số đề làm văn xoay quanh tác phẩm Nhật ký trong tù để học sinh rèn luyện và
khắc sâu kiến thức.
Còn rất nhiều những chuyên đề khác mà không thể nói hết ở đây. Chẳng hạn
như chuyên đề về lý luận văn học cũng có thể chia thành nhiều chuyên đề nhỏ mà
giáo viên cần có phương pháp phù hợp giúp các em học tập. Chỉ đơn cử một vài ví dụ
như vậy. Các chuyên đề khác cách thức tiến hành có thể có nhiều điểm là tương tự
như các chuyên đề trên.
e. Chọn lọc một số đề thi qua các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh, có thể đề thi tòan
quốc qua một số năm để hướng dẫn học sinh cách tiếp cận đề, hiểu đề nắm yêu cầu
đề ra, định hướng lập ý và tìm ý cho một bài văn nghị luận.
Có kiến thức văn học và kỹ năng viết là cần thiết trong một bài văn nghị luận,
nhưng điều đó chưa đủ những yếu tố để đảm bảo thành công trong một bài viết. Điều
quan trọng trong một bài văn nghị luận là học sinh phải xác định được yêu cầu của đề
ra, định hướng, tìm ý và lập được dàn ý. Có những học sinh tuy có kiến thức văn học

- Giải thích tại sao ?
+ Văn học do con người sinh ra, vì con người phục vụ. Con người luôn sống
trong hiện thực cuộc sống sinh động, phong phú với đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống.
+ Văn học phải có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống. Muốn phản ánh được cuộc
sống thì nhà văn không thể thóat ly mà phải đi vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi,
sáng tạo. Phản ánh chân thực cuộc sống thì nhà văn mới sáng tạo được những tác
phẩm là tấm gương phản chiếu cuộc đời.( Thơ trước hết là đời sau đó mới là nghệ
thuật)
- Bình luận:
+ Khẳng định cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi đến của văn học. Đó
là một chân lý có tính chất phổ quát trong lịch sử văn học từ xưa đến nay.
Trang - 19 -
+ Phê phán khuynh hướng văn học thóat ly hiện thực, xa rời hiện thực, nghệ
thuật vị nghệ thuật, thứ văn chương làm xiết ngôn từ, chỉ chú trọng về câu chữ không
phục vụ nhân sinh, dẫn con người vào bế tắc.
- Chứng minh:
+ Nguyễn Trãi nếu không có những năm tháng sống ở “ Góc thành nam lều một
gian” và 10 năm cùng Lê Lợi nếm mật nằm gai ở rừng núi Lam Sơn trong những
ngày gian khổ chống quân Minh thì không thể có án thiên cổ hùng văn Bình ngô đại
cáo.
+ Nguyễn Du nếu không có 15 năm gió bụi cùng với những câu ca dao nuôi
dưỡng tâm hồn từ thuở thiếu thời thì không thể có một truyện Kiều tuyệt tác.
+ Các nhà văn, nhà thơ hiện đại Việt Nam đều chủ trương: sống đã rồi hãy viết
hoặc sống và viết ( Nam Cao, Nguyễn Tuân, Hồ Chí Minh). Nhà văn phải sống với
nhân dân, lấy cảm hứng cho đời từ nhân dân. Điều đó đã chứng minh qua thực tế văn
học là các nhà văn hiện đại Việt Nam đã một thời cùng nhân dân đi vào thực tiễn cuộc
đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước.
Lập một dàn ý như thế là tập cho học sinh có ý thức khi tiếp cận và phân tích
một đề ra. Từ việc hiểu nội dung ý nghĩa yêu cầu của đề, đến các thao tác lập luận cần
sử dụng cho từng đề văn, các ý cần phải có trong từng trường hợp đề bài cụ thể. Từ đó

- Mỗi tác phẩm văn học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của một chặng đời
sống con người ta, trên con đường dài dằng dặc đi đến cõi hòan thiện nghĩa là như thế
nào ?
+ Hầu hết những nhà văn trên thế giới đều khai thác một mảng nhỏ của đời
sống.( Nam Cao với cái đói, cái rét và sự bần cùng hóa, lưu manh hóa của người nông
dân)
+ Có những nhà văn cá biệt -> ngòi bút của họ có thể phản ảnh cuộc sống với
tầm vóc sâu rộng của nó trên trang viết ( Ban zăc với bộ tấn trò đời, Lỗ Tấn với AQ
Trang - 21 -
chính truyện, VichtohuyGo với Những người khốn khổ). Còn lại đa số là các tác
phẩm là những lát cắt từ hai vòng tròn đồng tâm khổng lồ là văn học và đời sống.
+ Tất cả những “lát cắt” của văn học ấy cuối cùng đều dẫn đến người ta đến cõi
hòan thiện -> như vậy tác phẩm văn học mới thật sự là chân chính , nó sẽ tồn tại qua
thời gian ( chức năng giáo dục của văn học). Con người sẽ soi lại mình qua tác phẩm
văn học, nhận ra lẽ đúng sai, thật giả và sẽ sống tốt hơn. Văn học sẽ đưa con người
đến chân, thiện, mỹ.
+ Dùng một số tác phẩm văn học để chứng minh “ Văn học chân chính có khả
năng nhân đạo hóa con người” chẳng hạn như Truyện Kiều, các truyện ngắn của Nam
Cao, truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân, Vợ chồng A Phủ của Tô Hòai ,văn học nước
ngoài .v.v Phân tích ý nghĩa nhân đạo của các tác phẩm trên có thể tác động vào tình
cảm, đạo đức của con người là hành trình đi tìm cõi hòan thiện của con người .
Trong những năm gần đây đề thi học sinh giỏi tỉnh có thêm một câu nghị luận
xã hội. Vì vậy giáo viên bồi dưỡng cũng cần phải chọn lọc những đề nghị luận xã hội
hay và có ý nghĩa sâu sắc để giúp học sinh học tập. Ví dụ như đề sau:
Thông qua đọan trích trong tác phẩm “ Mẹ yêu con” trong tập (Trái tim người
mẹ - NXB trẻ). Anh ( chị ) suy nghĩ gì về tình mẫu tử trên cõi đời này:
“ Mẹ yêu con nên mẹ nói không trước những đòi hỏi vô lý của con, dù mẹ biết
con sẽ ghét mẹ về điều này. Đó là cuộc đấu tranh gian khổ nhất trong chặng đường
làm mẹ của mẹ. Nhưng mẹ hạnh phúc khi thấy con thành đạt trong cuộc sống”
Hay một đề khác về nghị luận xã hội:

gọn chưa? Văn viết có trong sáng hình ảnh và cảm xúc chưa ? đến cách trình bày, chữ
viết có đúng và đạt yêu cầu thẩm mỹ không ? đến lỗi chính tả cũng phải rất hạn chế
trong bài làm. Thói quen viết tắt và viết chưa đúng qui tắc của tiếng việt là điều rất
nhỏ mà giáo viên đọc bài cũng phải hết sức lưu tâm và nhắc nhở học sinh. Giáo viên
phải nhận xét cụ thể từ ưu điểm đến khuyết điểm của mỗi bài làm của các em để các
Trang - 23 -
em phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm hạn chế trong tòan bộ bài
viết của mình.
Theo tôi điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi kết quả cuối cùng trong kỳ
bồi dưỡng chỉ gói gọn trong một bài thi 180 phút. Tất cả là thể hiện ở đó và kết quả
cũng ở đó. Vì vậy việc cho học sinh làm bài như vậy có ý nghĩa quan trọng rất lớn.
Tuy nhiên thời gian lên lớp giữa thầy và trò không nhiều, nên giáo viên không thể cho
học sinh làm được nhiều bài trên lớp khi bồi dưỡng vì rất mất thời gian. Để khắc phục
điều này giáo viên có thể tranh thủ sau vài buổi học có thể cho các em một đề văn và
yêu cầu các em về nhà viết và đề nghị các em tự giác độc lập làm bài và tự giới hạn
bài viết của mình trong một thời gian cho phép nhất định. Điều đó sẽ rèn luyện cho
các em rất nhiều về tư duy viết, tốc độ viết. Vì tốc độ viết rất quan trọng, nếu viết hay,
viết chắc và viết còn chậm cũng sẽ không đáp ứng tốt được yêu cầu của một bài thi
học sinh giỏi với một nội dung yêu cầu rất lớn trong khuôn khổ thời gian nhất định.
Cho nên việc rèn luyện cho các em viết bài làm văn ở trường và cả ở nhà trong công
việc bồi dưỡng học sinh giỏi là có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp cho các em
thấy được điểm mạnh, mặt yếu của mình ở nhiều phương diện mà khắc phục và phát
huy. Và như thế là đã giúp các em rèn luyện được rất nhiều trong quá trình học tập
bồi dưỡng.
IV. KẾT QUẢ:
Sau khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm thì học sinh tích cực, chủ động học
tập, sôi nổi hăng hái gia nhập vào đội tuyển có nhiều hứng thú trong học tập, tin
tưởng lạc quan vào kết quả khi làm bài. Kết quả cụ thể như sau:
Năm học 2002 – 2003: 4 giải trong đó có 1 giải ba.
Từ 2004 -> 2006: mỗi năm cũng có từ 4 giải trở lên và cũng đạt những giải ba.

Hy vọng rằng những nội dung trong chuyên đề này sẽ là những thông tin để được các
đồng nghiệp trao đổi, thảo luận để mong rút tỉa được những kinh nghiệm thực sự quý
Trang - 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status