A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử là một môn khoa học xã hội, lịch sử là những sự kiện, hiện tượng
đã xảy ra trong quá khứ xã hội của loài người, nó tồn tại độc lập, khách quan với
ý muốn của con người. Chính vì vậy mà trong lý luận cũng như trong thực tiễn,
bộ môn lịch sử giữ vai trò quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Học lịch
sử không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về quá khứ mà còn để hiểu
hiện tại và tiên đoán trong tương lai. Vì vậy từ những hiểu biết về lịch sử con
người có thể vững vàng bước vào tương lai.
Thế nhưng một thực tế đáng buồn là hiện nay thế hệ trẻ lại khá thờ ơ đối
với môn lịch sử vì rất nhiều lí do như: Lịch sử chỉ là những sự kiện, con số khô
khan, rất khó hình dung và ở đâu đó trong xã hội vẫn coi sử là môn phụ. Chính
vì vậy mà thế hệ trẻ, nhất là học sinh phổ thông ít chịu học sử, hiểu biết ít về
lịch sử dân tộc. Điều này cũng thể hiện rõ trong các kì thi khảo sát, kiểm tra định
kì, thi tốt nghiệp Đặc biệt là trong kì thi học sinh giỏi chất lượng học tập của
học sinh còn thấp. Nguyên nhân của hiện trạng này có nhiều, ngoài yếu tố vừa
nêu trên còn có lí do không nhỏ xuất phát từ phía những ngưòi trực tiếp làm
công tác giảng dạy, ôn luyện và bồi dưỡng học sinh giỏi.
Là một giáo viên sử đứng lớp giảng dạy hơn 10 năm và đã từng tham gia bồi
dưỡng học sinh giỏi trong 5 năm. Tôi nhận thấy thực trạng công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi những năm qua còn nhiều bất cập, nên chất lượng giải chưa cao.
Làm thế nào để đạt kết quả cao trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, đó cũng
là điều băn khoăn trăn trở không chỉ riêng tôi mà đây cũng là nổi niềm chung của
tất cả giáo viên khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi. Nên việc chọn và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử là việc làm thiết thực v quanà trọng. Đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay đất nước đang đứng trước xu thế hội nhập, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, rất cần những người có tri thức, những người tài giỏi
để xây dựng nước nhà. Bằng sự nổ lực của bản thân, qua trao đổi, học hỏi đồng
nghiệp, bạn bè cùng chuyên môn. Cùng với thực tiễn trải nghiệm trong công tác
giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12. Tôi chọn Sáng kiến kinh nghiệm
1
cây xanh. Khi mới thành lập cơ sở vật chất và trường lớp còn hết sức khó khăn,
phòng học và thiết bị dạy học còn thiếu thốn rất nhiều. Đội ngũ giáo viên chưa
đầy đủ và đồng đều ở các bộ môn ( Môn vật lý, môn toán phải thuê giáo viên cấp
3 dạy). Nhưng từ năm học 2008 - 2009 đến nay, trường đã được tỉnh và huyện
quan tâm, đầu tư xây dựng nhiều dãy nhà học, nhà nghề cao tầng rất khang trang,
đội ngũ giáo viên cũng được chuẩn hóa và đầy đủ ở các bộ môn.
Tuy nhiên vấn đề còn tồn tại nhiều năm ở Trung tâm đó là chất lượng học
tập của các em còn thấp. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy, đặc biệt
là đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, đây là một vấn đề không mới đối với
học sinh ở các trường THPT vì các em đã được cọ sát nhiều qua thực tế ôn
luyện. Nhưng vấn đề này lại mới mẽ đối với học sinh ở Trung tâm GDTX& DN
Lang Chánh khi lần đầu các em tiếp cận. Vậy thực trạng của vấn đề này xuất
phát từ 2 phía giáo viên và học sinh.
a. Thực trạng đối với giáo viên
Trung tâm GDTX &DN Lang chánh trong những năm gần đây về cơ sở
vật chất, trang thiết bị đã được nâng cấp rất nhiều. Mặc dù được sự quan tâm, chỉ
đạo sát sao và tạo điều kiện tốt nhất của Ban giám đốc trung tâm, nhưng công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi ở các bộ môn nói chung và môn lịch sử nói riêng trong
những năm đầu còn hạn chế. Bởi vấn đề thực tế còn tồn đọng là giáo viên chỉ
chú trọng đến cách dạy học truyền thống thầy đọc trò chép mà ít chú ý đến việc
sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, nên các em
mới dừng lại ở việc nắm bắt được kiến thức cơ bản, chưa kích thích được sự say
mê nghiên cứu tìm tòi và khả năng tư duy hay chuyên sâu một vấn đề nào đó ở
các em. Chính điều này đã làm cho giờ học ôn lịch sử trở nên nặng nề áp đặt đối
với cả thầy và trò.
b. Thực trạng đối với học sinh
Học sinh ở Trung tâm GDTX& DN phần lớn các em là con em đồng bào
dân tộc thiểu số, người dân tộc Thái, Mường là chủ yếu, nên khả năng tiếp thu
bài cũng như sự tìm tòi, tư duy sáng tạo còn chậm chạp. Điều kiện kinh tế gia
đình còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu các em thuộc gia đình hộ nghèo theo
dưỡng đội tuyển phải xác định được yếu tố quan trọng đầu tiên trong quá trình
ôn luyện là phải lập được khung chương trình ôn thi dựa trên khung chương trình
4
chung của Sở GD&ĐT Thanh Hóa, dựa vào cấu trúc đề thi học sinh giỏi THPT
năm học 2012 - 2013 và các đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa những năm
trước đây.
Trong chương trình lịch sử 12 được chia làm hai phần: Lịch sử Việt
Nam( 1919 - 2000) và lịch sử Thế giới hiện đại (1945 - 2000)
VD: Đối với phần lịch sử Việt Nam (1919 - 2000) Giáo viên phải cho học sinh
nắm được kiến thức lịch sử Việt Nam phát triển qua các thời kì chủ yếu với nội
dung chính sau:
* Từ 1919 đến 1930:
+ Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp làm cho
kinh tế, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến mới.
+ Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và vai trò của Người đối với việc
chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng của giai cấp
vô sản ở Việt Nam.
+ Phong trào cách mạng trong những năm trước khi Đảng cộng sản Việt
Nam ra đời.
+ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ( 3/ 2/1930)
* Từ 1930 đến 1945
+ Đây là thời kì cách mạng Việt Nam có sự lãnh đạo của Đảng, và sau 30
năm hoạt động ở nước ngoài ngày 28/1/1941 NAQ trực tiếp về nước lãnh đạo
cách mạng và chủ trì Hội nghị Trung ương đảng lần thứ VIII ( 5/1941) làm nên
thắng lợi của cách mạng tháng tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa.
+ Thắng lợi của cách mạng tháng tám là kết quả của 3 cuộc tổng diễn tập:
phong trào cách mạng (1930 -1931) đỉnh cao Xô Viết Nghệ Tĩnh, cao trào dân
chủ (1936 - 1939) và cuộc vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa tháng
tám năm 1945.
+ Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng từ 1986 đến nay đã làm thay
đổi sâu sắc bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập dân
tộc và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế.
6
Tương tự những phần còn lại của lịch sử thế giới chúng ta cũng hệ thống
hóa kiến thức như vậy sẽ tạo điều kiện cho các em nắm được cái sườn của khung
chương trình ôn thi
b) Xây dựng đề cương ôn thi .
Xây dựng được đề cương ôn thi là khâu rất quan trọng trong quá trình bồi
dưỡng học sinh giỏi. Đây là công việc rất khó khăn đối với mỗi giáo viên khi
tham gia ôn luyện. Cùng một lượng kiến thức nhưng giáo viên phải xác định
được kiến thức nào là trọng tâm nhất để học sinh dể hiểu, dể nhớ và phát triển
được kĩ năng tư duy, so sánh và nhận định vấn đề.
Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm tôi không thể lập đề cương
ôn thi đầy đủ cho tất cả các tiết trong chương trình lịch sử 12 mà chỉ nêu đơn cử
một vài ví dụ.
VD: Chẳng hạn đối với phần lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới giáo
viên có thể cho học sinh xây dựng đề cương theo từng chủ đề, giúp học sinh
nắm vững nội dung kiến thức cơ bản và bao quát được nhiều vấn đề về kiến
thức nâng cao.
Chủ đề Kiến thức cơ bản Kiến thức nâng cao
Liên Xô từ
1945 - 1991
Giúp HS nắm được kiến thức
cơ bản sau:
- Hoàn cảnh và thành tựu đạt
được của LX trong công
cuộc xây dựng CNXH từ
1945 đến 1970
- Từ 1970 Liên Xô lâm vào
thức quan trọng trong bài là
về vấn đề phát triển kinh tế
“thần kì” ở Nhật Bản từ 1952
đến 1973
- Nguyên nhân của sự phát
triển đó
- Rút ra được nguyên nhân
quan trọng nhất trong phát
triển kinh tế ở Nhật
- Bài học thành công của
Nhật trong phát triển kinh tế,
Việt Nam học tập được gì.
Trung Quốc - Sự ra đời của nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa và
ý nghĩa.
- Công cuộc cải cách mở cửa
của TQ ( T12/1978) do Đặng
Tiểu Bình khởi xướng
Từ công cuộc cải cách ở
Trung Quốc, liên hệ thực tế
với Việt Nam.
Cuộc cách
mạng khoa học
công nghệ ở
nửa sau thế kỉ
XX
- Nguồn gốc, đặc điểm, thành
tựu của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ.
- Tác động tích cực, tiêu cực
+Công nhân
+ Nông dân
+ Tư sản
+ Tiểu tư sản
đích, nội dung, tác động
- Làm rõ thái độ chính trị và
khả năng cách mạng của các
giai cấp
Vai trò của
Nguyễn Ái
Quốc đối với
sự ra đời của
Đảng cộng sản
Việt Nam
( 3/2/1930)
- Nêu khái quát quá trình tìm
đường cứu nước từ 1911 đến
1917
- Hoạt động chính của
Nguyễn Ái Quốc từ 1919 đến
đầu 1930:
+ Thời kì ở Pháp ( 1920 -
1923)
+ Thời kì ở Liên Xô (1923 -
1924)
+ Thời kì ở Trung Quốc
( 1924 - 1927)
+ Thời kì ở Xiêm ( Thái Lan)
(1928 - 1929)
- Sáng lập ra Đảng cộng sản
thấy được tính đúng đắn,
sáng tạo của Cương lĩnh.
- Rút ra vai trò của Nguyễn
Ái Quốc trong Hội nghị
thành lập Đảng
- Làm rõ vì sao Đảng ra đời
là một bước ngoặt lịch sử vĩ
đại của cách mạng Việt Nam.
2. Lên kế hoạch ôn thi
Ngay từ khi được phân công làm công tác bồi duỡng học sinh giỏi, thời
gian không phải là nhiều khoảng 3 tháng ngắn ngủi. Làm sao để các em có thể
phát huy hết năng lực của mình để đạt kết quả tốt nhất ? Đây cũng là nổi trăn trở
trong tôi và tôi đã đúc rút được kinh nghiệm đầu tiên cho mình đó là cần phải lập
ra kế hoạch cụ thể trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Trước tiên giáo viên cần cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh nắm
được, bởi kiến thức cơ bản là cái gốc cần thiết tối thiểu cho học sinh trước khi
muốn học và nghiên cứu những kiến thức có bề rộng và chiều sâu. Ngoài ra giáo
viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự học, tự nghiên cứu vấn đề. Vì thời
lượng bồi dưỡng rất hạn chế, nên giáo viên bồi dưõng không thể làm thay học
sinh được tất cả mọi việc, nên phần ôn tập kiến thức cơ bản yêu cầu học sinh tự
ôn tập, làm việc ở nhà đòi hỏi giáo viên phải kiểm tra một cách chặt chẽ, thường
xuyên xem ý thức học tập của các em đã tốt chưa ? đã thực hiện và nắm rõ các
yêu cầu về kiến thức mà giáo viên truyền tải chưa ? Nếu học sinh chưa thực hiện
đầy đủ, còn có những lỗ hổng kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc, nhắc nhở và
có biện pháp để học sinh tự làm việc, tự nghiên cứu vấn đề. Tôi thiết nghĩ nếu
giáo viên thực hiện được các yêu cầu trên sẽ kích thích được khả năng tư duy,
làm việc độc lập của học sinh, giúp các em có thể tự đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề trong quá trình ôn luyện. Theo tôi đây là một kinh nghiệm hết sức bổ ích, một
10
định hướng ban đầu để các em xác định được động cơ và mục đích học tập của
11
+ Phong trào 1930 -1931 nổ ra trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
đã tác động nặng nề đến nền kinh tế Đông Dương.
+ Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 diễn ra khi chủ nghĩa phát xít ra
đời, lên cầm quyền ở Đức, Ý, Nhật.
+ Cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945 diễn ra trong điều kiện chiến
tranh thế giới thứ hai.
- Thứ hai: Tìm hiểu về chủ trương, đường lối của Đảng trong mỗi phong
trào cách mạng. Yêu cầu học sinh phải nêu được những ý sau:
+ Trong phong trào 1930 - 1931, Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập
đã đảm nhận việc tổ chức và lãnh đạo những cuộc đấu tranh của công nhân, nông
dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
+ Trong cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939, Đảng nhận định kẻ thù cụ
thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương không phải là thực dân Pháp nói chung
mà là bọn phản động và tay sai và thành lập Măt trận nhân dân phản đế Đông
Dương (T3/1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương).
+ Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Hội nghị Trung
ương Đảng lầ thứ 8 chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược cách mạng,
giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất,
chuẩn bị lực lượng tiến tới cách mạng thắng lợi.
- Thứ 3: Nêu lên kết quả đấu tranh:
+ Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào đấu tranh của
công nhân, nông dân nổ ra ở nhiều địa phương trong nước, phong trào phát triển
cao nhất ở Nghệ Tĩnh với việc thành lập chính quyền Xô Viết.
+ Trong cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939, đấu tranh đòi tự do dân
chủ( có thể nêu 1 vài sự kiện để chứng minh điều đó).
+ Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Mặt trận Việt
Minh và Hội cứu quốc được thành lập, phát triển tạo nên lực lượng chính trị của
quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, và phát động cao trào kháng Nhật tiến
tới Tổng khởi nghĩa T8/1945.
Vai trò lãnh đạo
cách mạng
Giai cấp công nhân thông
qua đội tiên phong là Đảng
CSVN
Đảng Cộng sản Đông
Dương
Vị trí cách mạng Là 1 bộ phận của cách
mạng thế giới
Quan hệ mật thiết với
cách mạng thế giới
Lực lượng cách
mạng
Công nhân, nông dân là
động lực, là gốc của cách
mạng. Cần liên minh với trí
thức, tiểu tư sản, trung tiểu
địa chủ
Công - nông
Hoặc khi giải quyết dạng đề thi đánh giá sự kiện lịch sử. Bên cạnh việc
giảng cho học sinh hiểu vấn đề, giáo viên cần đưa ra ví dụ cụ thể để học sinh
được thực hành và nắm vững kiến thức hơn. Vì vậy khi gặp dạng đề này ở bất cứ
13
phần nào của lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới học sinh cũng biết vận dụng và
giải quyết dễ dàng.
VD: Trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954- 1975. Khi học song phong
trào Đồng Khởi (1959 - 1960), giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như: Vì sao nói
phong trào Đồng Khởi ( 1959 -1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển
nhảy vọt của cách mạng miền Nam?
VD: Trong giai đoạn từ 1945 - 1954, khi học về chiến dịch Điện Biên Phủ,
- Biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá:
+ Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế ;
+ Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia
+ Sự sát nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn
+ Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính
+ Toàn cầu hoá vừa là thời cơ, vừa là thách thức vì:
- Thời cơ:
+ Chiến tranh bị đẩy lùi, tạo điều kiện ổn định và hợp tác phát triển giữa
các nước
+ Các nước đều điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng tâm
+ Các nước đang phát triển có thể khai thác nguồn vốn đầu tư, kĩ thuật và
kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, có thể “ đi tắt đón đầu”, rút ngắn thời gian
xây dựng và phát triển đất nước.
-> Bối cảnh chung là thuận lợi, vấn đề là các nước phải có tầm nhìn và
không bỏ lỡ thời cơ.
- Thách thức
+ Các nước đang phát triển đều từ xuất phát điểm thấp về kinh tế, trình độ
dân trí thấp, hạn chế về nguồn nhân lực.
+ Sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường thế giới và các quan hệ quốc tế còn
nhiều bất bình đẳng
+ Vấn đề sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay nợ
+ Vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, nguy cơ ô nhiểm môi trường
* Phần kết luận: Giáo viên khái quát lại vấn đề đặt ra về toàn cầu hoá và
liên hệ với Việt Nam:
Như vậy toàn cầu hóa là thời cơ lịch sử, là cơ hội rất lớn cho các nước đang
phát triển, đồng thời cũng tạo ra thách thức lớn. Việt Nam cũng nằm trong xu thế
15
chung đó “ Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển trong thời kì mới, đó
là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta”.
Hoặc giáo viên cho học sinh tiếp cận một số đề thi như:
dưỡng học sinh giỏi. Nó giúp cho các em thấy được điểm mạnh, mặt yếu của
mình từ đó mà khắc phục và phát huy.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Trong thời gian qua tôi đã thực hiện sáng kiến kinh nghiệm đối với đối
tượng học sinh trong lớp bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trung tâm GDTX &DN
Lang Chánh. Tôi nhận thấy học sinh từ chỗ chán học sử, sợ sử, bắt đầu có hứng
thú, hăng hái, tích cực học tập và yêu thích môn sử hơn. Nếu trước năm học
2003-2004, trong các kì thi HSG lớp 12 bậc BT THPT nhà trường thường trắng
băng môn Lịch sử, thì từ năm 2004 -2005 đến nay số lượng HSG các bộ môn
nói chung môn Lịch sử nói riêng đã không ngừng tăng. Bảng kết quả dưới đây là
minh chứng:
Năm học
Số lượng học sinh
tham gia
Số giải Tỉ lệ
2004 – 2005 02 02 giải KK 100%
2009 - 2010 02 01 giải ba 50%
2010-2011 03 1 giải ba 1 giải KK 67%
2011 - 2012 02 1 giải nhất, 1 giải ba 100%
2012- 2013 03 1 giải ba, 2 giải KK 100%
Năm học 2005 – 2006 ; 2006 – 2007 ; 2007 – 2008 ; 2008 – 2009 đi học
Cao học và nghỉ sinh.
Tuy kết quả trên so với những trường miền xuôi, đồng bằng thì còn rất
khiêm tốn, nhưng đối với các trường miền núi thì đây là kết quả hết sức to lớn
đối với cô trò chúng tôi nói riêng và nhà trường nói chung.
2. Ứng dụng của Sáng kiến kinh nghiệm.
Ngoài ứng dụng cho ôn thi HSG ở các Trung tâm GDTX & DN, SKKN
này còn lưu tâm tới HS đại trà để góp phần nâng cao chất lượng bộ môn .
SKKN này còn ứng dụng một phần cho ôn thi tốt nghiệp và ôn thi vào các
những nội dung trong SKKN này sẽ là những thông tin để được các đồng nghiệp
trao đổi, thảo luận để mong đúc rút ra được những kinh nghiệm thực sự quý báu
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Do hạn chế về năng lực, thời gian, kiến
18
thức cũng như kinh nghiệm va vấp thực tế chưa nhiều, SKKK này không tránh
khỏi những thiếu sót và hạn chế. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến chân thành của Ban Giám đốc Trung tâm, của đồng nghiệp cùng công tác
với tôi để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn.
II. ĐỀ XUẤT
Công tác ôn luyện học sinh giỏi là một công việc khó khăn và vất vả
đối với mỗi giáo viên khi tham gia ôn luyện, kết quả đạt được của học sinh phụ
thuộc vào nhiều yếu tố cả về phía giáo viên và học sinh. Chính vì vậy để công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả cao, tôi xin có một vài đề xuất như sau:
- Mong rằng, trong thời gian tới Ban giám đốc cần quan tâm sâu sát
nhiều hơn nữa đến công tác bồi dưỡng, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên phát
hiện những học sinh năng khiếu để giáo viên có định hướng cụ thể và đề ra kế
hoạch dài hơi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Ban giám đốc Trung tâm cần quan tâm nhiều hơn đến việc mua sắm
thêm các tư liệu, tài liệu, sách tham khảo, sách nâng cao ở tất cả các bộ môn để
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở Trung tâm đạt kết quả cao.
- Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn cần phổ biến các sáng kiến kinh
nghiệm hay về công tác giảng dạy và ôn thi để giáo viên giữa các tổ cùng trao
đổi, bàn bạc, học hỏi lẫn nhau góp phần đưa chất lượng giảng dạy của giáo viên
tốt hơn và học tập của học sinh tiến bộ hơn.
19
XẪC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
……………………………………………….
……………………………………………….
……………………………………………….
………………………………………………