skkn kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh yếu kém giải toán đố trong chương trình toán lớp 3 - Pdf 24

Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh yếu kém giải toán đố
trong chương trình Toán lớp 3.
I. Lý do chọn đề tài
Vì dậy học nhiều năm lớp 3 nên tôi nhận thấy : Trên thực tế của từng lớp,
từng trường nói riêng, các trường nói chung đều có một số em giỏi toán và một
số em kém toán. Những em giỏi thì say mê học tập. Những em yếu kém thì lười
học, sợ học và chán học.
Do yêu cầu phổ cập giáo dục cấp Tiểu học. Để đảm bảo chất lượng học
tập của các em trong một lớp, một khối phải đồng đều như nhau. Các trường
cũng phải bằng nhau.
Nên tôi đã chọn đề tài : "Bồi dưỡng học sinh yếu kém giải toán chương
lớp 3" để giúp các em yếu kém học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có giải toán
đúng ở chương trình này.
II. Cơ sở khoa học và thực tiễn
Chương trình tiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu
kiến thức môn toán nói chung và phương pháp giải toán nói riêng.
Chương trình toán lớp 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1, 2 và lớp 3, 4.
Học sinh được củng cố mở rộng phép cộng trừ và làm phép nhân chia. Đồng thời
rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh : 4 phép tính + - x : trong phạm vi
1000; và các dạng giải toán điển hình. Vì vậy đối với việc giải toán trong từng
tiết học để học sinh yếu kém giải toán đúng quả là khó khăn cả về trả lời lẫn tính
toán.
Nhưng trên thực tế đối với học sinh yếu kém giải toán, các em rất ngại làm
bài, sợ giải toán vì khả năng tư duy "phân tích, tổng hợp của các em có nhiều hạn
chế".
1
Với thực tế học sinh lớp tôi, trường tôi còn có một số em giải toán có lời
văn thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ
năng phán đoán, suy luận, không biết làm thế nào ? Các em rất sợ học. Mà môn
toán là môn "Thể thao trí tuệ" vừa giúp các em giải trí tinh thần, vừa giúp việc
dạy tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm, trong đó "cách giải

làm được các bài toán ở lớp trên.
Ví dụ:
- Bắc gấp được 4 cái thuyền, Nam gấp được nhiều hơn Bắc 2 cái. Hỏi
Nam gấp được mấy cái thuyền ?
- Hà làm được 4 bài toán, Lan làm được 6 bài toán. Hỏi ai làm được nhiều
hơn và nhiều hơn bao nhiêu bài toán ?
Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng
hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.
b) ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm 5
mẫu giải toán dạng : a + b + c ; a + b - c ; a + (a - b) ; a + (a + b)
Đây là dạng toán tổng hợp giải bằng 2 phép tính. Tôi cho các em yếu toán,
trung bình ôn luyện các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em
hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán. Từ
đó hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải
được các dạng toán nhanh, chính xác. Bước đầu có kỹ năng trình bày bài toán.
c) Hình thức rèn luyện : Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm
ra cách giải với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần
ham thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình.
Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng
hay sai, giáo viên cũng phải có lời động viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai,
3
hoặc chưa đúng, giáo viên động viên "gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm nữa,
thì sẽ đúng hơn " giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên
nói "sai rồi, không đúng " làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti,
chán học.
Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi
nhau làm để khẳng định mình, từ đó có kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải
thông thường ở lớp 1, 2.
3. Định hướng cho học sinh giải được các bài toán có dữ kiện cụ thể
sang giải các dạng toán điển hình của lớp 3

cho học sinh nâng cao tư duy lên 1 bước với những dữ kiện trên mà cách giải lại
làm tính ngược lại với phép tính trên (vì người ta cho số bé yêu cầu tìm số lớn)
- Có từ ít hơn : làm tính cộng
- Có từ nhiều hơn: làm tính trừ
- Có từ gấp : làm tính chia
- Có từ kém : làm tính nhân
Ví dụ: Tùng có 12 hòn bi, Tùng có nhiều hơn Hùng 2 hòn bi. Hỏi 2 bạn có
bao nhiêu hòn bi ?
Giải
Số bi của Hùng có là :
12 - 2 = 10 (hòn bi)
Số bi của 2 bạn đó là :
12 + 10 = 22 (hòn bi)
Đáp số : 12 hòn bi
Ví dụ: Thuỷ có 30 qua tính. Thuỷ có gấp 3 lần Hà. Hỏi 2 bạn có bao nhiêu
que tính ?
5
Giải
Số que tính của Hà là :
30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của 2 bạn là :
30 + 10 = 40 (que tính)
Đáp số : 40 que tính
Với biện pháp này : Các em được nâng cao trình độ tư duy lên 1 bước. Từ
đó các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kỹ năng giải toán có lời
văn rõ ràng, chính xác.
4. Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài
giải đúng.
Hợp lý về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số để hoàn
thiện bài toán.

năng giải toán của mình là cần thiết.
Ví dụ: Thắng cắt được 12 lá cờ. Toàn cắt được nhiều gấp đôi Thắng. Hỏi
2 bạn cắt được bao nhiêu lá cờ?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán. Tóm tắt đầu bài bằng
cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng, và nhiều cách khác. Tóm tắt
Thắng : 12 lá cờ
? lá cờ
Toàn : Gấp đôi (gấp 2)
7

Giải C1
Số lá cờ bạn Toàn cắt được là :
12 x 2 = 24 (lá cờ)
Số lá cờ 2 bạn cắt được là :
12 + 24 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Nhìn vào sơ đồ các em tìm cách giải khác
Có em sẽ giải như sau :
Giải
Số lá cờ 2 bạn cắt được là
12 x 2 + 12 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra cách này chính là cách 1 :
giải gộp 2 phép tính trên mà thôi. Sau đó giáo viên gợi ý quan sát sơ đồ tìm cách
giải khác : Giáo viên cho học sinh nhận xét.
Số nhãn vở của Thắng biểu thị mấy đoạn thẳng ? (1 đoạn thẳng)
Số nhãn vở của Toàn biểu thị mấy đoạn thẳng ? (2 đoạn thẳng)

có nhiều tiến bộ đáng kể. Điểm kiểm tra giữa học kỳ và cuối học kỳ đã đạt kết
quả tốt.(Bảng kết quả trang sau)
Những con số trên để thể hiện phần nào áp dụng kinh nghiệm của tôi trong việc
bồi dưỡng học sinh yếu giải toán. Bên cạch sự sáng tạo tìm tòi trong giảng dạy.

Điểm Đầu năm Giữa HK1 Cuối HK1 Giữa HK2 Cuối KH2
9
Duy 4 6 7 8 8
Hiệp 3 4 5 6 8
Thư 3 4 5 6 7
Trang 3 6 7 8 9
Sơn 5 6 7 7 8

Xếp loại Giỏi Khá Trung bình Yếu
Đầu năm 14 (25%) 30 (57%) 5 (10%) 4 (8%)
Giữa HK1 30 (57%) 17 (31%) 4 (8%) 2 (4%)
Cuối HK1 38 (74%) 12 (20%) 3 (6%) 0
Giữa HK2 42 (80%) 9 (16%) 2 (4%) 0
Cuối HK2 43 (83%) 8 (15%) 1 (2%) 0

Người giáo viên phải nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, tận tuỵ dạy dỗ các em.
Ngoài ra còn nhờ sự quan tâm giúp đơc của Ban giám hiệu nhà trường, chị em
bạn bè đồng nghiệp. Mong Hội đồng xét duyệt đóng góp thêm ý kiến để bản
kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn.
Ngày tháng năm 200
Người viết Nguyễn Thị Hoà


12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status