Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề
Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh yếu kém giải toán đố
trong chương trình Toán lớp 3.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hoà.
Trường: Tiểu học Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội
Hà Nội 2000 - 2001I. Lý do chọn đề tài
Vì dậy học nhiều năm lớp 3 nên tôi nhận thấy : Trên thực tế của từng lớp, từng
trường nói riêng, các trường nói chung đều có một số em giỏi toán và một số em
kém toán. Những em giỏi thì say mê học tập. Những em yếu kém thì lười học, sợ học
và chán học.
Do yêu cầu phổ cập giáo dục cấp Tiểu học. Để đảm bảo chất lượng học tập của
các em trong một lớp, một khối phải đồng đều như nhau. Các trường cũng phải bằng
nhau.
Nên tôi đã chọn đề tài : "Bồi dưỡng học sinh yếu kém giải toán chương lớp 3"
để giúp các em yếu kém học tập tốt hơn bộ môn toán trong đó có giải toán đúng ở
chương trình này.
II. Cơ sở khoa học và thực tiễn
Chương trình tiểu học là chương trình đồng bộ được mở rộng và khắc sâu kiến
thức môn toán nói chung và phương pháp giải toán nói riêng.
Chương trình toán lớp 3 là chương trình chuyển tiếp giữa lớp 1, 2 và lớp 3, 4.
Học sinh được củng cố mở rộng phép cộng trừ và làm phép nhân chia. Đồng thời rèn
luyện kỹ năng tính toán cho học sinh : 4 phép tính + - x : trong phạm vi 1000; và
các dạng giải toán điển hình. Vì vậy đối với việc giải toán trong từng tiết học để học
sinh yếu kém giải toán đúng quả là khó khăn cả về trả lời lẫn tính toán.
giao 1 đến 2 bài cho học sinh làm thôi, tôi lồng thêm những bài toán vui gắn với thực
tế giúp các em hứng thú học toán hơn.
2. Rèn kỹ năng từ dễ đến khó, từ kiến thức cũ đến kiến thức mới
a) ở lớp một: Các em đã học các bài toán đơn giản : giải bẳng 1 phép tính về
thêm bớt nhiều hơn 1 số đơn vị.
Loại toán này đơn giản. Nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới
làm được các bài toán ở lớp trên.
Ví dụ:
- Bắc gấp được 4 cái thuyền, Nam gấp được nhiều hơn Bắc 2 cái. Hỏi Nam gấp
được mấy cái thuyền ?
- Hà làm được 4 bài toán, Lan làm được 6 bài toán. Hỏi ai làm được nhiều hơn
và nhiều hơn bao nhiêu bài toán ?
Đât là các bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay
tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng.
b) ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm 5 mẫu
giải toán dạng : a + b + c ; a + b - c ; a + (a - b) ; a + (a + b)
Đây là dạng toán tổng hợp giải bằng 2 phép tính. Tôi cho các em yếu toán,
trung bình ôn luyện các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em
hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán. Từ đó
hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải được các
dạng toán nhanh, chính xác. Bước đầu có kỹ năng trình bày bài toán.
c) Hình thức rèn luyện : Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra
cách giải với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham
thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình.
Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay
sai, giáo viên cũng phải có lời động viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc
chưa đúng, giáo viên động viên "gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ
đúng hơn " giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên nói "sai
rồi, không đúng " làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học.
Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau
- Kém 1 số lần : làm tính chia
Sau khi rèn kuyện 1 số bài toán điển hình để phát triển tư duy học sinh. Tôi
nâng cao hơn 1 bước bằng cách thông qua bài toán "gốc" có dạng trên tôi cho học
sinh nâng cao tư duy lên 1 bước với những dữ kiện trên mà cách giải lại làm tính
ngược lại với phép tính trên (vì người ta cho số bé yêu cầu tìm số lớn)
- Có từ ít hơn : làm tính cộng
- Có từ nhiều hơn: làm tính trừ
- Có từ gấp : làm tính chia
- Có từ kém : làm tính nhân
Ví dụ: Tùng có 12 hòn bi, Tùng có nhiều hơn Hùng 2 hòn bi. Hỏi 2 bạn có bao
nhiêu hòn bi ?
Giải
Số bi của Hùng có là :
12 - 2 = 10 (hòn bi)
Số bi của 2 bạn đó là :
12 + 10 = 22 (hòn bi)
Đáp số : 12 hòn bi
Ví dụ: Thuỷ có 30 qua tính. Thuỷ có gấp 3 lần Hà. Hỏi 2 bạn có bao nhiêu que
tính ?
Giải
Số que tính của Hà là :
30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của 2 bạn là :
30 + 10 = 40 (que tính)
Đáp số : 40 que tính
Với biện pháp này : Các em được nâng cao trình độ tư duy lên 1 bước. Từ đó
các em chọn cách giải đúng, chính xác để hình thành kỹ năng giải toán có lời văn rõ
ràng, chính xác.
4. Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài giải
đúng.
người giáo viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng giải
toán của mình là cần thiết.
Ví dụ: Thắng cắt được 12 lá cờ. Toàn cắt được nhiều gấp đôi Thắng. Hỏi 2 bạn
cắt được bao nhiêu lá cờ?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán. Tóm tắt đầu bài bằng
cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng, và nhiều cách khác. Tóm tắt
Thắng : 12 lá cờ
? lá cờ
Toàn : Gấp đôi (gấp 2)
Giải C1
Số lá cờ bạn Toàn cắt được là :
12 x 2 = 24 (lá cờ)
Số lá cờ 2 bạn cắt được là :
12 + 24 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Nhìn vào sơ đồ các em tìm cách giải khác
Có em sẽ giải như sau :
Giải
Số lá cờ 2 bạn cắt được là
12 x 2 + 12 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra cách này chính là cách 1 : giải
gộp 2 phép tính trên mà thôi. Sau đó giáo viên gợi ý quan sát sơ đồ tìm cách giải
khác : Giáo viên cho học sinh nhận xét.
Số nhãn vở của Thắng biểu thị mấy đoạn thẳng ? (1 đoạn thẳng)
Số nhãn vở của Toàn biểu thị mấy đoạn thẳng ? (2 đoạn thẳng)
Những con số trên để thể hiện phần nào áp dụng kinh nghiệm của tôi trong
việc bồi dưỡng học sinh yếu giải toán. Bên cạch sự sáng tạo tìm tòi trong giảng dạy.
Điểm Đầu năm Giữa HK1 Cuối HK1 Giữa HK2 Cuối KH2
Duy 4 6 7 8 8
Hiệp 3 4 5 6 8
Thư 3 4 5 6 7
Trang 3 6 7 8 9
Sơn 5 6 7 7 8
Xếp loại Giỏi Khá Trung bình Yếu
Đầu năm 14 (25%) 30 (57%) 5 (10%) 4 (8%)
Giữa HK1 30 (57%) 17 (31%) 4 (8%) 2 (4%)
Cuối HK1 38 (74%) 12 (20%) 3 (6%) 0
Giữa HK2 42 (80%) 9 (16%) 2 (4%) 0
Cuối HK2 43 (83%) 8 (15%) 1 (2%) 0
Người giáo viên phải nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, tận tuỵ dạy dỗ các em.
Ngoài ra còn nhờ sự quan tâm giúp đơc của Ban giám hiệu nhà trường, chị em bạn
bè đồng nghiệp. Mong Hội đồng xét duyệt đóng góp thêm ý kiến để bản kinh nghiệm
này được hoàn thiện hơn.
Ngày tháng năm 200
Người viết Nguyễn Thị Hoà