Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 trong phân môn luyện từ và câu thông qua trò chơi học tập - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======

NGUYỄN THANH HƢƠNG

MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4
TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
THÔNG QUA TRÕ CHƠI HỌC TẬP
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THU HƢƠNG

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
giáo hƣớng dẫn khóa luận TS. Nguyễn Thu Hƣơng đã tận tình hƣớng dẫn
trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học,
trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa
luận này.
Em xin chân thành cảm ơn BGH, cùng các thầy cô giáo đang giảng dạy
tại khối 4 trƣờng tiểu học Thanh Lâm B, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình em tìm hiểu thực trạng sử dụng trò

MRVT

Mở rộng vốn từ

SGK

Sách giáo khoa

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

VD

Ví dụ

HKI

Học kì I

HKII

Học kì II


MỤC LỤC

hƣớng trong việc tổ chức dạy học ........................................................... 27
1.5. Thực trạng của việc mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 trong phân môn
Luyện từ và câu thông qua trò chơi học tập ................................................ 32
CHƢƠNG 2. SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP VÀO VIỆC MỞ RỘNG
VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 ................................................................. 37
2.1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi học tập................................................... 37
2.2. Yêu cầu chung khi tổ chức trò chơi học tập ......................................... 37
2.3. Quy trình chung khi tổ chức trò chơi học tập....................................... 38
2.4. Vận dụng trò chơi học tập vào các dạng bài tập mở rộng vốn từ cho học
sinh lớp ........................................................................................................ 41
2.4.1. Dạng bài tập tìm từ ngữ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho .. 41
2.4.2. Dạng bài tập xác định nghĩa của từ và các yếu tố cấu tạo từ ........ 46
2.4.3. Dạng bài tập xác định nghĩa của thành ngữ, tục ngữ .................... 51
2.4.4. Dạng bài tập phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo, theo từ loại ...... 55
2.4.5. Dạng bài tập nhận diện các thành phần của câu dễ lẫn ................. 59
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 63
3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 63
3.2. Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm ....................................................... 63
3.3. Tiêu chí đánh giá .................................................................................. 63
3.4. Nội dung và giáo án thực nghiệm ........................................................ 64
3.5. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 64
3.6. Phân tích kết quả thực nghiệm ......................................................... 66
3.6.2. Hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò chơi .... 67
3.6.3. Mức độ chú ý của học sinh ............................................................ 69
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................. 71
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................... 73
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU

Dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ
của học sinh, cung cấp cho các em những hiểu biết sơ giản, rèn cho các em kĩ
năng dùng từ đặt câu để thể hiện tƣ tƣởng, tình cảm của mình một cách linh
hoạt. Đồng thời nhờ có vốn từ dồi dào giúp các em tƣ duy một cách chính xác
hơn. Đặc biệt, khi học tốt môn phân môn này sẽ tạo điều kiện, tiền đề cho các
em học tốt môn Tiếng Việt cũng nhƣ các môn học khác.
1.3. Yêu cầu của giáo dục hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phƣơng pháp dạy học
ở bậc Tiểu học theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học
sinh. Vì vậy ngƣời giáo viên phải gây đƣợc hứng thú học tập cho các em bằng
cách lôi cuốn các em tham gia vào hoạt động học tập. Đó là lí do ngƣời giáo
viên ở các trƣờng Tiểu học hiện nay đã không ngừng tìm tòi học hỏi, tích lũy
những phƣơng pháp có thể áp dụng một cách thuận tiện nhất, dễ hiểu, mang
lại hiệu quả cao, phù hợp với nhu cầu phát triển hiện nay.
Trong quá trình dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh thì việc sử dụng
phƣơng pháp trò chơi học tập là rất quan trọng và là một hoạt động mà các em
hứng thú nhất. “Học mà chơi, chơi mà học” đó là nét học tập đặc trƣng của
học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 4. Trò chơi học tập biểu hiện tính
năng động, chủ động, độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong nhận thức, đặc biệt là
trong hoạt động học tập.
Thông qua hoạt động chơi không những các em đƣợc hình thành và phát
triển tâm lý, nhân cách, thể lực, rèn luyện đƣợc sự nhanh nhạy của tƣ duy mà
còn tạo cơ hội cho các em đƣợc giao lƣu với nhau, đƣợc hợp tác với bạn bè,
đồng đội trong nhóm, trong tổ. Hơn nữa việc sử dụng trò chơi trong dạy học
mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 giúp cho các em nắm vững đƣợc kiến thức
cơ bản về từ, đồng thời biết thêm một số từ mới làm phong phú thêm vốn hiểu
biết của các em một cách linh hoạt, sáng tạo nhƣng vẫn thoải mái, nhẹ nhàng.

2




của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo. E.A.Pokrovxki trong lời đề
tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc
biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga. Bên cạnh kho tàng trò chơi
học tập, trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi học tập khác do các
nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng. Đại diện cho khuynh hƣớng sử dụng trò
chơi học tập làm phƣơng tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sƣ
phạm nổi tiếng ngƣời Tiệp Khắc LA.Komenxki (1592- 1670). Ông coi trò
chơi là hình thức hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hƣớng
của trẻ. Trò chơi học tập là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi
khả năng của trẻ em đƣợc phát triển, mở rộng vốn hiểu biết. Với quan điểm
trò chơi là niềm vui sƣớng của tuổi thơ, là phƣơng tiện phát triển toàn diện
cho trẻ, LA.Komenxki đã khuyên ngƣời lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học
cho trẻ và phải hƣớng dẫn, chỉ đạo cho trẻ.
Trong nền giáo dục cổ điển, ý tƣởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy
học đƣợc thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sƣ phạm ngƣời Đức
Ph.Phroebel (1782- 1852). Ông là ngƣời đã khởi xƣớng và đề xuất ý tƣởng
kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan điểm của ông về trò chơi, trẻ nhận
thức đƣợc cái khởi đầu do thƣợng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức
đƣợc những quy luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình. Vì thế
ông phủ nhận tính sáng tạo và tích cực của trẻ trong khi chơi.
Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có của trẻ,
ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất,
làm giàu vốn ngôn ngữ cũng nhƣ phát triển trí tƣ duy, tƣởng tƣợng của trẻ.
L.B.Bazedow cho rằng trò chơi là phƣơng tiện dạy học. Theo ông, nếu
trên triết học giáo viên sử dụng các phƣơng pháp, biện pháp chơi hoặc tiến
hành triết học dƣới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời học
và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn. Ông đã đƣa ra hệ thống trò chơi học

4

5


+ Trò chơi nào có thể đƣa vào lớp học
+ Trò chơi đƣợc sử dụng vào lúc nào
+ Tổ chức trò chơi trong giờ học nhƣ thế nào
Cuốn sách “Trò chơi giữa buổi dành cho học sinh Tiểu học”[13] đã giới
thiệu một số trò chơi nhằm đem lại tinh thần thoải mái, sảng khoái cho học
sinh sau những giờ học căng thẳng. Luận văn “Vận dụng phương pháp tổ
chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học” [8] đã nghiên cứu về
vận dụng tổ chức trò chơi cho 7 phân môn của Tiếng Việt.
Tác giả Trần Mạnh Hƣờng (chủ biên) khi biên soạn tài liệu sử dụng trò
chơi học tập trong phân môn Tiếng Việt lớp 2, 3 đã chú ý tới trò chơi cụ thể
phù hợp với từng phân môn, tuy nhiên các tác giả không đi sâu vào từng địa
bàn, từng đối tƣợng học sinh để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí. [14]
Điểm qua các công trình nghiên cứu về trò chơi học tập nói chung và
trong phân môn Luyện từ và câu nói riêng, chúng tôi thấy chủ yếu các công
trình đi vào diện rộng quan tâm giới thiệu các trò chơi và một số ví dụ về cách
tổ chức. Việc xem xét các biện pháp cụ thể để tổ chức các trò chơi trong giừo
học phân môn Luyện từ và câu cho một đối tƣợng học sinh xác định vẫn chƣa
có công trình nào đi sâu xem xét. Đây chính là khoảng trống dành cho đề tài
của chúng tôi đi tiếp.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra cách thức tổ chức các trò chơi học tập vào những bài học cụ thể
để mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4
- Từ đó giúp các em có vốn từ phong phú, thuận lợi dễ dàng hơn trong
giao tiếp
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, khoa luận phải thực hiện những nhiệm vụ cơ

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Chương 2: Sử dụng trò chơi học tập vào việc mở rộng vốn từ cho học
sinh lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Để đảm bảo khả năng thực thi cũng nhƣ có tính hiệu quả, tính thuyết
phục của hệ thống trò chơi đƣợc đƣa ra trong khóa luận, chƣơng này trình bày
những cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống trò chơi để mở rộng vốn từ cho
học sinh lớp 4
1.1. Một số vấn đề về từ và vốn từ Tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm về từ và vốn từ
a) Khái niệm từ
Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về từ. Các nhà khoa học
đứng trên những phƣơng diện nghiên cứu khác nhau đã đƣa ra những quan
điểm xem xét từ trên phƣơng diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm và
ngữ nghĩa) đƣợc chấp nhận hơn cả.
Dƣới góc độ ngôn ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã định nghĩa về từ
Tiếng Việt nhƣ sau:
Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một
ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây
dựng nên câu.
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định
và hoàn chỉnh về ý nghĩa. Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau
để biểu hiện ý nghĩa của con ngƣời. Từ không chỉ biểu thị các sự vật, hiện
tƣợng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tƣợng tập hợp lại theo một

tiếp trong tổng thể của nó chứ không thông qua các đặc điểm
Chức năng dẫn xuất: Là đƣa ra, dẫn ra các thuộc tính, các đặc điểm hay
các quan hệ của các sự vật, hiện tƣợng. Đây là cách gọi tên có lí do, có thể
giải thích. Chính vì vậy dẫn xuất miêu tả bao giờ cũng làm cho từ luôn mới
mẻ, hấp dẫn hơn chức năng định danh tổng hợp tính.
VD1: Đã, sẽ, đang,... dẫn xuất các tình thái của hoạt động
VD2: Và, cùng, của, vì, do,... dẫn xuất của các quan hệ

9


Chức năng biểu niệm là chức năng biểu thị những khái niệm về sự vật,
hiện tƣợng, hoạt động, tính chất, trạng thái,... của thực tế khách quan. Đây là
lối gọi tên có lí do. So với chức năng biểu vật thì chức năng này cầu kì và
phức tạp hơn, ngoài ra nó có phần hạn chế với nhận thức của con ngƣời. Do
vậy, trong thực tế cuộc sống ngƣời ta hay dùng biểu vật. Tuy nhiên chức năng
biểu niệm của từ có ƣu điểm là giúp con ngƣời nâng cao nhận thức và kích
thích về mặt nhận thức.
Chức năng biểu hiện là chức năng vẽ ra các hình ảnh, hình tƣợng hoặc
bộc lộ các cảm xúc về sự vật, hiện tƣợng, tính chất... nhƣ nó vốn có trong
thực tế khách quan của từ. Tất cả các từ láy của Tiếng Việt đều có chức năng
biểu hiện
VD: hấp tấp, phờ phạc đủng đỉnh, mập mạp,...
2. Nhóm chức năng liên quan đến ngƣời dùng
Chức năng biểu thái là chức năng biểu thị thái độ, tình cảm của ngƣời
nói đối với các sự vật đƣợc gọi tên
VD: trời ơi, chao ôi, ừ, nhỉ,...
Chức năng đƣa đẩy là chức năng duy trì sự giao tiếp tạo ra một mối thân
hữu giữa ngƣời nói với ngƣời nghe trong giao tiếp của từ. Đây là những từ
rỗng về thông tin nhƣng lại có giá trị về giao tiếp nhằm duy trì mạch giao tiếp,

có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
Ba thành phần ý nghĩa trên đƣơc gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa
từ vựng thƣờng đƣợc đối lập với thành phần ý nghĩa thứ 4, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững
tƣơng đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa của từ này với từ khác
trong ngôn ngữ quy định nên.

11


Sự vật, hiện tƣợng, đặc điểm... ngoài ngôn ngữ đƣợc biểu thị tạo nên ý
nghĩa biểu vật của từ. Nói cách khác, “ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật,
hiện tƣợng...trong thực tế vào ngôn ngữ” [ 2,tr.108]. Ý nghĩa biểu vật không
phải là sự vật, hiện tƣợng y nhƣ chúng có trong thực tế. Chúng chỉ bắt nguồn
từ đó mà thôi. Nói nhƣ vậy có nghĩa là biểu vật của từ không đồng nhất với sự
vật, hiện tƣợng, thuộc tính, hành động... mà chỉ gợi ra sự vật, hiện tƣợng,
thuộc tính, hành động.
Nghĩa biểu niệm của từ “là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,
khái quát và cụ thể theo một tổ chức ,một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa
có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một hoắc một số ý nghĩa
biểu vật của từ” [2,tr118]
Nghĩa biểu niệm là sự liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Ví
dụ: Nghĩa biểu niệm của từ “bảng” là: đồ dùng, có mặt phẳng đƣợc dùng để
viết phấn
Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của

VD: Quần áo, mạnh khỏe, xe đạp, xanh lè, bếp núc, …
Từ láy: Từ láy là do phƣơng thức láy hình vị tạo ra, phƣơng thức này tác
động vào một tiếng có nghĩa để làm nảy sinh một tiếng láy không có nghĩa.
Giữa tiếng láy và tiếng gốc có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm.
VD: nhỏ nhắn, xinh xắn, đo đỏ, tim tím, gầy guộc, lấp lành,...
Dựa vào nghĩa của từ ta chia từ thành: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ
đồng âm
Từ đồng nghĩa: Là những từ có nghĩa giống nhau.
VD: Máy bay-Phi cơ-Tàu bay
Từ đồng nghĩa hoàn toàn: là những từ có nghĩa giống nhau hoàn toàn
Từ đồng nghĩa hoàn toàn có thể thay thế cho nhau trong lời nói
VD: Lợn-heo, hổ-cọp, ngô-bắp,…
Từ đồng nghĩa không hoàn toàn:Là những từ đồng nghĩa có nghĩa ít
nhiều khác nhau. Các từ đồng nghĩa không hoàn toàn không phải lúc nào

13


cũng thay thế đƣợc cho nhau trong lời nói. Do đó khi nói cần phải cân nhắc để
lựa chọn cho đúng và phù hợp.
VD: Ăn-xơi-chén, mang-vác-khiêng,…
Từ trái nghĩa: Là những từ có nghĩa trái ngƣợc nhau.
VD: Đục-trong, Xanh-chín, Xấu-đẹp , Thiện-ác,…
Từ đồng âm: Những từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhƣng
khác nhau về nghĩa
VD: Hòn đá-đá bóng, Con ngựa đá con ngựa đá, Con ruồi đậu mâm
xôi đậu,…
Theo Diệp Quang Ban, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành 2
nhóm:
Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

dân tộc đó có thể không nhiều. Vốn từ của từng cá nhân có đƣợc tùy thuộc
vào sự phát triển trí tuệ nhận thức, văn hóa, kinh nghiệm sống của cá nhân.
Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỷ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ
chung của cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức,
văn hóa của mỗi cá nhân. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì
vốn từ của những ngƣời có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000- 9000 từ, của
một nhà thiên tài là xấp xỉ 20 000 từ .
Vốn từ đƣợc hình thành theo hai con đƣờng đó là: con đƣờng tự nhiên,
vô thức và con đƣờng có ý thức. Làm giàu vốn từ cho học sinh tiểu học nhằm
mục đích hình thành vốn từ cho học sinh theo con đƣờng có ý thức thông qua
các hoạt động học tập môn Tiếng Việt và các môn khác ở tiểu học.
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, ngƣời ta phân
chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động. Vốn từ tích cực
là những từ đƣợc con ngƣời nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống
hàng ngày. Vốn từ thụ động gồm những từ ít hoặc không đƣợc sử dụng. Đó là
những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại(bao cấp, tem phiếu….)
hoặc mang nghĩa riêng, chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi.

15


Đối với học sinh tiểu học, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu đƣợc và
biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp. Còn vốn từ thụ động là những từ
trẻ chƣa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhƣng không biết vận dụng trong giao tiếp
(không nói ra đƣợc).
Nội dung vốn từ cung cấp cho học sinh:
Ngoài các từ ngữ đƣợc dạy qua các bài tập đọc,chính tả, tập viết, học
sinh đƣợc cung cấp vốn từ một cách có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ
đề. Chƣơng trình đã xác định vốn từ cần cung cấp cho học sinh, đó là những
từ ngữ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh nhƣ công việc của học

dụ: phiền, phòng, trà, trảm, chủ, giang sơn, nhân hậu,…
Từ gốc Ấn- Âu
Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc đia của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh
hƣởng đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều
vào tiếng Việt, chỉ sau từ Hán-Việt. Sự ảnh hƣởng này kéo theo sự xuất hiện
của nhiều từ gốc Pháp trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ:
Tên món ăn: bít tết, kem, pho mát, rƣợu vang, xúc xích, súp,…
Tên quần áo: may ô, sơ mi, vét tông,gi lê, đầm,…
Tên thuốc: canxi, vitamin, pênixilin,…
Thuật ngữ quân sự: lô cốt, com măng đô,…
Thuật ngữ âm nhạc: tăng gô, viôlông, ácmônica,…
Thuật ngữ khoa học kĩ thuật: bê tông, cao su, ô tô,…
Ngày nay, ngoài các từ tiếng Việt mƣợn của tiếng Hán hoặc các tiếng
Ấn-Âu thì tất cả các từ còn lại đƣợc coi là các từ thuần Việt. Những từ đƣợc
gọi là thuần Việt này thƣờng là bộ phận của từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu
thị các sự vật, hiện tƣợng, các khái niệm cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu.
1.2. Khái quát về trò chơi
1.2.1. Quan niệm trò chơi
Trò chơi là một hoạt động vui chơi mang một chủ đề, nội dung nhất
định và có những quy định ngƣời tham gia phải tuân thủ. Trò chơi là một hoạt

17


động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí đa dạng của
con ngƣời. Trò chơi có tác dụng thúc đẩy hoạt động trí tuệ của trẻ, qua đó trẻ
lĩnh hội những tri thức mới, củng cố, chính xác hóa, hệ thống hóa những biểu
tƣợng, góp phần phát triển các quá trình nhận thức cảm giác, tri giác, tƣ duy,
ngôn ngữ… cho trẻ.
Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phƣơng tiện phát triển

tạm phân loại theo ba cách sau đây:
Phân loại theo sự năng động
Trò chơi động: là những trò chơi có sự chuyển động hoặc vận dụng đến cơ
bắp của ngƣời chơi nhƣ chạy nhảy, kéo đẩy, gồng gánh, vƣợt chƣớng ngại…
Trò chơi tĩnh: là những trò chơi cần vận dụng trí óc và giác quan, ngƣời
chơi ít di chuyển
Phân loại trò chơi theo không gian
Trò chơi ngoài trời: hầu nhƣ tất cả những trò chơi đều có thể chơi đƣợc ở
ngoài trời, nhƣng chúng ta cần phải lƣu ý là sân chơi phải phù hợp với trò chơi
Trò chơi trong nhà: thƣờng áp dụng trong giờ giải lao của một buổi học
tập. Trò chơi trong nhà thƣờng là trò chơi tĩnh, ít di chuyển.
Phân loại trò chơi theo mức độ
Trò chơi nhỏ: là những trò chơi đƣợc tổ chức trong nahf hay trên sân bãi
nhỏ, ứng dụng trong những sinh hoạt, học tập… và thời gian chơi cũng rất
ngắn, khoảng 5-10 phút
Trò chơi lớn: là những trò chơi đƣợc dàn dựng công phu dựa theo một câu
chuyện, một truyền thuyết, một lịch sử…Cũng có khi dùng trò chơi lớn nhƣ
một cách ôn tập các môn đã học. Thời gian chơi có thể kéo dài đến vài giờ.
1.2.3. Trò chơi học tập
a) Khái niệm về trò chơi học tập
Trong lí luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học nhƣ là
phƣơng pháp, hình thức tổ chức và tập luyện cho trẻ, không tính đến nội dung
và tính chất của trò chơi đều là trò chơi học tập hay còn gọi là trò chơi dạy
học. Trò chơi học tập đƣợc chúng tôi hiểu nhƣ sau:

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status