“GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH LỚP 2 HỌC PHÂN MÔN LUYỆN
TỪ VÀ CÂU THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI"
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Lý do chọn đề tài:
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục Tiểu
học nói riêng, đang tạo ra những chuyển dịch định hướng có giá trị. Cùng với
những môn học khác Tiếng Việt là môn học có nhiều sự đổi mới cả về mục đích, nội
dung và quan niệm dạy học. Bao gồm sáu phần môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Nó là cơ sở để tiếp thu và lĩnh hội tri thức các môn học khác.
Mỗi môn học có một sắc thái riêng. Phân môn Luyện từ và câu tuy bản chất là
cung cấp vốn từ (từ ngữ) và học về câu (ngữ pháp), song trong sách giáo khoa
không đưa ra “những kiến thức đóng khung có sẵn” mà là “hệ thống các bài tập”
Học sinh (h/s) muốn lĩnh hội tri thức không thể khác là thực hành giải tất cả các
bài tập trong sách giáo khoa. Vậy một giờ Luyện từ và câu (LTVC) ở lớp 2 được
tiến hành ra sao ?
Thực tế cho thấy mỗi giáo viên đều tích cực đổi mới phương pháp dạy học thì
giờ LTVC ở lớp 2 diễn ra vẫn còn trầm lắng. Tục ngữ có câu “Phong ba bão táp
không bằng ngữ pháp Việt Nam” thực chẳng ngoa. Tuy chưa phải học những kiến
thức sâu rộng như thành phần chính phụ của câu hoặc những khái niệm mang tính
kinh viện “câu là gì”… nhưng với hệ thống bài tập cũng dễ làm h/s mệt mỏi nếu giáo
viên không có sự thay đổi linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học.
Đối với h/s lớp 2, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm bản sắc hồn nhiên, sự
chú ý chưa cao. Bên cạnh học là hoạt động chủ đạo thì nhu cầu chơi nhu cầu
được giao tiếp với bạn bè… vẫn tồn tại và cần thoả mãn. Nếu người giáo viên
biết phối hợp nhịp nhàng giữa học mà chơi, chơi mà học thì h/s sẽ hăng hái, say
mê học tập và tất yếu kết quả của qúa trình dạy học cũng đạt tới đỉnh điểm. Dạy
học bằng phương pháp trò chơi là đưa học sinh đến với các hoạt động vui chơi
giải trí có nội dung gắn liền với bài học. Trò chơi trong học tập có tác dụng giúp
1
sôi nổi cho một giờ học. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải xác định rõ yêu cầu đạt.
Trên cơ sở đó xác định cần đưa trò chơi vào lúc nào, bài tập nào ? Nếu giáo viên
không tổ chức tốt thì trò chơi không gặt hái được kết quả như mong muốn mà
còn bị phản tác dụng gây sự mất trật tự trong giờ học. Thực tế ở trường tiểu học
nơi tôi đang công tác có bốn lớp 2, trong quá trình dạy học mỗi giáo viên đều
tích cực đổi mới phương pháp để đạt hiệu quả giờ dạy cao nhất. Song qua dự
giờ, thăm lớp tôi nhận thấy có giờ dạy đã tổ chức đến 3 hoạt động khác nhau mà
không khí giờ học vẫn trầm lắng. H/s ít tích cực, không sôi nổi chủ động tìm tòi
phát hiện kiến thức. Bên cạnh đó có giờ dạy giáo viên lạm dụng ba trò chơi học
tập vào giảng dạy. Kết quả là cả một giờ học không khí lúc nào cũng tràn ngập
tiếng reo hò, tiếng cười, song vì chính trạng: thái tâm lý bị kích thích quá
ngưỡng làm cho sự nhận thức của h/s không đạt hiệu quả như mong muốn. Học
sinh không nắm được kiến thức trọng tâm của bài. Chính vì vậy việc giảng dạy
các bài tập trong tiết LTVC ở lớp 2 được tiến hành ra sao để h/s chủ động, hào
hứng lĩnh hội tri thức, đó là điều tôi đã nghiên cứu, nhận biết và tìm hiểu được
một số kinh nghiệm về vận dụng một số trò chơi vào tiết dạy LTVC ở lớp 2.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Điều tra thực trạng:
1.1. Đặc điểm nội dung sách giáo khoa phân môn LTVC ở lớp 2.
Luyện từ và câu là tên mới của phân môn Từ ngữ ngữ pháp. Cách gọi này
cũng phản ánh một sự chuyển đổi khá căn bản của sách giáo khoa Tiếng việt. Đó
là sự chú trọng rèn kỹ năng, hơn là cung cấp cho học sinh những kiến thức kinh
viện, những khái niệm lý thuyết. Ở lớp 2 toàn bộ chương trình sách giáo khoa
không có một tiết lý thuyết nào, h/s tiếp thu kiến thức và rèn kỹ năng hoàn toàn
thông qua hệ thống các bài tập.
Về mức độ yêu cầu của nội dung luyện từ trong sách; học khoảng 300 -> 350
từ mới (kể cả thành ngữ và tục ngữ thuộc các chủ điểm) học sinh, bạn bè, trường
học, thầy cô ông bà, cha mẹ, anh em, các con vật nuôi, các mùa trong năm, chim
chóc, muông thú, sông biển, cây cối. Bác Hồ, nhân dân. Thực chất các từ này bổ
4
1.2. Dự giờ khảo sát:
Ngày 27/9/2013 dự giờ lớp 2A
Tiết 3: Từ chỉ sự vật. Câu kiểu Ai là gì ?
Nhận xét: giáo viên lần lượt hướng dẫn h/s đi giải 3 bài tập (SGK trang
26, 27). Phương pháp giảng đơn điệu chỉ là thầy hỏi h/s trả lời. lớp nhận xét,
giáo viên chốt kiến thức, Học sinh làm việc mệt mỏi, có em không tập trung,
hình thức tổ chức dạy học chưa phát huy tính chủ động h/s
* Ngày 28/9/2013, đồng thời kiểm tra hai lớp 2A, 2B
Đề bài (thời gian 6 phút):
Bài 1: (6 điểm): Viết 2 từ chỉ người, 2 từ chỉ con vật, 2 từ chỉ đồ vật
Bài 2: (4 điểm): Xếp các từ sau thành câu hợp nghĩa:
Em, ngoan, là, học sinh
Kết quả thu được như sau:
Lớp Sĩ số
Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL: % SL: % SL: % SL: %
2A 35 10 28,6 7 20 13 37,1 5 14,3
Như vậy kết quả học sinh đạt điểm khá, giỏi là không nhiều, đồng thời
vẫn còn nhiều h/s điểm yếu. Kết quả học tập của học sinh đạt được do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan đem tới. Song một điều tôi thấy rằng do
tiết học tẻ nhạt, không có sự sôi động như vốn sống của học sinh, tạo ra tâm lý
chán hoặc sợ hãi. Chính áp lực tâm lý này làm kiến thức giáo viên đưa ra học
sinh tiếp thu chưa được cao.
1.3. Phân tích nguyên nhân
a, Về phía giáo viên:
5
- Học sinh làm bài vào vở - giáo viên chấm, chữa bài.
- Giáo viên chốt kiến thức
Như vậy ba hoạt động với các hình thức tổ chức khác nhau nhưng không
khí giờ học vẫn diễn ra một cách nặng nề vì học sinh phải làm việc không chút
thư giãn.
* Cũng có trường hợp giáo viên quá lạm dụng phương pháp trò chơi vào dạy
học dẫn đến cả một giờ, học sinh luôn trong tâm trạng phân kích thái quá. Mặt
khác do giáo viên tổ chức không “khéo” làm cho sự cổ vũ mạnh mẽ quá mức
cần thiết. Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mạch kiến thức trong
bài và những lớp ở xung quanh. Ví dụ: Khi dạy bài: Từ chỉ sự vật. Câu kiểu Ai
là gì?
Giáo viên đưa vào bài tới 3 trò chơi. Riêng trò chơi ở bài tập 1 do giáo
viên chia lớp thành hai nhóm để thi đua, mỗi nhóm 8 học sinh nối tiếp tham gia.
Các thành viên còn lại cổ vũ. Do vậy tiếng “Cố lên” ầm cả những lớp xung
quanh.
Giáo viên chưa nắm bắt được biện pháp tổ chức trò chơi học tập trong giờ
Luyện từ và câu có hiệu quả. Thông thường giáo viên cho học sinh chơi theo
hình thức (4 - 5 h/s) mà các học sinh được tham dự là học sinh khá - giỏi. Sau,
thu được kết quả của yêu cầu trò chơi giáo viên chốt lại kiến thức bài thi có đến
1/3 số học sinh không nắm được kiến thức vì đó là những học sinh trung bình
h/s yếu (đối tượng cổ vũ trong trò chơi).
b, Về phía học sinh
Do đặc điểm tâm lý của lứa tuổi nên khả năng chú ý, tập trung còn yếu,
tính kỷ luật chưa cao dễ mệt mỏi. Nếu phương pháp dạy học của giáo viên đơn
điệu, bài giảng khô khan sẽ tạo sức ì, sự mệt mỏi cho học sinh.
2. Biện pháp thực hiện:
2.1. Về nhận thức của giáo viên
7
Giáo viên cần nhận thức rõ vai trò của việc tạo hứng thú hiệu quả trong giờ
Bài 1: (Tuần 7 - 59/TV2 - I). Kể tên các môn học ở lớp 2
Bài 2 (Tuần 10 - trang 82). Kể thêm các từ chỉ người trong gia đình họ hàng mà
em biết.
Bài 1 (Tuần 13 - trang 108). Kể tên những việc em đã làm ở nhà giúp cha mẹ.
Bài 2 (Tuần 15 - trang 122). Tìm những từ chỉ đặc điểm của người và vật.
Bài 2 (Tuần 26 - trang 74). Kể tên các con vật sống ở dưới nước. Mẫu: tôm, sứa,
ba ba …
Bài 1 (Tuần 28 - trang 87). Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
a. Cây lương thực, thực phẩm Mẫu: lúa
b. Cây ăn quả Mẫu: cam
c. Cây lấy gỗ Mẫu: xoan
d. Cây bóng mát Mẫu: bàng
đ. Cây hoa Mẫu: cúc
Bài 1 (Tuần 30 trang 104). Tìm những từ ngữ:
a. Nói lên tình cảm của Bác Hồ với thiếu nhi. Mẫu thương yêu.
b. Nói lên tình cảm của thiếu nhi với Bác Hồ. Mẫu: biết ơn
Bài 2 (tuần 33 - trang 129). Tìm thêm những từ ngữ chỉ nghề nghiệp khác nhau
mà em biết. Mẫu: thợ may.
(2). Trò chơi: Ghép nhanh tên cho sự vật
- Mục đích: + Ghép nhanh từ với đồ vật, hình vẽ tương ứng
+ Có biểu tượng về nghĩa của từ
- Chuẩn bị: + Tranh ảnh, đồ vật thật theo yêu cầu bài: 3 bộ
+ Thẻ ghi tên các tranh ảnh, đồ vật thật: 3 bộ.
- Cách chơi:
9
+ 3 nhóm chơi/lần (mỗi nhóm 4 - 8 h/s tuỳ vào số lượng tranh ảnh
có trong bài).
+ Các tranh (ảnh, đồ vật) xếp thành 3 nhóm
+ Luật chơi: Khi giáo viên nêu yêu cầu: Ghép nhanh tên cho các sự
kết quả đồ vật mà các nhóm gọi tên được.
- Trò chơi vận dụng được vào các bài tập
Bài 3 (Tuần 6 - trang 52). Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong các tranh sau.
Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì.
Bài 1 (Tuần 11 - trang 90). Tìm các đồ vật được vẽ ẩn trong bức tranh sau
và cho biết mỗi vật dùng để làm gì.
(4): Trò chơi: Tìm nhanh từ có tiếng giống nhau
Mục đích: + Mở rộng vốn từ bằng cách tạo “từ” từ một “tiếng” cho trước.
+ Rèn khả năng huy động nhanh vốn từ.
- Chuẩn bị: Phấn, bảng con
- Cách chơi: + Giáo viên nêu yêu cầu. Thi tìm nhanh các từ chứa tiếng cho
trước.
+ Luật chơi: Dựa vào tiếng đã cho ở đầu bài, h/s cố gắng ghi nhanh
các từ vào bảng con. Trong khoảng thời gian quy định, ai tìm được nhiều từ nhất
là người thắng cuộc.
- Trò chơi này sử dụng các bài tập:
Bài 1 (Tuần 2 - trang 17). Tìm các từ
- Có tiếng học Mẫu: học hành
- Có tiếng tập Mẫu: tập đọc
Bài 1 (Tuần 25 - trang 64). Tìm các từ ngữ có tiếng biển. Mẫu; tàu biển
11
(5). Trò chơi: Phân nhanh các nhóm từ
Mục đích: + Nhận biết nghĩa của từ bằng cách tìm ra các đặc điểm giống
nhau của sự vật mà từ đó gọi tên.
+ Rèn trí thông minh, khả năng phân tích.
- Chuẩn bị: + Viết sẵn các từ trong bài tập lên bảng
+ Hoa có dán sẵn băng dính (Số lượng tuỳ theo số từ có trong
bài và số hoa phải có 2 màu khác nhau, gấp 2 lần số từ).
+ Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm và nêu yêu cầu: Phân
- Trò chơi vận dụng ở các bài tập.
Bài 1 (Tuần 16 - trang 133). Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: tốt, ngoan,
nhanh, trắng, cao, khoẻ.
Mẫu: tốt - xấu
Bài 1 (Tuần 32 - trang 120). Xếp các từ dưới đây thành những từng cặp có
nghĩa trái ngược nhau.
a. Đẹp, ngắn, nóng, thấp, lành, xấu, cao, dài
b. Lên, yêu, xuống, chê, ghét, khen
c. Trời, trên, đất, ngày, dưới, đêm
Mẫu: nóng - lạnh
Bài 2 (Tuần 34 - trang 137). Hãy giải nghĩa từng từ dưới đây bằng từ trái
nghĩa với nó:
a. trẻ con b. cuối cùng c. xuất hiện d. bình tĩnh
Mẫu: Trẻ con trái nghĩa với người lớn
(7). Trò chơi: Thi đặt câu theo mẫu
- Mục đích:
13
+ Rèn kỹ năng nói viết đúng các mẫu câu Ai là gì ? (Ai làm gì ? Ai thế
nào ?); có sự tương hợp về nghĩa giữa hai thành phần của câu.
+ Luyện óc so sánh liên tưởng nhanh, tác phong nhanh.
- Cách chơi: + Giáo viên nêu yêu cầu: Đặt câu theo mẫu Ai là gì ? (Ai làm
gì ? Ai thế nào ?).
+ Luật chơi: Giáo viên hô Ai ? (Hoặc cái gì ? con gì ? cây gì ?) rồi chỉ
định h/s một. Nếu học sinh 1 trả lời đúng, giáo viên lại hô tiếp là gì ? (hoặc làm
gì ? như thế nào ?) tuỳ theo yêu cầu của bài rồi chỉ h/s 2. Học sinh 2 trả lời câu
hỏi của giáo viên nhưng nội dung phải phù hợp với nội dung từ ngữ h/s 1 đã đưa
ra. Ai trả lời đúng, nhanh sẽ được tuyên dương, ai không trả lời được sẽ phải
đúng nguyên, không được ngồi khi trò chơi kết thúc.
- Trò chơi có thể vận dụng ở các bài tập:
không nêu được thì giáo viên tiếp tục gợi ý để học sinh đoán.
- Trò chơi vận dụng trong các bài tập.
Bài 2 (tuần 17 tr 143). Thêm hình ảnh so sánh vào sau mỗi từ dưới đây.
- Đẹp, cao, khoẻ.
- Nhanh, chậm, hiền.
- Trắng, xanh, đỏ.
Mẫu: đẹp → đẹp như tiên.
Bài 2 (tuần 24 tr 55). Hãy chọn tên con vật thích hợp với mỗi chỗ trống dưới
đây.
a. Dữ như…. b. Nhát như… c. Khoẻ như… d. Nhanh như…
(Thỏ, voi, hổ (cọp), sóc)
(2)Trò chơi: Tìm nhanh từ trong các câu thơ (văn)
- Mục đích:
+ Mở rộng vốn từ và củng cố cách sử dụng từ hơp nghĩa.
15
+ Luyện khả năng phản xạ nhanh.
- Chuẩn bị: Một số câu thơ (văn, ca dao) có từ ngữ thuộc chủ đề bài học.
- Cách chơi:
+ Giáo nêu yêu cầu : Tìm từ chỉ sự vật (hoạt động, trạng thái, đặc điểm,
tính chất…) có trong các câu thơ (văn, ca dao) sau
+ Luật chơi: Khi nghe giáo viên đọc xong câu thơ (văn, ca dao), học sinh
xung phong nói từ có trong đoạn thơ (văn,ca dao). Học sinh nói đúng, giáo viên
yêu cầu lớp khen bạn. Học sinh nói sai, giáo viên yêu cầu học sinh khác chơi
tiếp. Tiếp tục cho đến hết số câu thơ (văn, ca dao) mà giáo viên đã chuẩn bị.
- Trò chơi này có thể sử dụng được ở tất cả các tiết Luyện từ và câu. Có
thể tổ chức cuối bài tập, có mục đích cung cấp vốn từ hoặc tổ chức cuối tiết học.
(3)Trò chơi: Đoán từ sau hoa.
- Mục đích:
+ Củng cố nghĩa, chủ đề hoặc thể loại từ
(Suối, hồ, sông)
Ví dụ: Tôi vận dụng trò chơi này vào bài 2 (tuần 14 trang 116). Sắp xếp
các từ ở ba nhóm sau thành câu:
1 2 3
Anh, chị, em khuyên bảo anh, chị, em
chị em chăm sóc nhau
anh em trông nom giúp đỡ
Ai Làm gì
Mẫu: Chị em Giúp đỡ nhau
Các thao tác hướng dẫn học sinh
+ Tôi chép sẵn các nhóm từ 1, 2, 3 lên bảng
17
+ Che nhóm 1, 3 bằng hai tờ giấy màu, nhóm 2 gắn mỗi từ một bông hoa
(màu khác nhau).
“Khuyên bảo” - hoa màu xanh
“Chăm sóc” - hoa màu đỏ
“Trông nom” - hoa màu tím.
“Giúp đỡ” - hoa màu vàng
+ Tôi yêu cầu học sinh: Đoán chữ sau hoa (trò chơi với cả lớp)
+ Khi học sinh chọn bông hoa nào tôi sẽ dùng nghĩa từ để gợi ý. Học sinh
dựa vào đó đoán từ. Nếu đúng thì hoa được mở, nếu sai học sinh khác tiếp tục
được chơi.
(Với từ “khuyên bảo” tôi đã gợi ý: Ẩn sau bông hoa màu xanh là từ chỉ
một người dùng lời nói để hướng người khác vào làm những việc tốt).
+ Sau khi mở hết 4 từ ở nhóm 2 tôi hỏi.
? Các từ ở nhóm 2 đều là từ chỉ gì? (từ chỉ hoạt động)
? Từ chỉ hoạt động này trả lời cho câu hỏi nào? (làm gì?)
+ Tôi bỏ băng giấy mở ừ nhóm 1 yêu cầu học sinh đọc
? Từ nhóm 1 gồm các từ chỉ gì? (từ chỉ vật)
III. Hoạt động dạy học.
1. Kiểm tra: ?Giờ trước học bài gì?
? Kể tên 1 số bài loài chim mà em biết?
? Những loài chim nào nào có giọng hót
hay?
? Những loài chim nào biết bắt chước
tiếng nói của người?
- Yêu cầu 1 học sinh đọc chữa bài 3 (với
BTTV)
giáo nhận xét, sửa sai, cho điểm
2. Bài mới:
- 1 học sinh trả lời
- 3 - 5 học sinh trả lời miệng tên
các loài chim theo yêu cầu của giáo
viên .
- Lớp quan sát vở nhận xét, cách
điền dấu chấm, dấy phẩy vào đoạn
văn
19
a. Giới thiệu: Trong tiết học trước các em
đã được mở rộng vốn từ về các loài chim.
Tiết học hôm nay sẽ giúp các em tiếp tục
được mở rộng vốn từ về loài thú sống
trong rừng qua việc tìm hiều một số đặc
điểm của chúng. Đồng thời tiết học này sẽ
dạy các em đặt câu và LTVH có cụm từ
“Như thế nào?”
Giáo viên ghi đầu bài
b. Hướng dẫn làm bài tập
lòi, chó, sư tử, bò
rừng, tê giác
vượn, sóc, chồn,
cáo, hươu
Kết luận nhóm nhanh, đúng thắng cuộc.
- Giảng: Đây là tên các loài thú sống
trong rừng. Thú dữ, nguy hiểm là những
con thú mà thức ăn của chúng là thịt các
con động vật khác có khi chúng còn tấn
công ăn thịt cả con người, còn thú không
nguy hiểm là con thú bản tính thường hiền
lành thức ăn là cỏ cây hoa, lá không gây
hại cho con người.
? Kể tên loài thú khác mà em biết không
có tên trong bài và xem xét đó là thú dữ
hay thú không dữ?
Giáo viên chốt kiến thức bài và liên hệ
cách bảo vệ các loài thú
Bài 2: Giáo viên nêu đề bài.
- Yêu cầu thảo luận nhóm 2.
(giáo viên gợi ý học sinh nên trả lời thành
câu)
- Nhiều nhóm báo cáo, giáo viên chốt
cách trả lời đúng.
a. Thỏ chạy nhanh như bay
b. Sóc chuyền từ cành này sang cành khác
thoăn thoắt.
c. Gấu đi lặc lè.
d. Voi kéo gỗ rất khoẻ
-Các câu hỏi trên có điểm gì giống nhau?
- Học sinh nêu yêu cầu đề :“Đặt
câu hỏi cho từ in đậm”
“Rất khoẻ”
- “Việc cày của con trâu”
“Trâu cày như thế nào?”
- 1 học sinh lên bảng chữa
Câu Câu hỏi
a. Trâu cày rất khoẻ
b. Ngựa phi nhanh như bay
c. Thấy một chú ngựa béo tốt đang ăn cỏ,
sói thèm rỏ rãi.
d. Đọc xong nội quy, khỉ nâu cươid khành
khạch.
a. Trâu cày như thế nào?
b. Ngựa phi như thế nào?
c. Thấy một chú ngựa béo tốt đang
ăn cỏ, sói thèm như thế nào?
d. Đọc xong nội quy khỉ nâu cười
như thế nào?
- Giáo viên kết luận: Tất cả những từ in
đậm trong bài đều là những từ miêu tả đặc
điểm, trạng thái của các con vật. Vậy
muốn hỏi về đặc điểm, trạng thái của
người, vật, con vật ta dùng câu hỏi như
thế nào. Khi viết câu hỏi cuối câu phải ghi
dấu chấm hỏi (?)
3. Củng cố bài.
22
- Trò chơi: Giáo viªn cho học sinh nghe
23
Với một thời gian ngắn ngủi để áp dụng phương pháp trò chơi vào dạy -
học phân môn luyện từ và câu tôi thấy 100% học sinh hứng thú học, các giờ học
mất đi sự trầm lắng thay vào đó là không khí sôi nổi, hào hứng. Chất lượng lớp
thực nghiệm đi lên rõ rệt. Việc áp dụng những trò chơi vào dạy Luyện từ và câu
là một hướng đi đúng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh
mở ra một triển vọng tốt đẹp trong mông Tiếng Việt nói chung, phân môn luyện
từ và câu nói riêng,
4. Bài học kinh nghiệm.
Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng phương pháp trò chơi để gây
hứng thú tạo hiệu quả cho giờ học luyện từ và câu ở lớp 2, tôi nhận thấy:
Trước hết người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi, học
hỏi, trao đổi kiến thức, cập nhật những vấn đề mới của xã hội.
Cần khơi dậy hứng thú học tập, lòng say mê thích học hỏi của học sinh.
Làm cho học sinh cảm thấy mỗi giờ học là một buổi tham quan kỳ thú. Không
nên gò ép các em theo một khuôn thước nhất định. Biết trân trọng và phát huy
tính sáng tạo của học sinh.
Cần phối kết hợp các phương pháp trong quá trình dạy học. Cần coi trọng
phương pháp trò chơi và phát huy tối đa tiềm lực của phương pháp này trong
dạy học phân môn luyện từ và câu. Tuy nhiên khi vận dụng phương pháp trò
chơi vào dạy học giáo viên cần chú ý:
Trò chơi phải góp phần thực hiện được mục tiêu bài học.
Trò chơi phải được chuẩn bị kỹ, chu đáo phù hợp với đối tượng học sinh
(về thẩm mỹ và nội dung)
Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Không nên lạm dụng trò chơi. Chỉ nên chọn 1 trò chơi hay áp dụng cho 1
bài. Trong 1 tiết chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 trò chơi. Tuyệt đối tránh hiện tượng
tổ chức 2 trò chơi trong 1 bài tập. Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.
24