SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN SÁNG KIẾN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ
TRONG GIỜ LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
1.1 Cơ sở lý luận:
“ Xung quanh ta có bao điều kỳ lạ
Mà sao ta biết chẳng được bao nhiêu”
Đó là một câu hát rất quen thuộc đối với mọi người. Câu hát đã nói lên thế giới xung
quanh ta rất bao la rộng lớn, nó bao gồm tất cả các sự vật hiện tượng, cây cỏ, con vật,
các vấn đề về tự nhiên và xã hội. Chúng ta không thể đi đến hết tất cả mọi nơi, không
thể tận mắt nhìn thấy hết được các sự vật, hiện tượng nhưng con người luôn có khát
vọng muốn được khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh bởi vì thế giới xung
quanh ta đó chính là môi trường sống của con người, nó lại là một kho tàng kiến thức
vô tận ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người, cho nên con người luôn có
nhu cầu khám phá thế giới xung quanh thông qua các hoạt động để có những hiểu biết
về thế giới, cải tạo thế giới nhằm phục vụ cho chính cuộc sống của con người.
Nhu cầu khám phá, tìm hiểu về thế giới xung quanh của con người đã xuất
hiện ngay từ khi còn nhỏ, từ khi mới sinh ra trẻ đã có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về
thế giới xung quanh và khi trẻ càng lớn thì nhu cầu đó ngày càng lớn hơn nhưng vì trẻ
nhỏ chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ chưa thể tự khám phá được về thế giới
xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào
các hoạt động nhằm cho trẻ làm quen, khám phá về môi trường xung quanh. Khi trẻ
được làm quen với thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích luỹ được vốn sống, vốn kinh
nghiệm, trẻ tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng về tự nhiên và xã hội, giúp trẻ
được phát triển toàn diện về các mặt: Đức- Trí – Thể- Mỹ- Lao cụ thể đó là:
+ Đối với phát triển trí tuệ: Khi trẻ được làm quen với môi trường xung quanh sẽ
giúp trẻ biết được tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, tính chất công dụng, cách sử dụng và các
mối quan hệ, liên hệ của các sự vật hiện tượng.
+ Đối với phát triển thể lực: Qua việc cho trẻ làm quen với môi trường xung
dẫn tới hiệu quả giáo dục chưa cao. Đứng trước vấn đề trên, là một giáo viên mầm non
đã lâu năm, tôi nghĩ rằng nếu tình trạng trên cứ diễn ra lâu dài thì sẽ ảnh hưởng đến
chất lượng học của trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ vì kiến thức của
môn làm quen với môi trường xung quanh có liên quan tới các môn học khác, mà trẻ ở
độ tuổi mẫu giáo bé càng cần phải cho trẻ nắm bắt kiến thức một cách đầy đủ, chính
xác, chắc chắn để trẻ có cơ sở học tốt ở các lớp sau nên tôi đã nghiên cứu những
nguyên nhân gây ra và mạnh dạn đề ra một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong
giờ làm quen với môi trường xung quanh ở độ tuổi mẫu giáo bé ( 3- 4 tuổi)
II/. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để nhằm mục đích tìm ra một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ
mẫu giáo bé trong giờ làm quen với môi trường xung quanh để nâng cao hiệu quả giáo
dục.
III/. Giới hạn nghiên cứu: Căn cứ vào khả năng và điều kiện của bản thân, tôi chỉ
nghiên cứu một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo bé( 3- 4 ) tuổi trong giờ
làm quen với môi trường xung quanh và tiến hành thực hiện tại trường mầm non Yên
Thanh - Uông Bí - Quảng Ninh
IV/ Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp gây hứng thú cho trẻ 3- 4 tuổi trong giờ
làm quen với môi trường xung quanh.
4. 2.Khách thể nghiên cứu :
V/ Giả thuyết nghiên cứu: Nếu tìm ra một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong
giờ làm quen với môi trường xung quanh phù hợp thì sẽ giúp trẻ luôn luôn tập trung
chú ý vào giờ học, vào sự truyền đạt kiến thức của cô để ghi nhớ tốt hơn, trẻ sẽ luôn
luôn tích cực tham gia vào các hoạt động, từ đó chất lượng giờ dạy sẽ cao hơn, nhân
cách của trẻ sẽ được hình thành và phát triển hơn.
VI/ Nhiệm vụ nghiên cứu;
6.1 Hệ thống các vấn đề lý luận về hứng thú, chú ý của trẻ mẫu giáo bé 3- 4 tuổi .
6.2 Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân việc tổ chức giờ dạy làm quen môi trường
xung quanh cho trẻ mẫu giáo bé 3- 4 tuổi ở trường mầm non Yên Thanh- Uông Bí-
Quảng Ninh.
những điều kiện là việc dạy dỗ được tổ chức tốt.
- Để hình thành hứng thú, phát triển trí tuệ thì phải dạy trẻ trong tiết học. Trong
thời gian học phải trang bị cho trẻ những tri thức, kỹ năng tương đối có hệ thống về
các lĩnh vực . Trong tiết học, giáo viên đề ra cho trẻ những yêu cầu nhất định về mức
độ và chất lượng lĩnh hội các tri thức và luyện tập cho trẻ những kỹ năng và làm theo
sự chỉ dẫn của cô, dần dần hứng thú của trẻ bắt đầu có sự phân hoá và bền vững tạo
nên ở trẻ những nguyện vọng đó là được tham gia tích cực vào các hoạt động để tiếp
thu tri thức
2. Khái niệm chú ý:
Chú ý là sự tập trung vào một hay một nhóm đối tượng , sự vật nào đó để định hướng
hoạt động đảm bảo điều khiển thần kinh tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có
kết quả.
* Vai trò - đặc điểm của chú ý:
- Chú ý là điều kiện để tiến hành hoạt động của con người, làm tăng hiệu quả
ghi nhớ, làm tăng hứng thú và làm cho hoạt động có kết quả cao.
- Chú ý phụ thuộc vào độ mới lạ của kích thích, vật kích thích càng mới thì
càng dễ gây ra chú ý không chủ định, yếu tố bất ngờ cũng dễ gây ra chú ý không chủ
định , yếu tố kích thích yếu và quen thuộc thì dễ làm mất đi chú ý không chủ định .
- Chú ý phụ thuộc vào độ hấp dẫn của kích thích, phụ thuộc vào nhu cầu cảm xúc,
hứng thú của trẻ
- Những đối tượng mới mẻ, khác lạ thường gây nên sự chú ý.
- Những đối tượng gây ra sự hứng thú cũng làm cho con người chú ý một cách
tự nhiên và say mê.
- Chú ý không chủ định thường thể hiện nhiều nhất ở trẻ mẫu giáo.
* Sự chuyển hoá từ chú ý không chủ định sang chú ý có chủ định và ngược
lại:
- Trong quá trình dạy học khi tổ chức hoạt động chú ý cho trẻ, giáo viên phải tạo
ra sự chuyển hoá từ chú ý không chủ định sang chú ý có chủ định và ngược lại để đạt
được hiệu quả cao hơn bằng cách: Trước hết, tạo ra một đối tượng mới lạ, hấp dãn để
thu hút sự chú ý của trẻ ( chú ý không chủ định), tiếp theo giáo viên gợi ý, nêu rõ mục
- Do trong quá trình dạy học, giáo viên dùng phương pháp sử dụng lời nói nhiều,
chưa tạo nhiều cơ hội cho trẻ tham gia hành động với đối tượng nên chưa kích thích
được sự tích cực hoạt động của trẻ .
- Các hình thức dạy của giáo viên cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, ít sử dụng những
hình thức mới lạ, sáng tạo, hấp dẫn để thu hút sự chú ý của trẻ.
- Lời nói của giáo viên chưa gây được hứng thú, chú ý của trẻ, chưa lôi cuốn
được trẻ vào việc tích cực khám phá đối tượng.
Với những nguyên nhân trên tôi thấy: Muốn giờ học đạt kết quả tốt thì
không những phụ thuộc vào phương pháp dạy trẻ đúng chuyên môn theo trình tự các
bước, các phần, đầy đủ nội dung mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự tập trung chú ý, sự
hứng thú và tích cực hoạt động, sự say mê, ham hiểu biết , thích tò mò, khám phá của
trẻ nên tôi đã dựa vào đặc điểm tâm lý của trẻ để tìm ra một số biện pháp gây hứng thú
cho trẻ trong giờ làm quen với môi trường xung quanh.
3 .Một số thuận lợi và khó khăn của lớp :
*Thuận lợi: Năm học 2008- 2009 Lớp mẫu giáo 3A1- trường mầm non Yên
Thanh, đã luôn được sự quan tâm cuả phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường,
được sự quan tâm, giúp đỡ của phụ huynh đã đóng góp, ủng hộ kinh phí mua sắm một
số đồ dùng đồ chơi phục vụ cho môn học.
- Bên cạnh đó, hàng năm giáo viên đứng lớp còn được tham dự các buổi
chuyên đề của phòng, của trường tổ chức để học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ
- Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên th-
ường xuyên được tổ chức thăm lớp, dự giờ rút kinh nghiệm
- Các cháu ở lớp có cùng độ tuổi mạnh dạn thích học môn làm quen với môi
trường xung quanh
*Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi, trong quá trình thực hiện giáo viên cũng
gặp không ít những khó khăn sau :
- Các cháu phần đông gia đình làm nông nghiệp nên nhiều cháu cha mẹ cũng ít có
thời gian quan tâm đến con cái, ít có điều kiện cho trẻ được tiếp xúc với một số sự vật,
hiện tượng nên kinh nghiệm của trẻ còn hạn chế.
Qua những đồ chơi được làm khéo léo, giống với thực tế sẽ giúp trẻ chú ý quan sát đồ
chơi, chơi với đồ chơi để khám phá những kiến thức về đối tượng
Vì trẻ mẫu giáo có sự tưởng tượng chưa phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ
còn ít nên cô phải thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ . Khi cho trẻ được tiếp
xúc với vật thật thì trẻ sẽ thấy hấp dẫn và sinh động hơn vì vật thật là đối tượng cụ thể,
chính xác nhất giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng và chính xác và toàn diện
hơn.
Ví dụ: Khi đưa ra những loai rau, quả, hoa thật…để dạy trẻ thì những vật thật
đó sẽ gây được sự chú ý đối với trẻ vì trẻ được nhìn thấy đối tượng một cách toàn diện
hơn, được ngắm nhình xung quanh vật một cách kỹ lưỡng. Mặt khác, trẻ còn được
khám phá đối tượng bằng cách hành động với đối tượng để khám phá ra đặc điểm của
đối tượng một cách dễ dàng, chính xác.
Hoặc khi cho trẻ làm quen với một số loại động vật thì giáo viên nên chuẩn bị
những con vật quen thuộc, dễ tìm như chó, mèo, gà, vịt, cá, tôm…để cho trẻ quan sát.
Khi trẻ quan sát những con vật đó thì trẻ thấy nó sinh động, đáng yêu hơn vì nó là đối
tượng quan sát động chứ không phải là tĩnh như tranh. Trẻ có thể nhìn thấy con vật nó
đi lại, vểnh tai, nghiêng đầu, kêu, ăn, bơi cho nên với tính chất động của đối tượng
quan sát sẽ lôi cuốn trẻ, thu hút sự tập trung chú ý của trẻ vào việc quan sát và khám
phá đối tượng .
Việc sử dụng màn hình, đèn chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan
đồng thời cũng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giờ dạy. Thông qua
những cảnh quay, đoạn băng được đưa lên màn hình sẽ tạo ra sự thay đổi, sự mới lạ
cho trẻ bởi vì tất cả các sự vật hiện tượng trên thực tế đều có thể quay lại, chụp lại để
đưa lên ,màn hình. Những hình ảnh có thể là tĩnh như ảnh chụp và có thể là động như
cảnh quay và qua những cảnh quay đã diễn tả lại mọi hoạt động của các sự vật hiện
tượng và với màu sắc đẹp của hình ảnh và tính thực tiễn sẽ lôi cuốn trẻ, giúp trẻ có
hứng thú tham gia vào việc khám phá kiến thức về đối tượng. Mặt khác qua việc sử
dụng màn hình sẽ mở rộng được nhiều kiến thức và khắc sâu kiến thức cho trẻ hơn.
Việc sử dụng các đồ dùng trực quan phải được giáo viên sử dụng một cách
linh hoạt sáng tạo. Trong một tiết dạy, cô không nên sử dụng một loại đồ dùng từ đầu
trẻ chỉ có thể nhận biết về các sự vật hiện tượng khi trẻ được tiếp xúc với đối tượng
bằng các giác quan, cho nên trong quá trình dạy trẻ cô phải tạo mọi cơ hội để trẻ có thể
sử dụng nhiều giác quan như thị giác, xúc giác, vị giác, thính giác, khứu giác để tham
gia vào việc khám phá đối tượng .
Không phải tiết dạy nào mà trẻ cũng có thể sử dụng cùng một lúc tất cả các
giác quan cho nên cô phải lựa chọn các hình thức để trẻ sử dụng những giác quan để
khám phá kiến thức sao cho phù hợp với nội dung dạy trẻ.
Ví dụ: Đối với tiết dạy “ Một số loại quả”cô có thể cho trẻ sử dụng các giác
quan như thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác để trẻ khám phấ đối tượng. Trẻ sẽ dùng
thị giác để quan sát quả từ đó khám phá ra quả có màu sắc, hình dạng, kích thước như
thế nào? Trẻ sẽ dùng vị giác để nếm quả xem quả có vị gì mà khi trẻ được nếm trẻ sẽ
rất thích thú, trẻ sẽ dùng xúc giác để sờ quả xem quả nhẵn hay sần sùi, trẻ dùng khứu
giác để ngửi quả xem quả có thơm không?
Hoặc đối với tiết dạy trẻ nhận biết về một số phương tiện giao thông , cô có
thể cho trẻ sử dụng một số giác quan như thị giác, xúc giác, thính giác để khám phá
kiến thức về các phương tiện giao thông đó là cho trẻ quan sát phương tiện giao thông
( xe đạp, xe máy đồ chơi hoặc tranh ảnh…) qua thị giác để trẻ phát hiện ra cấu tạo,
hình dạng, màu sắc của phương tiện giao thông, trẻ sử dụng thính giác để để nghe tiếng
kêu của phương tiện giao thông, được dùng xúc giác để sờ mó vào phương tiện giao
thông để từ đó trẻ sẽ trẻ nắm bắt được những kiến thức về phương tiện giao thông, trẻ
có thể dễ dàng so sánh được sự khác nhau của một số phương tiện giao thông một
cách đầy đủ và chính xác nhất.
Việc trẻ được hành động với đối tượng là sờ mó, nếm ngửi, nghe…sẽ giúp
trẻ rất thú vị vì trẻ được trực tiếp hành động, trực tiếp tự mình khám phá đó chính là
nhu cầu của trẻ khiến trẻ sẽ có hứng thú, tích cực tham gia hoạt động để tìm hiểu,
khám phá về đối tượng và trẻ được tự nói lên suy nghĩ, ý kiến, nhận xét của mình về
sự vật hiện tượng từ đó sẽ khắc sâu kiến thức cho trẻ, giúp trẻ nắm bắt kiến thức một
cách chắc chắn hơn.
3. Trẻ mẫu giáo có tính hiếu động, thích tò mò, khám phá đó chính là nhu
cầu thiết yếu của trẻ nên trong quá trình dạy trẻ bằng những đồ dùng trực quan cô phải
đó vì nó sẽ mang tính chất khô cứng, dập khuôn, máy móc, không tạo được sự hấp
dẫn cho trẻ mà cô cần đưa ra những tình huống có vấn đề, những hinh thức sinh động,
sáng tạo để lôi cuốn sự tập trung , chú ý, khơi dậy trí tò mò, khám phá của trẻ .
Phần giới thiệu bài cô có thể đưa ra những hình thức như cho trẻ chơi một trò
chơi nhỏ, cho trẻ đi thăm quan một vườn rau, vườn hoa , cho trẻ đi tham dự sinh nhật
hoặc cô kể một câu chuyện ngắn hấp dẫn tạo ra tình huống có vấn đề để lôi cuốn trẻ,
thu hút sự chú ý của trẻ.
Việc lựa chọn những hình thức để đưa vào trong phần giới thiệu bầi phải phù
hợp với nội dung dạy, sao cho sinh động, hấp dẫn với trẻ. Những hình thức giới thiệu
bài phải luôn thay đổi trong các tiết học để cho trẻ khỏi bị nhàm chán.
Ví dụ: Phần giớithiệu bài của tiết dạy” Làm quen với một số loại rau” cô có thể
tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi “ Thi hái rau”. Cô cho trẻ cùng nhau thi đua chạy ra
vườn rau( mô hình vườn rau mà cô chuẩn bị) để hái những cây rau rồi mang về và trẻ
được thi đua như vậy trẻ sẽ rất thích thú, hăng hái muốn được kể về những cây rau mà
trẻ mang về và mong muốn cùng cô và các bạn khám phá, tìm hiểu về những loại rau
đó.
Hoặc đối với tiết dạy cho trẻ làm quen với một số loại hoa, cây….cô có thể cho
trẻ đi tham quan một vườn hoa, rau, cây…( mô hình mà cô chuẩn bị có nhiều loại hoa,
rau có màu sắc khác nhau, tươi, đẹp) trẻ sẽ được đi từ trong lớp ra ngoài sân, lúc đó,
trẻ sẽ có hứng thú và mong muốn được quan sát vườn hoa, rau đẹp mà cô vừa giới
thiệu. Mặt khác, trẻ được vận động, được đi ra ngoài trời sẽ tạo ra sự thay đổi, tạo
không khí mới cho trẻ , khiến trẻ có cảm giác dễ chịu, thoải mái, sảng khoái và lúc tới
nơi trẻ sẽ tập trung chú ý ngắm nhìn nhữngcây hoa, cây rau thật vì màu sắc đẹp rực rỡ,
tươi tắn từ đó tạo sự hứngthú cho trẻ, trẻ muốn khám phá về đối tượng.
Đối với tiết dạy về một số loại quả, hoa, cô cũng có thể đưa ra hình thức là kể
một câu chuyện ngắn, hoặc hình thức hội thi của một số loại hoa, quả. Các loại hoa,
quả cùng nhau khoe sắc, cùng nhau nói về mình( có thể qua mô hình , rối hoặc qua một
đoạn băng mà cô thiết kế). Cô sẽ tạo ra một tình huống là ban giám khảo không biết
lựa chọn loại hoa, quả nào và nhờ lớp sẽ chọn giúp ban giám khảo.
Không những phần giới thiệu bài phải lựa chọn những hình thức sinh động,
biến trò chơi đi một chút để nó mới lạ hơn đó là cô cho trẻ chơi trò chơi “Nhà thám
hiểm”, cô cũng đưa ra những cái túi hoặc hộp mà bên trong đựng các đối tượng trẻ vừa
học, cô cho 2,3 trẻ lên chơi cùng một lúc, trẻ lên chơi được đeo kính màu( do cô tự
làm) để không nhìn thấy gì. trẻ chú ý, khi cô gọi tên đối tượng gì thì trẻ cho tay vào túi
và chọn nhanh được đúng đối tượng đó. Ai chọn nhanh và đúng sẽ là nhà thám tử giỏi,
hoặc thắng cuộc. Với cách chơi như vậy cô đã đưa yếu tố thi đua vào trong trò chơi
giúp trẻ sẽ cố gắng chơi thật nhanh, thật giỏi.
Ngoài việc cải biến một số trò chơi theo những trò chơi đã biên soạn để tạo
sự mới mẻ đối với trẻ, cô còn có thể sáng tạo ra một số trò chơi mới vừa phù hợp với
nội dung tiết dạy, vừa gây được sự hứng thú, chú ý cho trẻ.
Ví dụ:
* Trò chơi; “Bác sửa chữa giỏi”- ( tổ chức trong giờ học :“Làm quen với một số
phương tiện giao thông”)
Cách chơi: Cô đưa ra những bức tranh về phương tiện giao thông nhưng còn
thiếu một số bộ phận( bánh xe, cửa sổ, cửa ra vào, thùng xe….) và cô chuẩn bị sẵn một
số bộ phận của phương tiên giao thông. Cô cho trẻ quan sát tranh để phát hiện ra
phương tiện giao thông đó còn thiếu bộ phận gì rồi chọn bộ phận đó và dán vào đúng
vị trí ( cô có thể cho trẻ chơi theo hình thức tổ, nhóm, cá nhân)
* Trò chơi : “Hái hoa”- (Tổ chức trong giờ học: “Một số loại hoa”)
+ Chuấn bị: - Cô chuẩn bị 3 mô hình vườn hoa, có trồng hoa hồng, hoa cúc, hoa
sen ( có thể là hoa thật hoặc cô làm, có màu sắc, rực rỡ, tươi tắn, đẹp)
- 3 thảm cỏ làm chướng ngại vật, 3 lọ hoa
+ Cách bố trí các đồ chơi : Trước mỗi tổ là thảm cỏ, trước thảm cỏ là 3 vườn hoa
+ Cách chơi: Cô cho trẻ xếp 3 thành hàng dọc theo 3 tổ, cả 3 tổ cùng thi đua với
nhau bằng cách cô cho lần lượt cảc trẻ trong 3 tổ lên bật qua thảm cỏ tới vườn hoa hái
một bông mang về cắm vào lọ hoa của tổ mình. Tổ hoa hồng chỉ được hái những bông
hoa hồng, tôt hoa cúc chỉ được hái những bông hoa cúc và tổ hoa sen sẽ hái những
bông hoa sen. Trong một thời gian, tổ nào hái đúng và nhanh là thắng cuộc.
Đó là một số trò chơi mà cô sáng tạo ra để tổ chức cho trẻ chơi trong giờ học.
Với những trò chơi mới mẻ, sinh động, hấp dẫn được tổ chức thay đổi trong các tiết
nhẹ nhàng động viên trẻ, khéo léo gợi ý để trẻ hiểu ra và trả lời được câu hỏi của cô.
Với những lời nói nhẹ nhàng, tình cảm, nói diễn cảm thể hiện được đúng nội
dung của câu nói, nói đúng hoàn cảnh, tình huống kết hợp với ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,
thái độ của cô sẽ lôi cuốn trẻ , thu hút sự tập trung chú ý của trẻ vào việc khám phá đối
tượng từ đó trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt được những kiến thức mà cô truyền đạt.
KẾT QUẢ
Qua một thời gian áp dụng những biện pháp gây hứng thú cho trẻ trong giờ làm
quen với môi trường xung quanh vào trong quá trình dạy trẻ, tôi thấy có những kết quả
như sau:
+ Về kiến thức: Trẻ đã nắm được tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, tính chất của các sự
vật hiện tượng. Trẻ phân biệt được sự giống và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng,
biết được ích lợi, cách bảo quản, cách sử dụng, các mối liên hê, quan hệ….giữa các sự
vật hiện tượng, trẻ biết được đặc điểm, ý nghĩa của một số hiện tượng tự nhiên , hiện
tượng xã hội.
+Về kỹ năng:Trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh đã
hình thành và rèn luyện ở trẻ một số kỹ năng như khả năng quan sát, khả năng diễn
đạt, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại, phân biệt. Rèn luyện kỹ năng tô,
vẽ, đếm, kỹ năng vận động ….
+Về thái độ:Trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh đã
hình thành ở trẻ ý thức học tập, trẻ học ngoan, luôn tập trung chú ý nghe cô giảng bài,
trẻ học rất sôi nổi, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, nhiệt tình, tích cực tham gia vào
các hoạt động, đặc biệt là hoạt động nhóm, trẻ luôn có sự phối hợp với nhau, tích cực ,
chủ động tìm tòi để khám phá kiến thức
- Trẻ luôn yêu thích môn học, yêu quý những sự vật hiện tượng có lợi xung
quanh, trẻ có ý thức chăm sóc và bảo vệ những sự vật, hiện tượng đó
Như vậy, Với những kết quả đã đạt được ở trên chứng tỏ rằng chất lượng
những tiết dạy của tôi đã được nâng lên, tỉ lệ trẻ nắm đfược bàiđạt được theo yêu cầu
của hoạt động đã tăng lên 90% - 95% các giờ dạy được nhà trường đánh giá xếp loại
giỏi, đó là một kết quả tốt trong quả trình giáo dục trẻ.
Chủ đề: “Thế giới thực vật”
Đối tượng dạy: Lớp mẫu giáo bé( 3- 4 tuổi)
Người soạn: Lê Thị Loan
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Đơn vị: Trường mầm non Yên Thanh- Uông Bí- Quảng Ninh
I/ MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU:
1.Kiến thức: Trẻ biết tên gọi, cấu tạo, đặc điểm nổi bật của quả cam, chuối, xoài, dứa,
dưa hấu.
- Trẻ nhận biết được sự khác nhau giữa quả cam và quả chuối
- Trẻ biết ích lợi của quả
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện ngôn ngữ. khả năng diễn đạt, cung cấp vốn từ cho trẻ.
- Rèn luyện giác quan cho trẻ.
- Rèn luyện kỹ năng so sánh.
- Rèn luyện kỹ năng đi trong đường hẹp cho trẻ
3.Giáo dục:
- Giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh và giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ .
II/ CHUẨN BỊ:
+ Đồ dùng của cô:
- 2 quả cam,2 quả xoài, 2 quả chuối thật và 9 đĩa nhỏ cam, xoài, chuối đã cắt sẵn, dĩa
cho trẻ nếm thử
- Dao để gọt quả, 3 đĩa nhỏ để đựng quả
- Ảnh quả cam, xoài, chuối, dưa hấu, dứa, đu đủ trong vi tính.
- Đoạn băng về câu chuyện của quả
- 1 túi nhỏ đựng quả xoài
- Đàn.
+Đồ dùng của trẻ :
- Rổ quả nhựa cho trẻ chơi
- 3 làn quả( trong có quả cam, xoài, chuối và 3 đĩa cho trẻ đặt quả lên), 3 hộp giấy để
Trẻ nghe cô kể