Chuyên đề :
Một số biện pháp nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh
học tập bộ môn Ngữ văn 6
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã và đang được
đề cập và bình luận sôi nổi. Điều đổi mới quan trọng nhất là trong giờ học, học sinh đóng vai
trò chủ động, giáo viên đóng vai trò chủ đạo, có nghĩa là học sinh phải chủ động, tích cực
sáng tạo để tự tìm kiếm và nắm bắt kiến thức; giáo viên là người giúp đơ, hướng dẫn, gợi mở
cho học sinh. Để đạt được mục đích hoạt động đổi mới của phương pháp dạy học môn Ngữ
văn, bản thân người giáo viên phải tự tìm tòi phương pháp thích hợp nhằm gây hứng thú cho
học sinh.
Vậy làm thế nào để học sinh say mê, hứng thú trong giờ học Ngữ văn ?
Làm thế nào để phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học Ngữ
văn ?
Thực hiện được vấn đề này quả không đơn giản, nó đòi hỏi mỗi giáo viên dạy văn
phải mất nhiều thời gian và công sức tìm tòi sáng tạo cho mỗi giờ lên lớp. Xuất phát từ thực
tế trên nên tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh học tập
bộ môn Ngữ văn 6”
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Cơ sở pháp lí:
Môn Ngữ văn trong trường THCS có vai trò rất quan trọng bỡi môn học này hướng
đến các nhiệm vụ chủ yếu sau :
- Giúp người học biết đọc, biết viết.
- Giúp người đọc thấy được cái hay, cái đẹp và biết thưởng thức cái hay cái đẹp của
văn chương nghệ thuật. Từ đó mở mang tri thức, hình thành nhân cách của học sinh. Hơn thế
nữa môn học này còn giúp cho các em sự hiểu biết phong phú về mọi mặt của cuộc sống con
người, xã hội và đất nước. Bồi dưỡng cho các em một cuộc sống tâm hồn tươi đẹp, phong
phú, rộng mở. Từ đó khơi dậy niềm tự hào về đất nước, dân tộc mình và tình yêu cuộc sống.
2. Cơ sở lí luận :
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng thú cho học sinh
trong giờ dạy ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của nhà trường nói chung và của từng
dạy bộ môn quan tâm.
III. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng của đề tài nghiên cứu :
Môn Ngữ văn có vị trí rất quan trọng. môn học này không chỉ là phương tiện nhận
thức mà còn là đối tượng thẩm mỹ, đồng thời là một cơ sở để hiểu biết về lịch sử, văn hóa.
xã hội, lại vừa là một công cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh phát triển toàn diện và cân đối.
Văn chương là phương tiện cơ bản để con người đi đến thành công trong cuộc sống,
thành công trong các lĩnh vực khoa học. Vì đó là môn học để am hiểu, trình bày những kiến
thức khoa học, giúp người học nâng cao cảm xúc thẩm mỹ, hướng đến lẽ sống cao đẹp.
Thông qua những hình tượng văn học sẽ giúp ta yêu cái thiện, ghét cái ác,trân trọng
cái cao cả, khinh bỉ cái thấp hèn.
Môn học có vị trí quan trọng như vậy nhưng những năm gần đây số lượng học sinh
giỏi ít dần, thậm chí những em có năng khiếu được giáo viên giảng dạy bộ môn chọn vào đội
tuyển học sinh giỏi thì từ chối với lí do” đã đăng kí vào đội tuyển các môn khoa học tự
nhiên rồi”
Mặc dù giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ( theo
tinh thần chỉ đạo chung ) theo hướng làm tăng tính tích cực của người học. Nhưng thực tế từ
ngày thay sách giáo khoa đến nay, việc thực hiện theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy
học vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Trong từng tiết học, học sinh còn thụ động nhiều, chỉ ngồi
nghe, chép là chính, không khí giờ học văn trôi qua nặng nề , nhàm chán.
2. Nguyên nhân của thực trạng:
- Một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài giờ học các em còn phải tham gia
cùng gia đình vào việc kiếm sống nên thời gian học tập, nghiên cứu, đầu tư còn hạn chế. Ý
thức vượt khó trong học tập của các em chưa cao .
- Một số gia đình lại có ý hướng con em vào các môn học “thời thượng” như Toán,
Lí, Hóa… để sau này các em có thể đi vào các ngành nghề có thể kiếm được nhiều tiền. Vì
vậy một số em có ý thức xem nhẹ bộ môn, không đi sâu vào học tập, nghiên cứu hoặc học
lấy lệ.
- Nhiều giáo viên còn gặp khó khăn khi chương trình sách giáo khoa mới ra đời với
yêu cầu truyền đạt khối lượng khổng lồ của tri thức nhưng số lượng thời gian thực học của
cho các em. Bỡi đây là khâu quan trọng giúp học sinh chủ động tìm kiến thức, phát huy
được khả năng tư duy và tự học cao của học sinh.
Trước mỗi giờ học giáo viên cần tranh thủ kiểm tra vở soạn bài của học sinh, có nhận
xét, đánh giá cụ thể. Giáo viên cần hạn chế kiểm tra qua lớp phó học tập, qua tổ trưởng.
b. Tiến hành bài giảng mới trên lớp:
* Lời dẫn vào bài mới:
Lời vào bài mới đến nay vẫn chưa có được những qui định thống nhất, vì có sự nhận
thức khác nhau về ý nghĩa, vị trí, tác dụng, nội dung của công việc này. Song cách vào bài
của giáo viên trong thực tiễn giảng dạy cũng rất đa dạng và linh hoạt. Có người dùng cách
chuyển tiếp bài cũ sang bài mới, có người mở đầu bằng lời giới thiệu của tác giả, tác phẩm,
giới thiệu từ việc kiểm tra bài cũ … Để cho bước vào bài thật sự có kết quả vững chắc, giáo
viên cần phải chuẩn bị cho lời vào bài thật công phu, nhằm để lại những ấn tượng sâu sắc
trong học sinh ngay từ đầu bài học. Lời vào bài hấp dẫn là khâu khơi gợi tâm lí, tạo ngay
một tâm thế hứng thú tìm hiểu bài mới của học sinh.
Ví dụ : khi dạy bài “Động Phong Nha” ( Ngữ văn 6 )
Giáo viên có thể đặt câu hỏi để dẫn vào bài : đến nay Việt Nam có rất nhiều Di sản
văn hóa, danh lam thắng cảnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Em nào
có thể giới thiệu cho cả lớp biết các di sản đó ?
Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt dẫn vào bài mới : các di sản văn hóa thế giới
của Việt Nam gồm: Vịnh Hạ Long, cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, nhã nhạc
cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên và cả quần thể rừng quốc gia Phong Nha Kẽ Bàng.
Nói đến di sản Phong Nha Kẽ Bàng không thể không nói đến động Phong Nha. Để biết tại
sao động Phong Nha lại được là di sản văn hóa thế giới, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong tiết
học này qua văn bản “ Động Phong Nha” của tác giả Trần Hoàn.
* Hệ thống câu hỏi :
Giáo viên phải xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát
với đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố
kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi. Giáo viên cũng cần dự kiến các phương án trả lời của học
sinh để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các
câu hỏi phụ tránh đơn diệu nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của học sinh và
Từ việc làm này giáo viên giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo, rất riêng của
chợ Năm Căn hợp nổi trên mặt nước.
Dạy bài “ Từ và cấu tạo từ Tiếng việt ” Ngữ văn 6
Giáo viên dùng giấy cắt thành các cánh hoa, trên các cánh hoa giáo viên ghi các từ :
Lấp lánh, máu mủ, rơi rớt, bồng bềnh, đo đỏ, nhè nhẹ, lanh canh, chùa chiền, xinh xinh …
- Khi thực hiện bài tập, giáo viên đặt một nhụy hoa lên khoảng trống của bảng ( nhụy
có ghi sẵn “ Từ láy” ) học sinh sẽ thi ráp thành các bông hoa có mỗi cánh là một từ láy ( giáo
viên quy định thời gian )
- Trong khi hai đội thi, cả lớp cổ vũ bằng những tràng pháo tay.
- Hết giờ qui định đội nào nhiều hoa hơn, đúng thì sẽ thắng.
Qua bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra những chú ý phân biệt giữa từ láy và từ
ghép.
nhè bồng lấp
nhẹ bềnh lánh
từ
xinh láy đo
xinh đỏ
lanh
canh
* Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm:
Đặc trưng của phương pháp thảo luận nhóm là cho học sinh được hội thoại tự do theo
nhóm của mình, học sinh có cơ hội trình bày ý kiến, suy nghĩ của mình và được nghe ý kiến
của bạn. Mọi ý kiến đều được trân trọng bao gồm cả những kinh nghiệm mà các em có
được. Ở phương pháp này học sinh cũng có cơ hội sử dụng các kĩ năng nhận biết bậc cao
như đánh giá và tổng hợp. Khi tổ chức cho các em thảo luận, hoạt động theo nhóm sẽ tạo
không khí thi đua, sôi nổi, toải mái cho giờ học. Ngoài ra nó còn khơi dậy sự gắn bó của tập
thể, tạo sự hứng thú, tạo cơ hội cho các em học hỏi. Những học sinh nhút nhát thường ít phát
biểu trong lớp, sẽ có môi trường tốt để động viên tham gia xây dựng bài. Ở hoạt động này
các lỗi sai đều được giải đáp, học sinh tự sửa lỗi và dạy lẫn nhau trong bầu không khí rất
thoải mái và sôi nổi. Học sinh có thể cùng nhau đạt được những điều mà các em không thể
- Đề nghị Phòng giáo dục thành phố hoặc nhà trường đầu tư thêm băng hình, tư liệu, tranh
ảnh để phục vụ trong quá trình giảng dạy.