SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ
ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH LỚP 3 TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Khi xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng
cao.Vai trò của giáo dục & đào tạo nói chung và đào tạo Bậc tiểu nói riêng có
một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho đất
nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã gia nhập WTO và phấn
đấu trở thành đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện chỉ thị 06 -
CT/TW của Bộ chính trị về thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”; chỉ thị 33/2006/CT-TTG của Thủ tướng Chính
phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục thông qua
cuộc vận động “Hai không” của ngành, thực hiện cuộc vận động “ Mỗi thầy cô
giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”.
Tôi nhận thức được rằng : Bậc tiểu học là bậc học nền tảng mang tính hội
tụ toàn diện ở cả 9 môn học. Tiếng việt chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và
chiếm thời lượng nhiều nhất trong trường Tiểu học hiện nay. Học sinh sau khi
hoàn thành chương trình bậc Tiểu học phải đạt được bốn kĩ năng: Nghe, nói,
đọc, viết. Mỗi môn học giúp các em nẵm vững kiến thức, đặt nền tảng vững
chắc để các em tiếp tục học lên bậc học mới. Làm hành trang cho các em vững
2. Mục tiêu nhiệm vụ đề tài:
Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm “Phát huy tính tích cực, chủ động và
sáng tạo cho học sinh Lớp 3 trong phân môn Tập làm văn” đó là giúp giáo
viên có được những kinh nghiệm, biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích
cực, sáng tạo, chủ động trong học tập và rèn kỹ năng diễn đạt theo suy nghĩ của
mình thành ngôn ngữ văn bản. Đồng thời cũng làm nền tảng cho các em nói và
viết theo hiểu biết của chính mình để hỗ trợ trong việc học tập, góp phần đưa
chất lượng “ Dạy - Học ” đạt hiệu quả tốt hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh Lớp 3A4 năm học: 2010 – 2011
- Học sinh Lớp 3A2 năm học: 2011 – 2012 Trường TH Nguyễn Viết Xuân
- Học sinh Lớp 3A2 năm học: 2012 – 2013
4. Phạm vi nghiên cứu:
Do điều kiện và đặc thù của trường, tôi chỉ áp dụng nghiên cứu học sinh ở
lớp 3, cụ thể trong phân môn tập làm văn với nội dung: Phát huy tính tích cực,
chủ động và sáng tạo cho học sinh Lớp 3.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nắm bắt, khảo sát từng cá nhân học sinh về chất lượng dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu liên quan đến phân môn tập làm
văn.
- Phương pháp phối hợp quan sát và cùng phối hợp kiểm tra đối chứng.
- Phương pháp lập kế hoạch với nội dung cụ thể cho từng tiết dạy.
- Phương pháp thực hành dạy trên lớp.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lý luận:
Dạy cho học sinh học tiếng việt chính là dạy học tiếng mẹ đẻ. Khi các học
sinh được đi học lớp mở lòng chính là học sinh đã tiếp cận môn tiếng việt. Vì
dung chương trình đến phương pháp dạy học.
- Cơ sở vật chất ở các lớp tương đối đầy đủ tiện nghi, bàn ghế, phòng học.
- Đời sống của phụ huynh học sinh tương đối ổn định, nền kinh tế vững chắc
nên phụ huynh rất quan tâm tạo mọi điều kiện tốt đến việc học của con em
mình.
- 100 % các Lớp học 2 buổi / ngày.
b. Khó khăn:
Mặc dù, với những thành quả đã được ghi nhận trong nền giáo dục hóa nói
chung, giáo dục xã nhà nói riêng. Nhìn lại những chặng đường thành công ấy,
chúng ta vẫn gặp không ít những khó khăn về công tác giáo dục cũng như:
- Hình thức, phương pháp dạy học theo hướng đổi mới làm cho nhiều giáo viên
lúng túng trong quá trình lên lớp, nhiều giáo viên phụ thuộc, rập khuôn theo
sách giáo khoa, hay áp đặt học sinh,…
- Phần cơ sở vật chất về bàn ghế tuy đủ nhưng chưa đúng theo quy định bàn
chuẩn của Bộ GD & ĐT đưa ra giành cho học sinh tiểu học.
- Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em tiếp thu nhanh nhưng cũng nhanh
quên, mức độ tập trung học tập chưa cao.
- Kiến thức về cuộc sống đối với các em còn hạn chế, vốn từ vựng chưa nhiều.
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc,
chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối văn của riêng mình.
- Nhiều học sinh thiếu sự quan tâm của một số gia đình, nhiều phụ huynh chưa
thực sự quan tâm đến việc học của các em mà tất cả là phó mặc cho giáo viên.
Dẫn đến các em không hứng thú khi học phân môn này.
*Thành công và hạn chế:
Năm học nào cũng vậy, hầu như các khối lớp ở tiểu học đều có học sinh
đạt tỉ lệ khá giỏi rất nhiều. Tỷ lệ học sinh trung bình, học sinh yếu chiếm một
phần ít. Song vốn ngôn ngữ để hình thành một đoạn văn theo yêu cầu ở lớp 3
trong phân môn Tập làm văn còn gặp nhiều khó khăn đối với học sinh. Bên
cạnh đó, một số giáo viên chưa nhận thức tầm quan trọng của phân dẫn đến quy
Năm học
2010- 2011
3a5/ 30em
Năm học
2011- 2012
3a2/ 30em
Năm học
2012- 2013
3a2/ 31em
( HK I )
- Viết đúng câu, dùng từ hợp lý 8 / 30 em 9 / 30 em 12 / 31 em
- Nói và viết thành câu 9 / 30 em 11 / 30 em 10 / 31 em
- Dùng từ ngữ, câu văn có hình ảnh 8 / 30 em 9 / 30 em 14 / 31 em
- Viết và trình bày đoạn văn 8 / 30 em 9 / 30 em 12 / 31 em
- Bài viết đạt từ trung bình trở lên 10 / 30 em 12 / 30 em 14 / 31 em
+ Phần cơ sở vật chất : Đồ dùng dạy học và thiết bị dạy học như : Tranh ảnh
minh họa, máy chiếu, video,… còn hạn chế.
+ Đối với giáo viên: Chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học. Một số
giáo viên coi nhẹ tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn.
+ Đối với Học sinh : Trình độ học sinh không đồng đều, ý thức học tập chưa
cao.
+ Đối với phụ huynh học sinh : Phần thì phụ huynh học sinh chưa thật sự quan
tâm đến việc học của con em mình do điều kiện kinh tế còn nghèo khó nên ít có
thời gian quan tâm thực tế, chuẩn bị đồ dùng học tập cho con em mình.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng đã đề ra:
Nhìn nhận thực tế phân môn tập làm văn có phần quan trọng đặc biệt như
ở lớp 2 các em bắt đầu được làm quen và hình thành một đoạn văn ngắn ( từ 3
đến 5 câu ) theo hình thức quan sát tranh, nghe và trả lời câu hỏi. Khi các em
bước sang lớp 3, kỹ năng phát triển cao hơn như: nghe, quan sát , luyện nói,
đạt câu văn qua lời nói và chuyển ý thành văn bản, quan sát hình ảnh, vốn từ
vựng chưa nhiều, hiểu biết thực tế còn ít, …vì vậy chất lượng bài viết của các
em chưa cao, ý văn nghèo nàn, câu văn lủng củng. Kết quả này, ta thấy rằng
những nguyên nhân, các yếu tố tác động khách quan cũng thể hiện phương pháp
giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được tính tích cực, mạnh dạn và sáng tạo
của học sinh trong giờ học.
* Bước 2: Thu thập thông tin
+ Trực tiếp trao đổi giữa giáo viên chủ nhiệm cũ để nắm bắt phân loại học sinh.
+ Nghiên cứu hồ sơ học bạ để nắm bắt những hạn chế của từng học sinh năm
trong năm học trước để trong quá trình áp dụng biện pháp đạt hiệu quả cao hơn.
+ Cùng phối hợp trao đổi với phụ huynh học sinh để thấy được mức độ quan
tâm của phụ huynh về việc học tập của con em mình ở nhà như thế nào ? Cách
quản lí con và giáo dục ra sao ? Từ đó có sự tư vấn, phối hợp giữa giáo viên và
phụ huynh trong việc giáo dục đạo đức, ý thức học tập cho học sinh ở nhà cũng
như ở trường.
Từ những nguyên nhân tìm hiểu trên, Tôi có thể khẳng định rằng: Những
nguyên nhân chính dẫn đến học sinh chưa thực sự phát huy được tính tích cực,
chủ động và sáng tạo trong phân môn Tập làm văn đó là:
+ Hoàn cảnh gia đình, lối sống và sinh hoạt trong gia đình đã ảnh hưởng trực
tiếp với các em về ngôn ngữ giao tiếp.
+ Vốn ngôn ngữ của học sinh còn hạn chế.
+ Học sinh thì chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập của bản thân như: lười
học, ham chơi, không chăm chỉ, siêng năng, học trước quên sau, học đối phó,…
Từ những nguyên nhân trên đã thúc dục tôi tìm những giải pháp, biện pháp
để tạo cho học sinh có hưng phấn và tíc cực phát huy tính mạnh dạn học tập
trong phân môn Tập làm văn.
II. 3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu:
Chương trình và sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3 nói chung và phân môn Tập
mạnh dạn chủ động của từng HS trọng phạm vi hẹp đến rộng.
- Tổ chức báo cáo trước lớp theo nhiều hình thức khác nhau.
- Trao đổi, đóng góp bổ sung, hoàn thiện yêu cầu bài.
+ Bài tập tư duy: Hệ thống lại kiến thức, HS sắp xếp theo trình tự yêu cầu bài.
+ Bài tập viết: - HS đọc yêu cầu, trình bày yêu cầu theo hình thức cá nhân.
- GV giảng giải rõ yêu cầu bài tập.
- HS thực hành cá nhân.
- Trình bày, kiểm tra, đánh giá và nhận xét.
Để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh Lớp 3, Tôi đã
mạnh áp dụng các nhóm giải pháp bổ trợ trong công tác giảng dạy như:
c. Điều kiện nội dung giải pháp:
- Được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của BGH, Tổ chuyên môn cũng như
các đồng chí đồng nghiệp trong trường nói chung và chị em trong tổ khối 3 nói
riêng. Sự hợp tác nhiệt tình của học sinh và phụ huynh trong khối nhất ở lớp tôi
trực tiếp giảng dạy đã giúp tôi hoàn tất những ý tưởng của cá nhân và đạt những
thành quả đáng kể.
- Nội dung giải pháp chung:
+ Nhóm giải pháp 1. Nâng cao nhận thức của giáo viên:
Vào đầu năm học, Ban giám hiệu nhà trường cần kết hợp tổ chức những
buổi sinh hoạt chuyên đề nhằm giúp giáo viên nhận thức những mục tiêu giáo
dục trong việc dạy học nói chung, mục tiêu dạy học phân môn Tập làm văn lớp
3 nói riêng. Chỉ đạo tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp trường, qua những
buổi sinh hoạt chuyên môn, tổ khối giúp cho giáo viên học tập, thảo luận về
mục tiêu dạy học ở các phân môn nói chung và phân môn Tập làm văn nói
riêng.
Mỗi GV cần phải tự học và nâng cao tay nghề, nâng cao nhận thức về mục
tiêu môn học, đối chiếu, so sánh thực tiễn về trình độ nhận thức học sinh địa
phương trong việc thực hiện mục tiêu môn học. Tham khảo nghiên cứu các văn
bản, tài liệu liên quan đến mục tiêu dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 như: (
học sinh tự quan sát thực hành. Về thiết bị dạy học công nghệ hóa như: Máy
chiếu, băng hình, nên tôi thấy rằng việc đổi mới phương pháp có nhiều hiệu
quả thiết thực.
- Dạy học theo hướng tích cực hóa : Mục đích đổi mới phương pháp dạy học
ở các trường Tiểu học là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang dạy theo “
Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn thói quen khả năng tự học, tinh thần
hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống trong học tập và trong
thực tiễn, tạo niềm tin, hứng thú trong học tập. Học sinh tìm tòi khám phá, phát
hiện, khai thác và xử lý thông tin…hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
đạo đức. Tổ chức quá trình nhận thức cho học sinh là giúp học sinh cách phát
hiện và tìm ra kiến thức mới, chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng
tạo, hợp tác,…) Được như vậy các em nhớ lâu về kiến thức mà mình đã lĩnh hội
được.
- Phối hợp và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm pháp huy tính tích
cực của học sinh như:
- Phương pháp quan sát hỏi đáp, đàm thoại.
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp thực hành giao tiếp.
- Phương pháp phân tích đề bài bằng ngôn ngữ nói, viết.
- Phương pháp hợp tác trong nhóm.
- Phương pháp tự tìm hiểu, khám phá về tranh ảnh, các câu hỏi gợi
mở.
- Phương pháp tưởng tượng, liên kết.
- Phương pháp tích cực chủ động sáng tạo của người học.
d. Thực hiện các giải pháp, biện pháp cụ thể:
Nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong
học tập, rèn khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào
các tình huống trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, hứng thú trong học
- Lập kế hoạch cho hình thức dạy học, GV chọn hình thức dạy học phù hợp
nhằm lôi cuốn HS vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động và sáng tạo.
Tạo cho học sinh không khí thoải mái, mạnh dạn tự tin khi thảo luận, đàm thoại
một cách tự nhiên đúng chủ điểm trọng tâm của bài học.Từ đó rèn cho học sinh
khả năng diễn đạt những ý kiến theo lối suy nghĩ, cảm xúc của mình, thể hiện
thái độ yêu ghét, trân trọng , thẳn thắn phê phán… Thực hiện được những biện
pháp trên là giáo viên đã thành công một
phần trong phương pháp đổi mới dạy học. Học sinh trở nên mạnh dạn tự tin và
có nhiều hứng thú trong học tập.
Hai là: Sử dụng tranh ảnh và dụng cụ học tập trong tiết dạy :
Tranh ảnh và đồ dùng dạy học rất quan trọng không thể thiếu được trong
việc dạy học nhất là ở phân môn tập làm văn. Càng có tranh ảnh, đồ dùng thì
càng tạo nên sự tích cực của học sinh trong tiết học. Chính vì vậy, mỗi tiết học,
giáo viên cần chuẩn bị đầy đuur đồ dùng, năm được mục tiêu của từng bức
tranh, cách sử dụng đồ dùng,…
Khi dạy Tập làm văn ở lớp 3, Có những tiết cần tranh ảnh để hình thành nội
dung bài như : Tuần 3 và tuần 5 học sinh được kể về gia đình minh và gia đình
bạn.
Sự chuẩn bị của các em cần có tranh hoặc hình ảnh minh họa để kể cho bạn
nghe về gia đình mình. Đồng Thời có thể cho các em quan sát một số bức tranh,
hình ảnh có thật liên quan đến bài dạy để các em có thêm vốn sống tạo cho bài
văn thêm sinh động
Tuần 4. Hãy Kể về gia đình em với một người ban mới quen.
Ở bài tập này mỗi em đều có sự chuẩn bị một bức tranh hoặc hình ảnh về
gia đình mình để kể trước lớp. Khi thực nghiệm ở bài tập này, lúc đầu các em
còn rụt rè, ngại ngùng khi đưa hình hoặc tranh ảnh về gia đình mình cho các
bạn trong lớp quan sát và
thảo luận. Từ những câu hỏi gợi ý như :
- Gia đình em gồm có những ai ?
Quy trình thực hiện trên lớp:
+ HS giới thiệu về tranh ảnh của mình và cho biết bức tranh đó là cảnh đẹp ở
đâu?
+ Học sinh quan sát tổng thể về từng bức tranh của bạn đã sưu tầm được, Mỗi
học sinh nói về bức tranh là cảnh đẹp ở đâu ? Tranh vẽ những gì ? …
+ GV hướng dẫn học sinh làm và trả lời từng câu hỏi theo hình thức Hỏi - Đáp.
Gợi ý cho học sinh trả lời bằng nhiều ý kiến khác nhau.
+ Nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng, câu văn còn lặp lại từ, lủng
củng,…Từ đó cung cấp và gợi ý cho các em có thể chọn từ đồng nghĩa thay thế
cho từ cũ, có thể hướng dẫn mẫu các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc so sánh
để bài văn sinh động hơn. Bên cạnh đó, khuyến khích những học sinh khá, giỏi
vận dụng, thực hiện trong đoạn văn.
+ Hướng dẫn sắp xếp các câu trả lời đó theo một trật tự hợp lý để hoàn chỉnh
bài làm miệng.
+ Cho một số học sinh làm miệng cả bài. Sau đó hướng dẫn học sinh viết liền
mạch các câu trả lời thành một đoạn văn.
+ Giới thiệu những bài văn hay của học sinh ở năm học trước nhằm kích thích
tinh thần học tập của học sinh.
Từ các bước thực hiện trên, đã giúp các em biết cách quan sat, trả lời câu
hỏi, và biết hình thành một đoạn văn ngắn theo đúng logich của đoạn văn hay.
Ba là: Lồng ghép các phương pháp dạy học ở nhiều phân môn:
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Muốn học sinh chủ động
trong học tập, GV không dạy học theo lối rập khuôn mà cần người GV phải linh
động trong tiết dạy, tạo không khí lành mạnh trong lớp, cần phải sử dụng các
phương pháp đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, đàm thoại và
thảo luận, cùng phối hợp nhịp nhàng tạo không khí hứng thú, kích thích trí tò
mò của học sinh. Chính vì vậy, khi dạy phân môn này, người giáo viên cần lồng
ghép giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc, kể chuyện, Chính
tả, luyện từ và câu, tập viết để giảng dạy và tạo đà cho học sinh học tập tốt phân
- GV là người chỉnh sữa câu, từ, bố cục của đoạn văn.
- Đánh giá và động viên kịp thời.
Bài 2: Viết những điều em vừa kể thành đoạn văn ngắn ( từ 5 đến 7 câu ).
- Học sinh phải biết viết những điều em vừa kể thành đoạn văn với câu văn
đúng, hay, biết sử dụng hình ảnh, từ ngữ phù hợp.
Bài viết của học sinh: Nguyễn Văn Hiếu - lớp 3a5 – Năm học 2010- 2011
đã đạt kết quả cao:
Bài viết : Giới thiệu về gia đình em với một bạn mới quen.
Học sinh : Lê Thị Trà My – Lớp 3a2 - Năm học: 2011 – 2012
Vậy trong một tiết học, học sinh vừa luyện kể (luyện nói), vừa luyện viết
đoạn văn, học sinh tự tìm ra câu trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông tin và
phân tích dữ liệu. Nên giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt các hình thức
dạy học trong dạy Tập làm văn để đạt hiệu quả cao.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Sau một năm tiếp theo, tôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp trên vào quá
trình giảng dạy, tôi thấy học sinh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hiệu
quả giờ dạy được nâng lên rõ rệt. Học sinh chủ động hứng thú học tập, hoạt
động tích cực hơn, mạnh dạn, tự tin hơn trong giờ học. Kết quả học tập phân
môn tập làm văn của lớp tôi có tiến bộ trong từng học kỳ như :
Năm h
ọc
Không tích
cực, hứng
thú, say mê
sáng tạo học
môn TLV
2010- 2011
LỚP 3a5
30
8 em
22 em
26 em
4 em
2011- 2012
LỚP 3a2
30
9 em
21 em
27 em
3 em
2012- 2013
trong lớp sẽ được cải thiện.
III. Phần kết luận, kiến nghị:
1.Kết luận:
Qua việc thực hiện nội dung nghiên cứu trên, cho chúng ta thấy được việc
Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh Lớp 3 trong phân
môn Tập làm văn đó là một việc đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm cần phải
N
ội dung khảo sát
So sánh s
ố học sinh
Chưa thực nghiệm và thực nghiệm.
Năm học
2010- 2011
3a5 / 30em
Năm học
2011- 2012
3a2 / 30em
Năm học
2012- 2013
3a2 / 31em
( KQ HK I )
CTN
ết th
ành câu
9
26
11
25
10
27
-
Dùng t
ừ ngữ, câu văn có h
ình
ảnh
8
25
9
27
ên
10
26
12
26
14
27sáng tạo và linh hoạt trong các tiết dạy. Để có được kết quả trên, Người giáo
viên đã biết áp dụng nhiều phương pháp dạy học một cách linh hoạt và khéo
léo. Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Vì
vậy, trong dạy học, mỗi giáo viên phải linh hoạt phối hợp các phương pháp dạy
học và các hình thức tổ chức sao cho nhịp nhàng, lô-gic để tiết dạy theo phong
phú, tự nhiên, sinh động và đem lại niềm vui cho các em trong việc học tập.
Tôi nghĩ những biện pháp nêu trên có thể áp dụng rộng rãi ở các lớp đó là
những yếu tố không thể thiếu được để nâng cao chất lượng dạy học. Tôi mong
rằng kinh nghiệm này sẽ được nhân rộng ra ở các khối lớp ở bậc tiểu học nói
chung và đặc biệt là ở lớp 2,3 nói riêng để tạo cho các em có một hành trang
đầy tự tin khi học phân môn này. Là GV ở bậc tiểu học. Tôi nghĩ rằng, người
GV cần phải : Tăng cường sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học, đổi mới
cách đánh giá, kiểm tra. Bên cạnh đó người giáo viên phải có lòng nhiệt
tình,tâm huyết trong việc giảng dạy.
- Dành thời gian để nghiên cứu bài, lập kế hoạch bài dạy, dự kiến trước những