SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIAO TIẾP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN - LỚP 3
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Kĩ năng sống được lồng ghép trong chương trình tiểu học đã lâu và hiện nay đã
được đưa vào chương trình học nhằm cung cấp cho các em các kĩ năng cơ bản cần
thiết trong học tập cũng như trong sinh hoạt cuộc sống hàng ngày. Trong các kĩ năng
mà các em được học tập và rèn luyện thì kĩ năng giao tiếp là một kĩ năng vô cùng
quan trọng và cần thiết, nó giúp con người thích nghi với mọi hoạt động. Giao tiếp là
một quá trình hoạt động trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lí, hiểu biết lẫn nhau, tác động
và ảnh hưởng lẫn nhau và thường xuyên diễn ra trong cuộc sống. Tuy nhiên, kĩ năng
giao tiếp của mỗi con người không phải do di truyền hay bẩm sinh mà có mà nó được
hình thành, rèn luyện và phát triển trong thực tiễn cuộc sống của con người. Do đó,
muốn nâng cao chất lượng học tập của các em thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải tích
cực rèn luyện và phát triển kĩ năng cần thiết này cho các em. Mọi hoạt động dạy –
học, sinh hoạt trong nhà trường đều được thực hiện thông qua giao tiếp hằng ngày qua
các mối quan hệ giữa học sinh – học sinh; giữa thầy cô – học sinh…. đây là nhu cầu
tất yếu để các em thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện một cách có hiệu quả. Thông
qua giao tiếp hằng ngày các em trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, kinh nghiệm xử
lý tình huống… để biến chúng thành các kĩ năng của bản thân từ đó giúp các em dần
dần hình thành và phát triển nhân cách của mình. Với việc thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển của xã hội, tạo ra những con người thế hệ mới, năng động, sáng tạo, làm chủ
sự tiến bộ của khoa học – kỉ thuật, sự phát triển của thế giới. Giáo dục đang từng bước
đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương tiện và phương pháp dạy học, trong đó đang
chú trọng đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo bước đột phá giúp các em phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen, kĩ năng học tập đi đôi
với thực hành. Đối với bậc tiểu học, bậc học nền tảng, đòi hỏi bước đầu các em dần
trong quá trình học. Do đó chưa nâng cao kĩ năng giao tiếp, ứng xử cho học sinh, từ
đó chưa nâng cao được chất lượng học tập của các em.
Trong quá trình tổ chức bài học giáo viên đã cơ bản chú ý đến việc tổ chức cho
học sinh thảo luận nhóm để trình bày bài làm, đưa đến nội dung của bài học. Tuy
nhiên một số giáo viên chưa chú trọng và chưa tổ chức cho các em thảo luận nhóm
đúng quy trình nên kết quả thảo luận của nhóm chưa được như ý muốn. Những học
sinh khá giỏi thường làm thay hoặc giải quyết vấn đề còn các em học sinh yếu chưa
thực sự xây dựng được nội dung bài, nhiều lúc còn làm việc riêng hoặc ỉ lại các bạn
khác trong nhóm.
Giáo viên chưa chủ động hoặc chưa động viên kịp thời, chưa tạo được không khí
sôi nổi cho học sinh; do đó chưa khuyến khích các em tự tin trình bày ý kiến trước tập
thể.
Ngoài ra, trong các giờ học nói chung và giờ học tập làm văn nói riêng giáo viên
chưa tạo ra được các tình huống học tập để kích thích nhu cầu giao tiếp của học sinh;
chưa thường xuyên hướng dẫn, định hướng hoạt động giao tiếp cho các em như: nói
nội dung gì?, viết cái gì? Nói thế nào? ….; chưa tạo được cách sử dụng ngôn ngữ phù
hợp để trình bày vấn đề trong học tập.
2
2.2. Về phía học sinh:
Ở học sinh lớp 3, bước đầu các em mới làm quen với các kĩ năng phục vụ bản
thân. Do đó, khả năng giao tiếp ở các em chưa được rèn luyện nhiều, khả năng tư duy,
khái quát còn yếu nên khi diễn đạt một vấn đề nào đó các em còn lúng túng, gặp khó
khăn khi trình bày, ngôn ngữ còn vụng về, kĩ năng nói, diễn đạt còn yếu, lủng củng,
trình bày chưa lưu loát, nhiều khi ngôn ngữ trình bày “ viết như nói”, nghĩ sao nói vậy,
rất chân thật…
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đa số còn thiếu tự tin trong
giao tiếp, còn rụt rè, nhút nhát, chưa tin vào khả năng của bản thân nên khả năng trình
bày còn hạn chế do đó kết quả học tập chưa được như mong muốn.
phát biểu xây dựng
bài
Số lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
15
26,78%
21
37,50%
20
35,72%
Đây cũng là một thực tế khiến giáo viên chúng tôi luôn băn khoăn, trăn trở về khả
năng giao tiếp và học tập của học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh toàn trường nói
4
Chủ điểm
Măng non
Măng non
Mái ấm
Mái ấm
Nội dung bài học
Nói về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Điền vào giấy tờ in sẵn
Viết đơn
Kể về gia đình
Điền vào giấy tờ in sẵn
Nghe – kể: Dại gì mà đổi
Điền vào giấy tờ in sẵn
5
Tới trường
Tập tổ chức cuộc họp
6
Tới trường
Kể lại buổi đầu em đi học
7
Nói, viết về cảnh đẹp đất nước
13
Bắc – Trung – Nam
Viết thư
14
Anh em một nhà
Nghe – kể: Tôi cũng như bác
Giới thiệu hoạt động
4
15
Nghe – kể: Giấu cày
Anh em một nhà
Giới thiệu về tổ em
16
Thành thị và nông Nghe – kể: Kéo cây lúa lên
thôn
Nói về thành thị, nông thôn
22
Sáng tạo
Nói, viết về một người lao động trí óc
23
Nghệ thuật
Kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật
24
Nghệ thuật
Nghe – kể: Người bán quạt may mắn
25
Lễ hội
Kể về lễ hội
26
Lễ hội
Kể về một ngày hội
32
Ngôi nhà chung
Nói, viết về bảo vệ môi trường
33
Bầu trời và mặt đất
Ghi chép sổ tay
34
35
Nghe – kể: Vươn tới các vì sao
Bầu trời và mặt đất
Ghi chép sổ tay
Ôn tập cuối học kỳ II
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Muốn rèn luyện và nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh trong quá trình lên
lớp nói chung và khi dạy Tập làm văn lớp 3 nói riêng, đòi hỏi mỗi giáo viên phải kiên
trì, bền bỉ vì đây là công việc đòi hỏi phải có thời gian, phải làm thường xuyên và
trong quá trình làm còn gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục hạn chế đó tôi đã tiến hành
một số biện pháp sau:
1. Tạo không khí thoải mái; tạo tình huống kích thích học sinh giao tiếp:
- Ai dẫn em tới trường ?
- Lúc đó em cảm thấy thế nào ? (hồi hộp, bỡ ngỡ ra sao ?)
- Kết thúc buổi học đó thế nào ?
- Em có kỉ niệm gì sâu sắc cho buổi đầu đi học không ?
Dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên, học sinh thảo luận và trình bày theo
nhóm, lớp nhận xét và bổ sung các ý kiến. Dựa vào hệ thống câu hỏi trên học sinh
trình bày được vấn đề một cách dễ dàng hơn. Thông qua việc trình bày ý kiến đó, giáo
viên khuyến khích, động viên các em từ đó học sinh dần tự tin vào khả năng của bản
thân và quen dần với việc trình bày trước tập thể.
6
2. Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt để tạo ra lời nói, viết
hoàn chỉnh trong giao tiếp:
Ngôn ngữ là phương tiện không thể thiếu trong giao tiếp hằng ngày. Do đó, việc
rèn luyện học sinh sử dụng lời nói, chữ viết cho tốt là vấn đề tôi luôn quan tâm và
dành nhiều thời gian để rèn luyện cho học sinh. Tùy theo năng lực và vốn từ của mỗi
học sinh mà tôi tạo cơ hội cho các em được thể hiện khả năng diễn đạt của mình.
Với những học sinh còn rụt rè, nhút nhát, khả năng giao tiếp còn hạn chế, tôi
thường xuyên tạo điều kiện cho các em có thể giao lưu với các bạn nhiều hơn thông
qua việc thảo luận trao đổi theo nhóm, hướng dẫn các em nói về những vấn đề đơn
giản hơn phù hợp với khả năng của các em.
Với những học sinh có khả năng giao tiếp tốt hơn, kĩ năng trình bày rõ ràng, trôi
chảy hơn tôi luôn động viên các em tìm hiểu thêm các nội dung mới, các tình huống
phức tạp hơn, kiến thức rộng hơn, đòi hỏi sáng tạo hơn…
Dựa vào mục tiêu cụ thể của từng bài học, tôi hướng dẫn các em theo các hình
thức khác nhau:
2.1. Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ nói:
Kỹ năng nói của học sinh được hình thành trước kỹ năng viết thông qua giao tiếp
tự nhiên. Trong giao tiếp hằng ngày kỹ năng nói của các em thường mộc mạc, nghĩ
quả. Năng lực viết chứng tỏ khả năng học tập của mỗi người. Ở học sinh kỹ năng viết
của mỗi học sinh không giống nhau, ở lớp 3 các em hầu như chưa được làm quen
nhiều về kỹ năng này, các em mới chỉ làm quen với các dạng câu đơn giản như: Điền
vào giấy tờ in sẵn; Viết đơn; Tập viết thư, bì thư ; Viết về cảnh đẹp đất nước ; Viết về
thành thị, nông thôn ; Viết về bảo vệ môi trường….. Do đó, tôi luôn chú trọng hướng
dẫn rèn luyện cách viết cho các em.
Ví dụ: Bài: Nói, viết về bảo vệ môi trường – SGK lớp3- Tập 2 (tuần 32) :
Bài tập: Viết một đoạn văn (7 – 10 câu) kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo
vệ môi trường.
Sau khi tổ chức cho học sinh thảo luận, nói về những việc đã làm để bảo vệ môi
trường. Tôi hướng dẫn các em ghi lại những lời vừa kể thành đoạn văn ngắn, yêu cầu :
+ Trình bày thành đoạn văn, đủ số lượng câu
+ Biết cách chấm câu, viết các câu theo mẫu đã học (Ai là gì ? Ai thế nào ?....)
+ Biết lựa chọn và dùng từ ngữ hợp lý (Khuyến khích sử dụng các phép so sánh, nhân
hóa)
+ Biết nêu lên được cảm tưởng của mình sau khi làm được một việc có ý nghĩa nhằm
góp phần bảo vệ môi trường.
2.3. Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ cơ thể:
Ngôn ngữ cơ thể là yếu tố quan trọng tác động nhiều đến người nghe trong giao
tiếp. Trong từng trường hợp cụ thể thì ngôn ngữ cơ thể như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ,
dáng đứng, điệu bộ, giọng điệu..giúp cho quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cao. Có thể
nói, ngôn ngữ cơ thể là công cụ hỗ trợ đắc lực cho giao tiếp hằng ngày mà bản thân ai
cũng có. Đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng, giao tiếp
bằng ngôn ngữ cơ thể còn hạn chế. Trong các giờ Tập làm văn (Nghe – kể; Nói) tôi
cũng thường xuyên lưu ý cho học sinh sử dụng ngôn ngữ cơ thể để trình bày nội dung
bài học hấp dẫn và sinh động hơn.
Ví dụ: Khi kể lại câu chuyện, trong quá trình kể tôi thường hướng dẫn các em thể
hiện các cử chỉ phù hợp; tùy thuộc vào từng nhân vật, từng nội dung câu chuyện mà
các em sử dụng giọng điệu kết hợp nét mặt, điệu bộ phù hợp: Kể về ngày đầu tới
tính, máy chiếu đa năng…cũng làm phong phú thêm nội dung các bài tập làm văn,
làm cho vấn đề học tập trở nên trực quan và sinh động hơn từ đó nội dung bài học trở
nên gần gũi hơn, học sinh thể hiện các kỹ năng giao tiếp tốt hơn.
5. Giáo án thực nghiệm:
Tập làm văn
NÓI – VIẾT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
I. Mục tiêu:
- Học sinh biết kể lại một việc tốt đã làm để bảo vệ môi trường dựa theo gợi ý (SGK)
- Học sinh viết được một đoạn văn ngắn ( từ 7 – 10 câu ) kể lại việc làm trên. Bài viết
hợp lí, diễn đạt rõ ràng.
- Kỹ năng sống được giáo dục:
+ Kỹ năng giao tiếp: Lắng nghe, cảm nhận, chia sẽ, bình luận, trình bày.
+ Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm.
- Giáo dục môi trường: Giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên xung
quanh.
II. Đồ dùng dạy - học:
- Tranh ảnh về một số việc làm bảo vệ môi trường.
9
- Bảng lớp ghi các câu hỏi gợi ý để học sinh kể
III. Các hoạt động dạy - học:
Hoạt động dạy
Hoạt động học
1. Kiểm tra bài cũ:
- Giáo viên gọi hai em lên bảng trình bày ý kiến - Hai học sinh lên bảng thực hiện.
của các bạn nói về một số việc làm bảo vệ môi
trường đã học ở tiết tập làm văn tuần 31.
- Yêu cầu học sinh theo dõi nhận xét đánh giá và kể hay và có nội dung đúng nhất .
bình chọn ra học sinh kể hay nhất .
- Hai em đọc yêu cầu đề bài tập 2 .
Bài tập 2 :- Yêu cầu hai em nêu đề bài .
- Thực hiện viết lại những điều mà
- Yêu cầu lớp thực hiện viết lại các ý vừa trao vừa kể ở trên về các biện pháp
đổi vào vở .
bảo vệ môi trường, đảm bảo đúng
- Giáo viên theo dõi giúp đỡ những học sinh yếu. các yêu cầu trình bày như giáo
viên đã lưu ý .
Lưu ý HS:
+ Kể lại những việc đã làm thực tế.
+ Viết đủ câu theo yêu cầu
+ Biết chấm câu đúng, dùng từ ngữ hợp lý
+ Nêu được cảm nghĩ của mình.
- Mời một số em đọc lại đoạn văn trước lớp
- Nhận xét và chấm điểm một số bài văn tốt
10
- HS nối tiếp nhau đọc lại đoạn
văn của mình trước lớp .
Kết luận: Bảo vệ môi trường thiên nhiên là việc - Lớp lắng nghe bình chọn bạn có
làm chung của mọi người, bằng những việc làm bài viết hay nhất .
cụ thể chúng ta hãy làm cho môi trường xung
quanh luôn trong sạch.
c) Củng cố - dặn dò:
-Yêu cầu học sinh nhắc lại nội dung
Học sinh ít tham gia
phát biểu xây dựng
bài
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
22
39,28%
25
44,64%
9
16,08%
2. Bài học kinh nghiệm, kiến nghị, đề xuất: