Các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 qua phân môn luyện từ và câu - Pdf 57

MỤC LỤC
Mục

Nội dung

I

Trang

3
PHẦN MỞ ĐẦU

1
2
3
4

Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

3-4
4
4
4

II
1
2


1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhà
nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ
bản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho học
sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa -hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt tiểu học là dạy cho học sinh
một công cụ để giao tiếp và học tập. Nhưng để sử dụng Tiếng việt như một công cụ
giao tiếp và học tập thì trước hết học sinh phải nắm được vốn từ Tiếng việt. Từ là
1


đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, nếu không làm chủ được vốn từ của một
ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó để học tập cũng như trong giao
tiếp. [1] Ngoài ra vốn từ ngữ của một người càng giàu bao nhiêu thì khả năng diễn
đạt của người đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, làm giàu vốn từ cho
học sinh là việc làm quan trọng và cần thiết.
Thật vậy, trong quá trình dạy học việc rèn luyện tư duy thích hợp được chú
trọng ở tất cả các môn học. Môn Tiếng việt ở bậc Tiểu học xác định là môn học
công cụ bởi mục tiêu quan trọng của nó. Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có nhiệm
vụ cung cấp cho học sinh vốn từ. Học sinh được lĩnh hội kiến thức thông qua một
hệ thống bài tập. Như vậy sách giáo khoa tạo điều kiện để giáo viên và học sinh
thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên
đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt
động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển.
Mặt khác, với học sinh tiểu học, vốn từ mà các em có được chủ yếu dựa trên
kinh nghiệm sống và cách hiểu tự nhiên còn nhiều hạn chế. Đa số các em chỉ mới
hiểu được một số nét nghĩa của từ hoặc chỉ nắm nghĩa một cách chung chung chứ
chưa đầy đủ và chính xác. Đặc biệt, khả năng vận dụng các từ đã học vào giao tiếp
và học tập còn nhiều hạn chế, học sinh còn gặp khó khăn và bị lúng túng trong việc

hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí
tuệ của các em. Trong Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu làm giàu vốn từ
cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là: Dạy kiểu bài “Làm giàu vốn từ” qua phân môn
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3A.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận:
- Phân tích tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa một số vấn đề lí luận có
liên quan đến dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3.
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Thông qua các bài dạy, tiết kiểm tra, chữa bài để tìm hiểu những sai sót của
học sinh. Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp, rút kinh nghiệm sau mỗi giờ dự để có
những biện pháp dạy học làm giàu vốn từ nhằm giúp học sinh nắm từ tốt hơn, sâu
sắc hơn, hệ thống hơn, vận dụng vào giao tiếp hiệu quả và văn hóa hơn. Góp phần
nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu.
3. Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê chất lượng.
4. Phương pháp luyện tập, thực hành, trò chơi.

II. NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đất nước ngày càng phát triển cần phải có những con người năng động, sáng
tạo, tự lực, tự cường. Nhu cầu này đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung
Chương trình bậc Tiểu học một cách phù hợp. [3]
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “Giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. [5]
3



lớp
30

Tìm từ
Được
Chưa được
SL
TL
SL
TL
17
56.7%
13
43.3%

Sử dụng từ
Được
Chưa được
SL
TL
SL
TL
16
53.3%
14
46.7%

Qua quá trình giảng dạy lớp 3, trong các tiết mở rộng vốn từ cũng như tiết
kiểm tra, tôi thấy học sinh còn nhiều hạn chế như:
4

II.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Giải pháp 1: Phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và tạo
môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ:
Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học dưới dự hướng dẫn
của giáo viên mà các thành viên trong nhóm thực hiện việc trao đổi, thảo luận, chất
vấn và chia sẻ lẫn nhau.
5


Quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rất ít giáo viên sử dụng phương pháp thảo
luận nhóm trong quá trình dạy học làm giàu vốn từ, đặc biệt là trong nhiệm vụ mở
rộng vốn từ cho học sinh. Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp
cá nhân làm việc độc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài tập mở rộng vốn từ.
Số lượng từ ngữ học sinh nắm được trong giờ học không cao và không bền vững.
Khi huy động vốn từ theo chủ đề, mỗi học sinh chỉ huy động được khoảng 1,2 từ,
nhiều nhất là 3,5 từ. Thậm chí có học sinh không huy động được một từ ngữ nào.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do giáo viên ít vận dụng
các phương pháp dạy học tích cực vào trong giờ học, không tạo được điều kiện để
học sinh có thể hoạt động nhiều hơn với từ, lặp đi lặp lại các thao tác với từ để có
thể nhớ từ một cách bền vững. Hơn nữa, khả năng giao tiếp của học sinh hiện nay
còn yếu, học sinh diễn đạt chưa rõ ràng, mạch lạc vì trong quá trình dạy học, học
sinh không được thao tác nhiều với từ. Vì thế, trong quá trình dạy học tôi đã sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp
cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
+ Cách thực hiện:
Để vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào trong bài tập đạt hiệu quả,
giáo viên phải thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị bài trước khi lên lớp..
- Giáo viên chuẩn bị kỹ bài dạy, nghiên cứu kỹ nhiệm vụ của bài dạy. Xác
định bài tập sẽ sử dụng phương pháp thảo luận nhóm.

………………………………………………………………………………………..
c. Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc của người lớn đối với trẻ em:
………………………………………………………………………………………..
Ví dụ2: Đối với bài tập 1, mở rộng vốn từ: Gia đình, Tuần 4 (TV3-Tập 1 –
Trang 33) Gv có thể sử dụng phiếu thảo luận sau:
PHIẾU THẢO LUẬN
Thảo luận nhóm 4, tìm các từ chỉ gộp những người thân trong gia đình:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Ví dụ3: Khi dạy bài 1, Tuần 15 (TV3-Tập 1- trang 126), mở rộng vốn từ: các
dân tộc, GV sử dụng phiếu thảo luận:
PHIẾU THẢO LUẬN
Thảo luận nhóm 4, nói cho bạn nghe và nghe bạn nói tên một số dân tộc
thiểu số ở nước ta mà em biết. Sau đó ghi lại vào chỗ chấm dưới đây:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Ví dụ4: Ở bài tập 1,2, mở rộng vốn từ: Thành thị- Nông thôn, tuần 16 (TV3Tập 1- trang 135), ta có thể hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm theo phiếu học tập
sau:
PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, tìm các từ:
a. Tìm từ thường thấy ở nông thôn:………………………………………….
b. Tìm từ thường thấy ở thành thị:…………………………………………...
c. Chỉ các công việc thường thấy ở nông thôn:………………………………
7


d. Chỉ các công việc thường thấy ở thành thị………………………………...
- Học sinh thảo luận nhóm:
Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo viên
quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhóm đều thảo

Trong quá trình giảng dạy tôi thường sử dụng trò chơi như sau:

8


a. Sử dụng phương pháp trò chơi trong học tập đối với các bài tập phân
loại, quản lý vốn từ và bài tập sử dụng từ:
Đối với nhiệm vụ phân loại, quản lý vốn từ, tôi thấy đa số các bài tập đều
cho trước một số lượng từ nhất định, nhiệm vụ của học sinh là dựa vào một tiêu chí
nào đó để xếp từ vào các nhóm.
Ví dụ 1: Dưới đây là một số từ có tiếng cộng hoặc tiếng đồng và nghĩa của
chúng. Em có thể xếp những từ nào vào mỗi ô trống trong bảng phân loại sau?
- Cộng đồng: Những người cùng sống trong một tập thể hoặc một khu vực,
gắn bó với nhau.
- Cộng tác: Cùng làm chung một việc.
- Đồng bào: người cùng một nòi giống.
- Đồng tâm: Cùng một lòng.
- Đồng hương: Người cùng quê.
Những người trong cộng đồng
……………………………………….
………………………………………

Thái độ, hoạt động trong cộng đồng
………………………………………...
………………………………………...
(Tiếng việt 3, tập 1, trang 65)

Ví dụ 2: Xếp những từ ngữ sau vào hai nhóm: cây đa, gắn bó, dòng sông,
con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, tự hào.
(Tiếng việt 3, tập 1, trang 89)

- Khi giáo viên có hiệu lệnh “Bắt đầu” lần lượt mỗi em của hai đội chạy lên
dán từ vào đúng nhóm theo tiêu chí phân loại. Khi dán xong, học sinh chạy xuống
chạm tay vào học sinh thứ hai thì học sinh thứ hai mới được chạy lên dán từ tiếp
theo vào bảng. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hai đội dán xong các từ, trò chơi
kết thúc. Đội nào dán đúng và nhanh đội đó sẽ giành chiến thắng.
Ưu điểm của trò chơi đối với loại bài tập phân loại quản lý vốn từ là kết quả
làm việc của học sinh sẽ tạo ra biểu tượng cụ thể (trên bảng lớp) cho học sinh so
sánh và ghi nhớ.
Ví dụ:
Từ chỉ sự vật ở quê hương
Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
Cây đa
gắn bó
Dòng sông
nhớ thương
Con đò
yêu quý
Mái đình
thương yêu
Ngọn núi
bùi ngùi
Phố phường
tự hào
Các từ theo một dấu hiệu được xếp thành một cột trên bảng để học sinh ghi
nhớ từ thuận lợi trong trí nhớ của mình. Khi sử dụng, học sinh có thể liên tưởng
nhanh đến từ trong trò chơi đã được chơi.
Khi học sinh chơi xong, giáo viên có thể kết hợp với các bài tập để học sinh
tìm hiểu nghĩa của từ, phân biệt sắc thái nghĩa của các từ cùng hệ thống để khi học
sinh sử dụng từ chính xác và tinh tế hơn.
10

ngữ của học sinh. Nếu giáo viên tổ chức tốt hai trò chơi thì ngoài tác dụng củng cố
tốt kiến thức của bài học, Trò chơi còn có tác dụng trở lại với bài học mới để ghi
nhớ kiến thức của bài học. Học sinh phải cố gắng để khi chơi tìm được nhiều từ
nhất. Từ đó, hiệu quả của giờ học được nâng cao, số lượng từ và chất lượng từ sau
mỗi bài học sẽ được chuyển biến rõ rệt.
c. Sử dụng phương pháp trò chơi ô chữ để củng cố và mở rộng thêm vốn từ.
11


Trò chơi học tập phần lớn được xem là một thủ thuật, biện pháp củng cố kiến
thức mà học sinh vừa học. Đồng thời giúp học sinh tìm hiểu những ô chữ liên quan
đến chủ điểm vừa học qua phần gợi ý giúp học sinh mở rộng thêm được vốn từ cho
mình.
Ví dụ 1:
CHỦ ĐIỂM MĂNG NON
Ô chữ: MĂNG NON
Dựa vào hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là
là một từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý: Các từ ở hàng ngang số 1,4,6 được ghi trong “5 điều Bác Hồ dạy”.
Nếu học sinh gặp khó khăn khi giải ô chữ, giáo viên có thể gợi ý bằng chữ cái.
1

M
2

Ă

3

N

H

12


2
3

I

4

V
5

6



U
I

Đáp án: Các hội được nhắc đến trong ô chữ lần lượt là: thả diều, hội vật, bơi
trải, đua voi, đua ngựa, hội lim.
Ưu điểm là loại trò chơi này là tạo điều kiện cho học sinh nói từ. Nói cách
khác, giúp học sinh hoạt động với nhiều từ hơn để ghi nhớ từ hiệu quả hơn nhằm
phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh.
Trò chơi rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không nên lạm
dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàm chán đối với học
sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ về điều kiện vật chất và cách thức

* Thi đua giữa các tổ về mọi mặt: nề nếp, ý thức, hiệu quả thảo luận….
- Hình thức khen thưởng đưa ra phải mang tính cụ thể, chủ yếu về mặt tinh
thần để khuyến khích học: ghi nhiều lời khen, hay một tràng vỗ tay…
- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên cần kịp thời khen những cá nhân tiêu biểu
xuất sắc và những cá nhân có tiến bộ vượt bậc trong tiết học. Từ đó học sinh cả lớp
có thể noi gương để phấn đấu, phấn đấu để được cô giáo khen và phấn đấu để
không bị kém bạn bè.
- Tuy nhiên, trong một tiết học, không phải mọi học sinh đều có tinh thần thi
đua để học tốt, vẫn có một số học sinh không chú ý vào bài học. Vì vậy, bên cạnh
việc sử dụng biện pháp khen thưởng, giáo viên vẫn phải sử dụng biện pháp nhắc
nhở đối với học sinh không chú ý xây dựng bài. Việc nhắc nhở phải nghiêm khắc
và công minh để các em nhận ra khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa để cùng tiến
bộ với các bạn.
Trong giờ mở rộng vốn từ nói riêng và tất cả các giờ học khác nói chung giáo
viên phải luôn tạo được không khí thi đua sôi nổi, hào hứng trong giờ học. Khi học
sinh đạt thành tích, giáo viên cần khen thưởng kịp thời để khuyến khích động viên
các em. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, giáo viên không được lạm dụng quá
nhiều gây nhàm chán đối với học sinh.
Giải pháp 4: Hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho
học sinh.
- Theo quan điểm của giáo dục học, là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội
tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp
của cơ sở giáo dục. Tự học có thể bằng cách đọc tài liệu, sách giáo khoa, nghe đài,
đọc báo, xem truyền hình, thăm bảo tàng, triển lãm… [5]
- Tự học gắn liền với tự ý thức và tự giáo dục. Ở học sinh Tiểu học, tự ý thức
và tự giáo dục của các em đang hình thành và phát triển. Do vậy, tự học của học
sinh tiểu học khác với tự học của học sinh các cấp trên về yêu cầu, mức độ, phạm
vi… Tự học của học sinh tiểu học chỉ giới hạn ở việc trẻ tự giác hoàn thành các
nhiệm vụ học tập được giao (làm các bài tập được giao, chuẩn bị để học bài
14

Khi học chủ điểm “Thành thị - Nông thôn”, sau khi mở rộng vốn từ theo chủ
điểm, học sinh cần vận dụng các từ đã học vào đặt câu nói về thành thị nơi mình
đang sống. Đồng thời tìm thêm nhiều từ mới nói về sự vật, công việc ở thành thị
cũng như nông thôn mà trên lớp giáo viên chưa đặt ra. Sau đó tập đặt câu hỏi với
các từ đó.
Khi làm bài: Đọc kỹ đề bài, làm bài ra giấy nháp, sửa chữa cho chính xác rồi
mới viết bài vào vở. Nếu gặp phải những từ chưa hiểu rõ nghĩa học sinh phải tự tra
từ điển hoặc hỏi người lớn để hiểu nghĩa.
15


Trong khi học bài, làm bài, học sinh phải tập thói quen cẩn thận, chắc chắn,
thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ được giao mà bố trí thời gian tự học hợp
lý. Trong buổi tự học, cần giành thời gian để ôn bài vừa học, làm các bài tập, chuẩn
bị cho bài ngày hôm sau.
* Tập cho học sinh thói quen dựa vào sức mình là chính.
Trong bất kỳ hình thức hoạt động nào, dù hoạt động độc lập hay thảo luận
nhóm, học sinh cũng đều phải có ý thức dựa vào bản thân mình là chính. Học sinh
phải tích cực suy nghĩ để tìm từ theo chủ đề, tìm ra dấu hiệu chung của các từ để
thực hiện nhiệm vụ phân loại và quản lý vốn từ…. Giáo viên chấn chỉnh ngay
những học sinh có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào các bạn khác trong lớp, không tích
cực học tập, suy nghĩ, thụ động đón nhận tri thức có sẵn.
* Đa dạng hóa các hình thức làm giàu vốn từ.
Hoạt động tự học làm giàu vốn từ của học sinh được tiến hành dưới nhiều
hình thức khác nhau như tự học cá nhân, tự học theo nhóm, tự học trên lớp, tự học
ở nhà…. Đối với đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3, khả năng ý thức của các em
đã dần dần được hình thành cho nên trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng tất cả
các hình thức tự học nêu trên. Ngoài ra tôi còn hướng dẫn cho từng cặp học sinh tự
học theo hình thức nhóm đôi. Xây dựng “Đôi bạn cùng tiến” thi đua giúp đỡ nhau
học tập trên lớp và ở nhà. Nhờ hình thức này, học sinh trao đổi với nhau về các vấn

hướng dẫn học sinh phương pháp tự làm giàu vốn từ.
4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC, BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG.

- Nhờ áp dụng nhiều biện pháp nên vốn từ của học sinh lớp 3A ngày càng
phong phú và bền vững, học sinh có thể huy động nhanh từ theo chủ đề khi giáo
viên yêu cầu hoặc khi làm bài kiểm tra.
- Học sinh thích làm bài tập hơn, hào hứng với trò chơi học tập, thảo luận
nhóm sôi nổi, tự mình khám phá ra từ mới, nắm nghĩa từ, sử dụng từ. Vận dụng các
biện pháp làm giàu vốn từ đã đề xuất làm cho lớp học sôi nổi hơn nhiều.
Kết quả thi cuối học kỳ II của lớp 3A (sử dụng biện pháp làm giàu vốn từ
cho học sinh) đạt được như sau:
Sĩ số
lớp
30

Tìm từ
Được
Chưa được
SL
TL
SL
TL
26
86.6%
4
13.4%

Sử dụng từ
Được

nhau, khắc sâu kiến thức bài giảng giúp mỗi học sinh đều hiểu và làm bài tập được
ngay tại lớp.
- Động viên khen thưởng kịp thời để gây hứng thú học tập cho học sinh.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận:
Sau khi áp dụng các biện pháp làm giàu vốn từ và đạt được một số kết quả
như trên, tôi thấy việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 sẽ giúp các em có kỹ
năng sử dụng từ để giao tiếp. Ngoài ra các em lựa chọn trong vốn từ của mình
những từ ngữ gợi tả, gợi cảm để viết những câu văn, đoạn văn sinh động.
Với giáo viên, họ đã có trong tay những giải pháp khi dạy dạng bài này và
không còn lúng túng khi giảng dạy cho học sinh. Cũng thông qua sáng kiến này mà
tổ chuyên môn ở trường chúng tôi đã có những buổi họp chuyên môn hữu ích, họ
không chỉ sôi nổi thảo luận khi dạy về phân môn Luyện từ và câu nói chung và
dạng bài mở rộng vốn từ nói riêng ở lớp 3 này mà họ còn mạnh dạn đề ra các biện
pháp dạy học phù hợp với các phân môn khác.
Tìm hiểu những biện pháp phù hợp với từng nội dung bài học là yêu cầu
không thể thiếu đối với mỗi giáo viên khi lên lớp. Với sáng kiến này tôi mong góp
một phần nhỏ bé vào trong kho tàng kinh nghiệm giảng dạy phân môn Luyện từ và
câu trong môn Tiếng việt lớp 3.

2. Kiến nghị:
Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để nâng cao
hiệu quả dạy học làm giàu vốn từ cho học sinh như: thảo luận nhóm, trò chơi học
tập và biện pháp thi đua khen thưởng.
- Giáo viên phải chú ý tự trau dồi vốn từ cho mình. Đọc tài liệu để có những
hiểu biết sâu sắc về các nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh ở tiểu học.
- Giáo viên phải chú ý hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho
học sinh.


5.Tập san giáo dục tiểu học số 6, số 7 năm 2016.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status