BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Môn tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nói chung ở nhà trường Tiểu
học nói riêng có một vị trí vô cùng quan trọng. Môn học này là cơ sở, là nền
tảng giúp học sinh có thể học tốt những môn khác. Tiếng Việt vừa là khoa
học vừa là công cụ, phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ
năng, kỹ xão và phát triển tư duy.Việc dạy học môn tiếng Việt ở trường Tiểu
học với tư cách là dạy tiếng mẹ đẻ luôn là vấn đề được quan tâm chú ý.
Chương trình tiếng Việt tiểu học mới chủ trương: “ Hình thành và phát triển
học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt( Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và
giao tiếp trong môi trường của lứa tuổi”. Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản
của môn tiếng Việt. Mục tiêu đó coi trọng tính thực hành, thực hành các kỹ
năng sử dụng tiếng Việt trong những môi trường giao tiếp cụ thể. Điều này
góp phần chỉ đạo việc biên soạn nội dung chương trình sách giáo khoa và
chi phối các nguyên tắc, phương pháp dạy học môn tiếng Việt nói chung và
môn tiếng Việt lớp 1 nói riêng.
Quan điểm giao tiếp, nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói
định ra nguyên tắc, phương hướng xây dựng chương trình môn tiếng Việt.
Mỗi phân môn, mỗi tiết học, mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích
phát triển của lời nói. Vấn đề phát triển lời nói cho học sinh không phải đến
bây giờ mới được đề cập đến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “ Tiếng nói là
thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải
giữ gìn nó làm cho nó ngày càng phát triển rộng khắp”. Cố thủ tướng Phạm
Văn Đồng cũng đã nói: “ Trường học có trách nhiệm lớn lao trong việc giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Phải làm cho thế hệ trẻ nói và viết tốt hơn
chúng ta”. Muốn thực hiện lời dạy đó trường Tiểu học cần có tổ chức,
phương pháp dạy học hợp lý và tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học
môn tiếng Việt, giúp học sinh sử dụng thành thạo tiếng Việt.
Đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục chương trình môn tiếng Việt mới
- Nâng cao chất lượng rèn kĩ năng nói cho học sinh.
- Đưa ra một số phương pháp giúp học sinh luyện nói được tốt hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu.
- Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học là rất cần
thiết bởi vì nó nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Song đề tài này chỉ
thưc hiện nghiên cứu trong phạm vi rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 qua
phân môn học vần.
4. Phươmg pháp nghiên cứu.
- Đọc các tài liệu, tập đọc, tài liệu dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu
học, các tạp chí giáo dục Tiểu học, chuyên san.
- Quan sát, tìm hiểu, phân tích.
B. NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận .
1.1. Cơ sở tâm lý của học sinh lớp 1.
Sự hình thành hoạt động học tập ở trẻ lớp 1: Đi học lớp 1 là một giai
đoạn mới trong cuộc đời của trẻ. Từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học
tập là hoạt động có ý thức: Như phải ngồi nghe giảng bài, phải học bài, cô
giáo kiểm tra bài…những thay đổi đó làm cho một số em trong giờ học vần
thường rụt rè, bỡ ngỡ chưa thích nghi được còn ham chơi, có tính tự do
trong giờ học, không tập trung vì thế đòi hỏi giáo viên ở lớp trong giai đoạn
học vần cần chú ý tạo nên động cơ học tập một cách nhẹ nhàng giúp các em
hứng thú với việc học vần, chú trọng tận dụng các trò chơi học tập.
Đặc điểm nhận thức của trẻ lớp 1: Các em chưa nhận biết được chính
xác các tri thức khi tri giác các đối tượng, khi học tiếng Việt lớp 1 hiện
tượng phổ biến là học sinh đọc được cả tiếng nhưng không rõ được các bộ
2
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
trọng trong chương trình bậc Tiểu học mà ở đây tức là học sinh lớp 1. Nó
chính là công cụ đầu tiên giúp trẻ có thể tham gia vào hoạt động học tập.
Thông qua quá trình mở rộng vốn từ nhằm phát triển vốn tiếng mẹ đẻ ở các
em. Tạo cho các em sự ham thích thơ văn. Đây là điều kiện chuẩn bị để học
sinh học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng
đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Học vần là
một phân môn của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học. Đây là phân môn
có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát
triển 4 kỹ năng đó. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà
3
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
trường phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt
viên gạch đầu tiên. Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - lớp đầu cấp - việc dạy
Học vần cho các em thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc, viết tốt
được ở lớp 1 thì khi học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những
yêu cầu cao hơn của môn tiếng Việt.
3. Thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng nói hiện nay ở học sinh lớp 1.
Hiện nay với sự phát triển ngày càng cao, đặc biệt là sự đổi mới đáng
đề cập đến đó là vấn đề đổi mới về chương trình và sách giáo khoa lớp 1, 2,
3, 4, 5. Thì vấn đề giáo dục phải ngày càng phát triển, đổi mới không ngừng.
Do vậy đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi để theo kịp sự
phát triển và đổi mới của xã hội. Phần nhiều giáo viên là những người ham
học hỏi, tích cực tìm ra phương pháp dạy học mới để đạt được kết quả cao
nhất. Song do điều kiện, do hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa tiếp
cận được hết phương pháp dạy học mới. Một số giáo viên còn trung thành và
có thói quen dạy theo phương pháp cũ. Khi tiếp cận với phương pháp dạy
Học sinh lớp 1 lần đầu tiên được đầu tiên được tiếp xúc với chữ cái,
học âm- vần luyện nói thành câu, đoạn do đó vốn từ của học sinh còn rất ít
khả năng diễn đạt còn hạn chế nên khi luyện nói thì đây cũng là một trở ngại
không nhỏ đối với các em.
Bên cạnh đó thì học sinh lớp 1 có thể nói môi trường hoạt động lứa
tuổi chỉ có thể tiếp xúc với gia đình, nhà truờng( chủ yếu là lớp học), tiếp
xúc với môi trường xã hội còn rất ít. Thêm nửa học sinh lớp 1 chưa đi xa
nhiều, khả năng nhìn nhận quan sát sự vật, sự việc xung quanh còn rất hạn
chế vì thế vốn sống ít nên khi luyện nói cũng gặp khó khăn.
4.1.2. Do tâm lý rụt rè, e ngại.
Như đã nói học sinh lớp 1 khả năng giao tiếp, giao lưu trò chuyện với
mọi người xung quanh còn rất là ít do đó học sinh thường hay e ngại, rụt rè.
Mặt khác do tâm lý sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười nên học
sinh cũng rất ít thể hiện mình, rất ít nói thậm chí tới giờ luyện nói các em
không mở miệng.
4.2. Do đề tài hội thoại.
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 đã xây dựng những đề tài hội thoại
phong phú, đa dạng để học sinh luyện nói. Tuy nhiên những tình huống hội
thoại được SGK xây dựng cũng đem lại không ít khó khăn cho học sinh lớp
1. Những đề tài hội thoại quá khó vượt ra ngoài vốn hiểu biết của học sinh
và đặt biệt là học sinh lớp 1, khả năng nói còn hạn chế. Trong những đề tài
này có thể kể đến những đề tài sau:
- Không có gợi ý:
+ Nói về quyển vở của các em(tr 77)
+ Nói về ngôi nhà mơ ước của em (tr. 83)
+ Kể về người bạn tốt của em(tr. 107)…
Học sinh lớp 1 khả năng nói còn hạn chế, mới lúc đầu tập nói nhiều
câu, liên kết thành đoạn ngắn là điều khó khăn do đó nên có những đoạn gợi
ý mà học sinh dựa vào đó mà nói, từ đó học sinh có thể sáng tạo ra những
câu, đoạn mới.
Trải qua hàng ngàn năm tiến hoá của loài người ngôn ngữ - tiếng nói
sơ khai là trao đổi thông tin đã đóng vai trò biểu hiện tình cảm, trạng thái
tâm lý và là một yếu tố quan trọng để biểu lộ văn hoá, tính cách con người.
Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp thời xưa đã được ông cha ta rất coi
trọng.
“ Học ăn học nói học gói học mở”
“ Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Để đánh giá một con người chúng ta cũng phải có sự thử thách qua
giao tiếp hằng ngày với họ:
“ Chim khôn thứ tiếng, người khôn thứ lời”
Mặt khác việc ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về
nhiều lĩnh vực:
“ Khéo bán khéo mua cũng thua người khéo nói”
Với trẻ em lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em
còn rất nhỏ chúng ta đã rất chú trọng:
“ Trẻ lên ba cả nhà học nói”
Ngành giáo dục và đào tạo nói chung và ngành giáo dục Tiểu học nói
riêng đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục trẻ em
ngay từ những ngày đầu bước chân tới trường, từ bao đời nay việc giáo dục
ở nhà trường đã áp dụng phương châm “ Tiên học lễ, hậu học văn”.
Dạy tiếng Việt không có nghĩa là dạy các em kỹ năng đọc, viết, nghe
mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một
mảng vô cùng quan trọng và gian nan đòi hỏi người giáo viên phải tận tâm
6
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
trọng tâm là luyện nói trong hệ thống bài học như sau:
5.3.1. Với các bài làm quen với âm và chữ:
Trong giai đoạn này kỹ năng nói được bắt đầu luyện trong tất cả các
giờ học nhưng tập trung nhất vào phần “ Luyện nói” của bài. Phần luyện nói
được thực hiện theo tranh tương đối tự do theo chủ đề của tranh, không gò
bó trong các âm và thanh vừa học. Giáo viên có thể định hướng bằng các câu
hỏi hướng dẫn học sinh nói qua các câu trả lời đơn giản về nội dung gần gũi
với các em. Mục tiêu của phần luyện nói trong giai đoạn này là giúp học
sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè nhút nhát mạnh dạn
hơn để nói cho các bạn nghe và nghe các bạn nói theo hướng dẫn của giáo
7
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
viên trong môi trường giao tiếp mới - giao tiếp văn hoá giao tiếp trong nhà
trường.
Trong các bài về dấu thanh học sinh sẽ được luyện nói theo chủ đề “
Đấu tranh”. Đây là một trong những bài luyện nói đầu tiên giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh nói theo chủ đề của tranh không chỉ gò bó trong các
tranh thể hiện (tiếng) có dấu vừa học. Giáo viên có thể gợi ý định hướng cho
học sinh bằng các câu hỏi. Tuỳ theo trình độ của học sinh mà ra câu hỏi
nhiều hay ít, dễ hay khó.
Ví dụ: Trong bài luyện về dấu hỏi:
Yêu cầu học sinh quan sát các bức tranh:
- Bức tranh vẽ gì?
Giáo viên có thể chia nhỏ hỏi từng tranh
- Bác nông dân đang làm gì? ( Bác nông dân đang bẻ ngô)
- Bạn gái đang làm gì?( Bạn gái đang bẻ bánh đa cho bạn)
- Mẹ đang làm gì cho bé( mẹ đang bẻ cổ áo cho bé)
thức kể chuyện theo tranh. Phần này giúp cho nội dung học tập thêm phong
phú, sinh động hấp dẫn. Tên truyện cũng gắn với các âm vần đã học.
Trong phần này giáo viên kể cho học sinh nghe là chủ yếu. Học sinh
được quan sát tranh trong sách giáo khoa và nghe cô giáo kể. Giờ kể chuyện
là giờ thực hành nói của học sinh. Sau khi nghe giáo viên kể chuyện học
sinh nhớ được nội dung chính của câu chuyện kể lại câu chuyện một cách
tóm tắt.
Phân môn kể chuyện còn giúp cho giáo viên có thể rèn cho học sinh kĩ
năng nói thành bài. Nó cũng giúp học sinh nói được những câu liên kết với
nhau tạo thành bài. Khi học sinh kể chuyện học sinh sẽ thể hiện kỹ năng nói
của mình, với những học sinh có kỹ năng nói tốt, giáo viên cần phát huy
khuyến khích các em kể toàn bộ câu chuyện (ở cuối tiết). Giáo viên nên khai
thác tranh minh họa bằng các câu hỏi gợi ý từ đó giúp học sinh yếu nhớ
được câu chuyện kể lại được từng đoạn, khơi gợi trí tưởng tượng, sự sáng
tạo của các em. Giáo viên nên tạo điều kiện để học sinh ở các trình độ khác
nhau ít nhiều được thực hành kể nói về nội dung câu chuyện. giáo viên cho
học sinh cùng tham gia kể trong hoạt động nhóm: Như kể chuyện tiếp sức,
kể chuyện phân vai… giáo viên nên thay đổi hình thức để tạo sự hấp dẫn cho
các em. Giáo viên nên khuyến khích cho học sinh có thể thêm từ, thay các từ
khác nhưng không làm thay đổi nội dung câu chuyện
Ví dụ: Kể chuyện rùa và thỏ (sách tiếng Việt tập 2/54)
Giáo viên có thể hướng dẫn dựa vào tranh minh họa và các câu hỏi
gợi ý để kể lại được từng đoạn theo tranh.
Tranh 1: Rùa đang làm gì? Thỏ nói gì với rùa?
Tranh 2: Rùa trả lời ra sao?
Tranh 3: Thỏ làm gì khi rùa cố sức chạy?
Tranh 4: Cuối cùng ai thắng cuộc?
Với bài này giáo viên có thể cho học sinh phân vai theo nhóm. Cuối
cùng cho một học sinh khá kể toàn bộ câu chuyện. Giáo viên nên hướng
giọng kể cho phù hợp với lời nói của các nhân vật trong truyện.
Để giúp học sinh lớp 1 rèn luyện kĩ năng nói và phát triển khả năng
diễn đạt ý phong phú:
6.1. Điều trước tiên, chúng ta phải xác định và nắm rõ mục tiêu
chính của chủ đề cần luyện nói là gì?
Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói. Gợi ý sao để tất
cả học sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề.
Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Giúp đỡ cha mẹ” ,“Con
ngoan trò giỏi” “Những người bạn tốt”… Nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ
lẫn sang dạy đạo đức.Vì thế, để khắc phục điều này, chúng ta chỉ định hướng
cho các em câu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói: Em
chỉ kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm ơn ai
đó về điều gì? Hoặc kể những việc em đã làm để giúp đỡ cha mẹ của mình ?
Kể những việc đã làm thể hiện em đã cố gắng để trở thành một người con
ngoan trong gia đình, một người trò giỏi của trường học?...Hoặc những chủ
đề về “Biển cả”, “Thung lũng, suối, đèo”, “Hươu, Nai, Gấu,Voi, Cọp” “Sẻ,
ri, bói cá, le le” “Gió, mây, mưa, bão, lũ”…lẫn sang việc dạy tự nhiên xã
hội. Do đó, chúng ta nên cố gắng giúp học sinh bằng cách gợi ý những câu
hỏi thật sát với chủ đề không sa đà tìm hiểu về đời sống của các động vật, sự
vật, hiện tượng,…Chẳng hạn những chủ đề về các sự vật, hiện tượng xảy ra
trong thiên nhiên.
Cho học sinh xem 1 số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng đó, học
sinh sẽ nêu được tên của các sự vật trên. Sau đó, giáo viên chỉ cần nêu câu
hỏi gợi ý để các em cùng thảo luận với nhau về những tác hại, hoặc những
cách nào để ngăn chặn, bảo vệ khi chúng xảy ra.
10
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Những chủ đề nói về động vật : Giáo viên có thể cho các em sắm vai
thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ của mình.
Với những chủ đề lạ, khó hơn: Chủ đề: Vó bè; Suối đèo thung lũng; Lễ hội;
Ao, hồ, giếng; Đất nước ta tuyệt đẹp; Ba Vì; Ruộng bậc thang…
- Chủ đề Vó bè : Cho học sinh quan sát tranh thật kỹ, giáo viên giới
thiệu trực tiếp đó chính là vó bè. Gợi ý để các em nói được dụng cụ đó được
đặt ở đâu? Dùng để làm gì ?
- Chủ đề Ba Vì : Sau khi học sinh quan sát tranh xong, giáo viên giới
thiệu trực tiếp: Tranh vẽ cảnh ở Ba Vì. Gợi ý cho các em nêu lên những cảnh
11
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
vật có trong bức tranh đó? Cảm nhận về cảnh vật ở đó như thế nào?( Thích
hay không thích? Tại sao thích?)
6.4. Phương tiện dạy học:
Hình ảnh trong SGK là chủ yếu. Tận dụng những vật thật, tranh ảnh
có sẵn trong thực tế để làm phương tiện giảng dạy. Sưu tầm thêm 1 số tranh
ảnh, mẫu vật.
6.5. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy:
Do tình hình học sinh chiếm 1 nửa chưa qua mẫu giáo, rất thụ động ít
phát biểu. Hoặc phát biểu thì chỉ dừng lại ở chỗ trả lời những câu hỏi cô đưa
ra. Do vậy, để giúp cho các em làm quen và phát triển khả năng nói, chúg ta
nên:
- Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại:
Bước đầu chỉ dừng lại ở việc: “Thầy hỏi – trò đáp”. Dựa trên lời nói
của học sinh, giáo viên sẽ chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý, diễn đạt ý
theo nội dung câu hỏi xoay quanh chủ đề.
- Sử dụng tranh ảnh, đồ dùng trực quan:
dạn, tự tin, tích cực tham gia trong quá trình luyện nói.
Chẳng hạn như chủ đề: Nặn đồ chơi; Áo choàng, áo len, áo sơ mi; Ghế đẩu,
ghế xoay, ghế tựa; Phim hoạt hình; Đọc truyện tranh… học sinh sẽ được
tham gia chơi nặn hình bằng đất, tô màu, vẽ tranh, hay chọn các loại áo thích
hợp với thời tiết…
- Tổ chức luyện nói theo hình thức cá nhân, nhóm đôi, nhóm sáu, tổ,
lớp…Học sinh sẽ tự nói cho nhau nghe cùng trao đổi những nhận biết và bày
tỏ cảm xúc của mình về nội dung chủ đề.
- Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng:
Trong tiết dạy, chúng ta nên chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, đặt
những câu hỏi dễ động viên các em cùng tham gia nói. Đối với những em
khá giỏi chúng ta sẽ khuyến khích, gợi mở bằng những câu hỏi khái quát
hơn để giúp các em tự tin, mạnh dạn trình bày ý kiến, cảm xúc của mình 1
cách chân thành.
Tạo không khí lớp học thân thiện, cởi mở, động viên khen thưởng kịp
thời nhằm kích thích sự hứng thú, ham học hỏi nơi các em.
Trọng tâm khi dạy luyện nói cho học sinh , chúng ta nên chú ý rèn kỹ
năng nói to, rõ tiếng; nói thành câu, thành đoạn hoàn chỉnh, hay, giàu cảm
xúc. Với một ngữ điệu tự nhiên, chân thành.
7. Một số lỗi sai học sinh thường mắc phải khi nói mà giáo viên cần sửa.
- Trong câu của học sinh có từ sai.
Ví dụ: Trong bài 49 chủ đề luyện nói là “ biển cả” học sinh thường sai
khi nói “ Tàu đánh cá bay trên biển” Từ sai trong câu trên là “ Bay” với
trường hợp này học sinh nên gọi học sinh khác nhận xét lỗi sai của bạn và
cho học sinh nói sai sửa lại câu nói câu nói của mình. Trong câu này từ sai
có thể được thay bằng từ “Chạy” hoặc “ Lướt”.
- Câu nói của học sinh không đúng với chủ đề của đề bài.
- Phần nói của học sinh mới chỉ là một từ hoặc một cụm từ.
- Trong phần ôn vần học sinh cùng được luyện nói khi nói câu có vần
vừa ôn, với một số vần có vần giống nhau về cách phát âm nhưng khác nhau
tiếp mạnh dạn tự tin, văn minh lịch sự thể hiện tác phong tư cách đạo đức
của người có văn hoá. Do đó sự phối kết hợp ăn ý nhịp nhàng giữa nhà
trường và gia đình là vô cùng qua trọng và cần thiết.
- Đối với giáo viên: Cần dành nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu
giảng dạy tăng cường hiệu quả của các giờ sinh hoạt chuyên môn để đưa ra
những bài giảng sinh động hấp dẫn. Ngôn ngữ của giáo viên phải chuẩn mực
chính xác trong sáng
- Đối với gia đình: Từ khi trẻ bập bẹ biết nói những người lớn tuổi
trong gia đình cần phải luôn lưu tâm uốn nắn lời ăn tiếng nói cho con em
mình. Các cụ đã dạy “ uốn cây từ thuở còn non” Không những thế nguời lớn
còn là tấm gương cho trẻ noi theo.
C.KẾT LUẬN:
Trong mục giáo dục Tiểu học có đưa phần mục tiêu rèn luyện nhân
cách lên hàng đầu:
“ Rèn luyện cái tâm bao gồm:
- Xây dựng ở học sinh lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh
chị em.
- Kính trọng thầy cô giáo lễ phép với người lớn tuổi.
- Giúp đỡ bạn bè và các em nhỏ...”
Như vậy mục tiêu giáo dục Tiểu học còn là xoá nạn mù chữ, dạy học
sinh nghe nói đọc viết biết tính toán, có kiến thức cơ bản về tự nhiên- xã hội
mà còn chú trọng rèn nhân cách con người là chính. Nhưng lòng hiếu thảo
14
BÀI TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
sự kính trọng ông bà cha mẹ thầy cô và người lớn tuổi phải được thực hiện
bằng nhiều hình thức khác nhau, từ lời nói thái độ cử chỉ và việc làm. Điều
này khẳng định vai trò to lớn của những lời nói biểu cảm của học sinh trong